Danh Sách Của Schindler

CHƯƠNG 26

CHƯƠNG 26

CHƯƠNG 26 Raimund Titsch cũng đang phải chung chi, dưới một hình thức khác. Titsch là một tín đồ Công giáo người Áo trầm lặng, tác phong thư lại, một chân bị tật. Có người nói ông bị thương trong Thế chiến I, người lại bảo hồi nhỏ ông bị tai nạn. Ông hơn cả Amon lẫn Oskar mười tuổi. Ở Płaszów, ông quản lý nhà máy quân phục với ba nghìn thợ may và thợ cơ khí của Julius Madritsch. Một cách chung chi của ông là bằng những cuộc cờ với Amon Goeth. Tòa nhà quản trị có điện thoại nối trực tiếp đến văn phòng Madritsch, và Amon hay triệu Titsch lên phòng gã chơi cờ. Lần đầu Raimund chơi với Amon, ván cờ kết thúc sau nửa tiếng và phần thắng không thuộc về viên Hauptsturmführer. Titsch, tiếng “Chiếu tướng!” khá kiềm chế và không mấy phấn khích còn chưa dứt trên môi, bất ngờ trước cơn thịnh nộ của Amon. Viên Commandant giằng áo khoác và bao súng, cài khuy áo, thắt thắt lưng, chụp mũ lên đầu, hầm hầm bỏ đi. Ngỡ ngàng, Titsch đoán Amon sẽ xuống đường sắt tìm một tù nhân để trừng phạt cho hả giận vì thất bại vặt trên bàn cờ trước ông, Raimund Titsch. Từ đây, Titsch có chiến thuật mới. Giờ đây ông có thể dằng dai tới ba tiếng trước khi thua. Khi nhân viên tại khu nhà hành chính thấy Titsch tập tễnh đi lên phố Jerozolimska làm nhiệm vụ hầu cờ, họ biết chiều nay nhờ thế sẽ yên lành hơn. Một cảm giác an toàn nhỏ nhoi lan truyền từ đây xuống các công xưởng, thậm chí đến những người đẩy xe goòng khốn khổ. Nhưng Raimund Titsch không chỉ triển khai nước cờ ngăn chặn. Độc lập với bác sĩ Sedlacek và người bạn cầm máy ảnh được Oskar đưa đến Płaszów, Titsch bắt đầu chụp ảnh. Có khi từ cửa sổ văn phòng, có khi từ góc xưởng, ông chụp hình tù nhân mặc đồng phục sọc đang đẩy xe goòng, cảnh phân phối bánh mì và xúp,

cảnh đào cống và móng nhà. Trong số ảnh Titsch chụp, có thể có cả cảnh giao bánh mì trái phép đến xưởng của Madritsch. Chắc chắn chính Raimund đã mua từng ổ bánh mì tròn, với sự đồng tình và tiền của Madritsch, rồi chuyển đến Płaszów bằng xe tải, giấu dưới đám giẻ rách và những súc vải. Titsch chụp lại cảnh từng ổ bánh mì hắc mạch được vội vã chuyền tay mang vào kho của Madritsch, ở mặt kia của tòa nhà, nơi các tháp canh không quan sát thấy và được xưởng văn phòng phẩm che khuất khỏi đường lớn. Ông chụp ảnh lính SS và Ukraine đi đều, giải trí, làm việc. Ông ghi lại cảnh một hiệp thợ lao động dưới sự giám sát của kỹ sư Karp, người sẽ sớm trở thành nạn nhân của lũ chó sát thủ, đùi bị xé toang, cơ quan sinh dục bị cắn đứt. Ở một bức toàn cảnh của Płaszów, ông khắc họa quy mô của khu trại và vẻ tiêu điều của nó. Xem ra ông còn chụp cận cảnh viên Commandant ngồi nghỉ trên ghế võng trên ban công phơi nắng của gã, một Amon lực lưỡng sắp chạm mốc 120 kg, khiến Blancke, bác sĩ SS mới đến, phải bảo, “Đủ rồi, Amon, anh phải giảm cân đi.” Titsch chụp Rolf và Ralf chạy rông và sưởi nắng, còn Majola ôm cổ một trong hai con chó và làm ra vẻ thích thú. Ông chụp cả Amon oai vệ trên con bạch mã cao lớn của gã. Titsch chụp nhưng không rửa ảnh. Với mục đích lưu trữ, phim an toàn hơn, và dễ vận chuyển hơn. Ông giấu chúng trong két sắt tại căn hộ ở Cracow. Ở đó ông cũng giữ hộ công nhân của Madritsch những của nả còn sót lại. Ở Płaszów không thiếu những người có một bảo vật sau cùng; dùng để hối lộ - vào thời điểm hiểm nghèo nhất - cho kẻ nắm danh sách, kẻ giữ cửa toa chở gia súc, Titsch biết rõ, chỉ những người cùng khổ mới gửi gắm cho ông. Thiểu số còn giấu được nhẫn và đồng hồ và trang sức đâu đó trong Płaszów không cần tới ông. Họ giao dịch thường xuyên để đổi lấy ân huệ và tiện nghi. Nhưng cùng chung chỗ giấu với chỗ phim của Titsch là chút tài sản cuối cùng của một tá gia đình - cây trâm của bà Yanka, chiếc đồng hồ của bác Mordche.

Thật ra, khi bộ máy ở Płaszów sụp đổ, khi Scherner và Czurda đã bỏ trốn, khi kho hồ sơ không tì vết của Văn phòng Kinh tế và Hành chính SS đã được chất lên xe tải chở đi làm chứng cứ, Titsch không cần rửa ảnh nữa, và có mọi lý do để không làm vậy. Trong hồ sơ của ODESSA, tổ chức bí mật thời hậu chiến của những cựu thành viên SS, ông bị liệt vào diện phản bội. Đấy là bởi ông đã cung cấp cho lao động của Madritsch 30.000 ổ bánh mì, một lượng đáng kể gà và bơ; do lòng nhân ái này mà ông đã được Chính phủ Israel vinh danh, và tin này đã xuất hiện ít nhiều trên báo chí. Ông bị đe dọa và dè bỉu trên đường phố Vienna “đồ bợ đít Do Thái”. Bởi vậy những cuốn phim về Płaszów sẽ ngủ yên hai mươi năm trong lòng đất ở một công viên nhỏ ngoài ngoại ô Vienna, nơi ông chôn giấu chúng, lớp tráng bạc cứ khô dần trên những bức hình âm bản, bí mật của Majola người tình của Amon, cặp chó sát thủ, và những lao động khổ sai vô danh của gã. Thành thử, có thể coi đây là thắng lợi của cư dân Płaszów khi, vào tháng Mười một năm 1963, một người sống sót của Schindler (Leopold Pfefferberg) đã bí mật mua lại chiếc hộp với giá năm trăm đô la từ Raimund Titsch - khi đó đang bị bệnh tim giai đoạn cuối. Kể cả lúc đó, Raimund cũng không muốn rửa những tấm ảnh ấy trước khi ông chết. Bóng ma vô danh của ODESSA với ông còn đáng sợ hơn những cái tên thời Płaszów: Amon Goeth, Scherner, Auschwitz. Sau khi ông mất, lô phim mới được rửa. Gần như tất cả bộ ảnh được công khai. * Trong số ít ỏi những tù nhân sống sót qua thời Amon và Płaszów, chẳng hề có lời cáo buộc nào đối với Raimund Titsch. Nhưng ông chưa bao giờ là người khơi dậy những truyền kỳ. Oskar thì có. Từ cuối 1943, trong dân gian đã lưu truyền, với sự hưng phấn của một truyền kỳ, một câu chuyện về Schindler. Điều đáng nói về một truyền kỳ không nằm ở chỗ nó có thật không,

hay có nên là thật không, mà là việc nó chẳng hiểu vì sao lại còn thật hơn sự thật. Qua những câu chuyện này, người ta hiểu rằng với cư dân Płaszów, Titsch có thể là một ẩn sĩ đức độ, nhưng Oskar mới là đấng á thần cứu rỗi, có hai mặt - đúng kiểu Hy Lạp - như mọi tiểu thần khác: có mọi tật xấu của phàm nhân; nghìn mắt nghìn tay; âm thầm mà quyền lực; có năng lực mang lại sự cứu rỗi an toàn và miễn phí. Một chuyện liên quan đến thời kỳ các trùm cảnh sát SS chịu sức ép phải đóng cửa Płaszów, do hiệu quả của nó với tư cách một tổ hợp công nghiệp không được Tổng cục Quân giới đánh giá cao. Helen Hirsch, hầu gái của Goeth, vẫn hay gặp các sĩ quan, khách đến ăn tối, lang thang ngoài hành lang hoặc dưới bếp để lánh mặt Amon một chốc và để lắc đầu ngao ngán. Một sĩ quan SS tên là Tibritsch xuất hiện dưới bếp và bảo Helen, “Hắn có biết có những người đang phải hy sinh tính mạng không?” Dĩ nhiên anh ta ám chỉ Mặt trận phía Đông, chứ không phải là ngoài kia, trong bóng tối ở Płaszów. Các sĩ quan có đời sống ít vương giả hơn Amon phẫn nộ và có lẽ nguy hiểm hơn là ghen tị, trước những gì họ thấy ở tư dinh của gã. Người ta đồn rằng một tối Chủ nhật nọ, tướng Julius Schindler đích thân tới thăm Płaszów, để xác định sự tồn tại của nơi này có giá trị gì với công cuộc chiến tranh không. Đó là một giờ kỳ quái để một quan chức cấp cao như vậy đi thăm nhà máy, nhưng có lẽ Tổng cục Quân giới, trước mùa đông khắc nghiệt sắp buông xuống Mặt trận phía Đông, đang phải làm việc ngoài giờ. Cuộc thị sát được mở đầu bằng bữa tối ở Emalia, nơi vang và cognac chảy tràn, bởi Oskar cũng như Bacchus được xem là hậu duệ của tửu thần Dionysus. Do bữa dạ tiệc, đoàn thị sát lên xe đến Płaszów trong một trạng thái tâm lý không được khách quan nghề nghiệp cho lắm. Khi khẳng định như vậy, câu chuyện đã bỏ qua một thực tế rằng Schindler lẫn tùy tùng đều là chuyên gia hoặc kỹ sư, với gần bốn

năm kinh nghiệm làm việc khách quan. Song Oskar sẽ là người cuối cùng kinh ngạc vì thực tế ấy. Đoàn thị sát bắt đầu từ nhà máy may của Madritsch. Đây là cơ sở “trưng bày” của Płaszów. Trong năm 1943, nó cung cấp quân phục cho Wehrmacht với tốc độ hơn hai mươi ngàn bộ một tháng. Nhưng câu hỏi là liệu Herr Madritsch có thể làm tốt hơn nếu vứt bỏ Płaszów và tập trung mở rộng sản xuất tại các nhà máy Ba Lan có hiệu suất cao hơn, trang bị tốt hơn ở Podgórze và Tarnow không? Tình trạng xập xệ của Płaszów không thể khuyến khích Madritsch hay bất cứ nhà đầu tư nào lắp đặt hệ thống máy móc cần thiết cho một nhà máy hiện đại. Đoàn thanh tra vừa bắt đầu cuộc thị sát thì đèn đóm trong nhà xưởng tắt phụt, do bạn bè Itzhak Stern đã cắt cầu dao ở trạm điện. Vốn đã bất lợi vì cơm no rượu say do Oskar bố trí, các quan chức Tổng cục Quân giới nay lại thêm hạn chế về ánh sáng. Cuộc thị sát tiếp tục dưới ánh đèn pin, trong khi máy móc nằm im bất động, và do vậy ít kích thích bản tính nghề nghiệp của đoàn thanh tra hơn. Khi tướng Schindler nheo mắt dưới ánh đèn pin nhìn dãy máy ép và tiện ở xưởng cơ khí, ba mươi ngàn cư dân Płaszów thấp thỏm trên giường tầng chờ xem ông ta nói gì. Mặc dù tuyến Ostbahn đang quá tải, họ biết công nghệ hiện đại của Auschwitz chỉ cách họ một chặng đường vài tiếng về phía Tây. Họ biết mình không thể chờ đợi lòng nhân từ từ tướng Schindler. Chuyên môn của ông ta là sản xuất. Với ông ta, sản xuất là giá trị tối thượng. Người ta kể rằng, nhờ bữa tối của Schindler và sự cố mất điện, cư dân Płaszów đã thoát nạn. Nói vậy kể cũng hơi ngoa, vì trên thực tế chỉ có một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 71

Đang tải bình luận...