Đặt Cược Vào Nhân Viên - Tiền Vào Trong Tay Bạn

9BÍ MẬT NHỎ CỦA QUYỀN SỞ HỮU

9BÍ MẬT NHỎ CỦA QUYỀN SỞ HỮU

9

BÍ MẬT NHỎ CỦA QUYỀN SỞ HỮUT

ôi không nhớ chính xác thời gian và địa điểm của sự việc, nhưng nó xảy ra vào khoảng thời gian khi McCoy quyết định ra đi. Lúc ấy, chúng tôi đang ở trong một cuộc họp quan trọng thảo luận về những vấn đề lớn mà chúng tôi đang phải đối mặt.

Có một vài vấn đề chúng tôi thường đề cập đến – dịch vụ khách hàng, chất lượng và nhiều thứ khác tương tự - nhưng chúng tôi cũng dành một khoảng thời gian hợp lý để nói về giá trị vốn chủ sở hữu và tình hình tăng giảm của nó, chủ đề này luôn luôn gay cấn và thu hút sự chú ý của mọi người trong công ty. Giá của một cổ phiếu đã tăng từ 10 xu lên 8,46 đô-la và đang có đà rất tốt để tiến tới mốc 15,60 đô-la. Một cổ phần ESOP giờ có giá trị 23.000 đô-la, đủ để bất cứ ai cũng phải để tâm. Vốn chủ sở hữu bỗng nhiên tăng vọt – vậy nó là cái gì, có được từ đâu, làm thế nào để nó tiếp tục tăng lên nữa và chủ sở hữu của nó sẽ nhận được những gì khi họ rời khỏi công ty.

Tôi có thể thấy là mọi người nắm bắt rất nhanh, và tôi ngờ là vụ dàn xếp với McCoy đã thúc đẩy quá trình tìm hiểu của họ. Họ được tận mắt chứng kiến một người đã đóng góp 17.000 đô-la lúc ban đầu và sau hai năm rưỡi anh ta ra đi với 660.000 đô-la. Con số to lớn ấy chúng tôi chưa từng được nhìn thấy trong đời, thậm chí chưa bao giờ dám mơ ước có được nó.

Suy cho cùng đó là quy luật thông thường. Người ta không thực sự hiểu vấn đề của sự sở hữu cho đến khi phần vốn mà họ có đã đủ lớn để tạo nên sự khác biệt trong mức sống của họ. Cho tới trước khi điều đó xảy ra thì quyền sở hữu vẫn cứ là một khái niệm trừu tượng. Trước đó, nó nghe có vẻ là cái gì đó hay ho, nhưng mọi người không thực sự tin tưởng rằng nó có thể tạo ra những thay đổi trong cuộc đời họ. Mọi người vẫn hiểu kinh doanh là gì thông qua Trò Chơi Lớn nhưng chỉ đến khi mọi người có được một phần vốn chủ sở hữu với giá trị đáng kể thì họ mới thực sự hiểu quyền sở hữu là thế nào. Đến lúc đó họ sẽ tiếp thu mọi thứ rất nhanh.

Quay trở lại câu chuyện, tôi đang nói về tiền và đưa ra những giải thích như thường lệ. Khi cố làm rõ về các dòng tiền, tôi đã nói rằng chỉ có bảy cái giỏ mà tiền có thể được rút ra (hay đặt vào) đó là: hàng tồn kho, các khoản phải thu, tài sản cố định, quỹ lương, các khoản dành để trả nợ, mua lại cổ phần và để trả thuế. Có thể tôi đã nói gì đó kiểu như tiền mặt đọng lại trong các lõi máy và dây nối.

Một nhân viên sau khi nghe tôi nói đã giơ tay tỏ ý muốn phát biểu. Anh ta nói anh ta rất vui vì có cổ phần trong ESOP, và đặc biệt là khi nhìn thấy giá trị của nó tăng lên nhanh chóng. Anh ta cũng thấy rất thích thú khi nghe những gì mà tôi nói về các dòng tiền. Anh ta hiểu là phần lớn những thứ đó rồi sẽ biến thành tiền mặt và chảy vào tài khoản của công ty, trừ những khoản được dùng để trả nợ và mua lại cổ phần của McCoy.

Nhưng có một điều mà anh ta đang băn khoăn. Rất nhiều trong số chúng tôi ở cùng một độ tuổi, và như vậy là chúng tôi sẽ gần như về hưu vào cùng một thời điểm. Vậy đến lúc ấy công ty sẽ lấy đâu ra tiền để mua lại cổ phần của con số lớn những người về hưu đó? Anh ta nói: “Tôi hiểu là rất nhiều tiền của chúng ta nằm ở các lõi máy và dây nối. Nhưng đến lúc ấy chúng ta đâu lấy chúng ra mà ăn được?”

Và đó trở thành một câu hỏi lớn. Đó là một câu hỏi đúng được đặt ra vào thời điểm hoàn toàn phù hợp và tôi nên cảm thấy tự hào và sung sướng vì đã có người đặt ra nó. Nó cho thấy thành quả của quá trình đào tạo mà chúng tôi đã thực hiện và của chính Trò chơi lớn trong kinh doanh. Chúng tôi đã mong muốn mọi người hiểu rằng họ đã tạo ra một sự khác biệt và họ đã đóng góp vào thành quả của công ty như thế nào. Chúng tôi đã muốn họ quan tâm tới các vấn đề như lợi nhuận, tiền và vốn chủ sở hữu và hiểu mối quan hệ giữa những công việc mà họ làm hàng ngày với phần thưởng mà họ sẽ có được. Người đặt ra câu hỏi này đã nhìn vào Bức Tranh Tổng thể và suy nghĩ về tương lai. Đó chính là điều mà chúng tôi mong muốn.

Vậy là lẽ ra tôi nên cảm thấy vô cùng vui sướng?

Nhưng sự thật không phải như vậy.

Tôi không có câu trả lời. Tôi chưa từng nghĩ tới việc rồi chúng tôi sẽ mua lại cổ phần của tất cả mọi người ra sao.

Thậm chí tôi còn không biết con số sẽ là bao nhiêu. Với độ tuổi trung bình của nhân viên trong công ty, có thể trong vòng 20 năm nữa chúng tôi vẫn chưa phải đối mặt với chuyện này. Nhưng sau đó nữa thì,… số tiền có thể sẽ rất lớn. Chúng tôi sẽ chi trả cho mọi người thế nào khi tới lúc – đặc biệt là khi số đông ra đi cùng một lúc? Đó là một câu hỏi quá hay.

Có lẽ tôi đã không nghĩ về phần kết giấc mơ của chính mình, đó là khi mọi người ra đi với một phần tài sản đáng kể mà họ đã tạo ra. Có thể bạn sẽ thắc mắc tại sao tôi có thể bỏ qua một điều như vậy, nhưng nó rất dễ giải thích. Khi bạn mới chỉ kinh doanh được vỏn vẹn ba năm và vẫn đang phải vật lộn với đủ các vấn đề để có thể tồn tại thì chủ đề rút khỏi cuộc chơi như thế nào sẽ không bao giờ thoáng qua trong óc. Tôi chỉ giả định rằng chúng tôi đã đề cập đến nó, và quả thật là như vậy – trên giấy tờ. Điều tôi không tính tới là lượng tiền mặt lớn mà chúng tôi sẽ phải chi trả để hoàn thành các nghĩa vụ của mình. Chính thành công của công ty đã khiến nghĩa vụ mà chúng tôi phải hoàn thành với các cổ đông chất cao như núi. Giờ thì tôi buộc phải nghĩ đến ngọn núi đó và tôi nhận ra rằng nếu cứ tiếp tục phát triển thì đến một ngày đỉnh núi sẽ cao như đỉnh Everest vậy.

Tôi không thể lờ nó đi được. Nó thể hiện rất nhiều những cam kết mà chúng tôi đã hứa sẽ thực hiện. Còn tôi thì sẽ mắc kẹt cho đến khi có một kế hoạch cụ thể để hoàn thành chúng. Tôi sẽ không thể ra đi. Làm sao tôi có lấy tiền của mình đi khi chưa đảm bảo được rằng những người khác cũng sẽ nhận được tiền của họ. Chúng tôi đã cùng nhau tạo ra của cải. Vậy thì tất cả đều có quyền ra đi với phần mà mình được hưởng. Vì lợi ích của bản thân tôi cũng như của mọi người, tôi buộc phải tìm ra cách trả tiền cho họ khi họ muốn ra đi.

Thế nhưng biết việc mình phải làm chưa giải quyết được vấn đề gì cả. Ngược lại, càng nghĩ về chuyện này thì dường như nó càng trở nên phức tạp. Liệu chúng tôi có nên thành lập các quỹ dự phòng tiền mặt? Liệu chúng tôi có nên nghĩ đến khả năng biến công ty thành công ty đại chúng? Thế còn việc kế nhiệm thì sao? Ngay cả khi đã có kế hoạch mua lại cổ phần của mọi người thì làm sao tôi có thể rời công ty nếu chưa tìm được người phù hợp để thay thế vị trí của mình? Chẳng phải trách nhiệm của một CEO như tôi là tìm một người kế nhiệm phù hợp hay sao? Việc thay thế vị trí của những người ra đi sẽ thế nào? Công ty có tiếp tục tồn tại hay không?

QUY TẮC SỞ HỮU SỐ 9

Rút chân ra khó hơn là bước chân vào

Vậy là từng bước một tôi phải đối mặt với vấn đề lớn mà tất cả các chủ công ty và người đứng đầu các công ty phải đối mặt: Bạn sẽ ra đi thế nào để mọi việc sau lưng vẫn tốt đẹp? Đó là vấn đề mà tôi đã suy nghĩ trong 15 năm qua và cho đến giờ vẫn chưa kết thúc. Khi tôi đề cập vấn đề này với những người đi trước, đặc biệt là những người đã điều hành chính công ty mà họ lập ra, tôi thường nhận được một nụ cười ra điều hiểu ý. Đó là bí mật nhỏ của chúng tôi, là thứ không ai nói cho các bạn biết khi các bạn dấn thân vào sự nghiệp kinh doanh cả.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRÁNH VẾT XE ĐỔ CỦA NHỮNG NGƯỜI TIÊN PHONG: HÃY BẮT ĐẦU SỚM

Kế thừa là vấn đề mà sớm hay muộn các công ty cũng như các nhà lãnh đạo phải đối mặt. Vấn đề sẽ thu hút đặc biệt sự chú ý khi công ty trở nên lớn mạnh với văn hóa doanh nghiệp mạnh mẽ. Hãy xem những rắc rối nảy sinh xung quanh sự ra đi của Jack Welch của tập đoàn General Electric.

Trong những hoàn cảnh đó, mối quan tâm của mọi người sẽ là liệu người lãnh đạo kế nhiệm có duy trì được văn hóa và lợi thế cạnh tranh của công ty so với đối thủ không? Vấn đề trở nên quan trọng hơn trong những công ty có văn hóa sở hữu mạnh mẽ, đặc biệt là khi người sáng lập ra nó ra đi, như trường hợp Wal-Mart khi Sam Walton chuyển quyền lãnh đạo cho người kế nhiệm hay Herb Kelleher rời khỏi Southern Airlines. Sự lo lắng chỉ có thể mất dần đi khi mọi người tin tưởng vào sức mạnh của văn hóa công ty và hiểu rằng nó không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân nào cả. Cả Harley-Davidson lẫn Herman Miller đều đã trải qua vài lần thay người lãnh đạo mà vẫn giữ được văn hóa doanh nghiệp rất điển hình.

Tuy nhiên, tất cả các công ty này đều có được lợi thế mà chúng tôi không có khi chuyển giao người lãnh đạo. Họ là các công ty đại chúng và bởi vậy họ có sẵn cơ chế để chi trả cho các cổ đông lớn khi họ ra đi. Thêm vào đó, các công ty này luôn nằm dưới sự theo dõi sát sao của thị trường nên họ buộc phải nghĩ đến vấn đề kế nhiệm từ rất sớm trước khi nó trở nên thực sự cần thiết.

Các công ty được tài trợ vốn bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng rất để tâm tới chiến lược rút vốn cho cổ đông, nhưng chúng chiếm một phần rất nhỏ trong tổng số các công ty được thành lập mỗi năm. Hơn nữa, có một chiến lược rút vốn cho cổ đông và một sự ra đi êm đẹp của người lãnh đạo là hai vấn đề hoàn toàn khác biệt. Và cũng thật đáng buồn là phần lớn các công ty được lập ra từ các quỹ đầu tư mạo hiểm đều không tồn tại đủ lâu để phải quan tâm nhiều đến vấn đề kế nhiệm.

Câu chuyện hoàn toàn khác đối với một số lượng lớn các công ty vừa không có dính líu tới các quỹ đầu tư mạo hiểm vừa không phải là công ty đại chúng. Thực ra, ra đi là điều xa xôi nhất trong tâm trí phần lớn mọi người khi bắt đầu dấn thân vào kinh doanh. Nếu có nghĩ đến thì họ cũng cho rằng họ sẽ giải quyết vấn đề khi nào đến lúc. Họ sẽ nói: “Chúng tôi sẽ bán công ty hoặc biến nó thành công ty đại chúng.” Trừ khi có một nhà đầu tư bên ngoài để tâm đến, còn nếu họ sẽ không nhận thức được những vấn đề nan giải như định giá công ty hay phương thức bán cổ phần. Đó quả là một sai lầm lớn.

Nhưng khi bạn tham gia thành lập một công ty như thế, bạn sẽ hiểu mắc sai lầm đó dễ dàng như thế nào. Lúc đầu sẽ chỉ lo lắng về sự sống còn của công ty mà quên không nghĩ tới việc sẽ rời bỏ nó như thế nào. Bạn chỉ quan tâm đến việc xây dựng một công ty vững mạnh. Bạn quen nhìn nhận công ty từ bên trong nên không có được cái nhìn khách quan. Lúc nào bạn cũng chỉ nghĩ tới việc phải làm thế nào để tiếp tục ở lại cuộc chơi.

Thậm chí đến khi đã vượt qua giai đoạn phải vật lộn để tồn tại, những thói quen tư duy như thế vẫn không hề thay đổi. Bạn chỉ nhìn nhận công ty như một câu chuyện mà chính bạn đang viết ra và nó sẽ kéo dài tới khi nào bạn còn sức để viết. Bạn không nghĩ đến kết cục. Bạn nghĩ là hãy cứ đợi và làm chính mình phải ngạc nhiên.

Nếu một mình bạn hay cả gia đình bạn sở hữu toàn bộ vốn chủ sở hữu của công ty thì sẽ không có nhiều sức ép phải thay đổi suy nghĩ. Công ty chính là đứa con của bạn. Bạn khó có thể tưởng tượng cuộc đời mình sẽ ra sao nếu thiếu nó. Bạn nghĩ mình sẽ ở lại mãi mãi hoặc sẽ cho các con của mình thừa kế. Dù thế nào đi nữa, bạn cũng không suy nghĩ quá nhiều về việc sẽ rời bỏ nó như thế nào – điều sẽ tác động vô hình lên các quyết định của bạn.

Ví dụ, bạn sẽ dựng lên một rào cản đối với những thử nghiệm hay tư duy đổi mới, điều có thể sẽ đẩy công ty đi theo những hướng khác. Đặc biệt, bạn sẽ rất ngại đa dạng hóa hoạt động. Tại sao vậy? Bởi vì bạn thích gắn bó với những điều quen thuộc vẫn gắn bó với bạn, bạn ngại phải đối mặt với rủi ro.

Bạn có thể rất thành công với chiến lược đó. Tôi từng chứng kiến những doanh nhân rất thành công nhờ tập trung làm thật tốt trong một lĩnh vực và kiếm được cả đống tiền. Họ không hề nghĩ đến việc phải đa dạng hóa. Tại sao lại phải thế trong khi họ vẫn đang ăn nên làm ra cơ chứ?

Nhưng có một lý do rất hợp lý để làm như thế: bạn đang nghĩ tới tương lai. Bạn hiểu rằng những điều kiện thuận lợi sẽ không kéo dài mãi và bạn phải chuẩn bị cho nó. Những mối lo ngại về tương lai sẽ dẫn bạn đến với chiến lược đa dạng hóa và chúng có thể là những động cơ vô cùng mạnh mẽ. Đã kinh doanh thì bạn sẽ không bao giờ cảm thấy thanh thản cả. Bạn sẽ luôn luôn lo ngại một điều gì đó. Điều chúng tôi sợ là rồi sẽ không thể chi trả cho các cổ đông khi đến lúc họ phải ra đi và vì vậy sẽ không thực hiện được lời hứa của mình.

Bạn sẽ không có những áp lực đó nếu sở hữu toàn bộ công ty. Bạn sẽ không phải đối mặt với nguy cơ sẽ làm rất nhiều cổ đông nghĩ rằng bạn đang làm họ thất vọng. Bạn cũng không cần đảm bảo phải có đủ tiền mặt để chi trả cho họ.

Trong trường hợp đó, bạn có xu hướng bảo vệ những gì đang có trong hiện tại hơn là nghĩ tới tương lai. Bạn có đầy đủ lý lẽ để giữ nguyên công việc kinh doanh hiện tại và duy trì nó thật tốt. Như Mark Twain nói là bạn đặt hết số trứng mình có vào một giỏ và quan sát chúng. Và bạn sẽ có thể rất thành công. Tôi biết nhiều công ty đã làm thế mà không cần nghĩ tới việc đa dạng hóa, không cần nghĩ tới tương lai.

Nhưng công ty không thể một ngày không có người lãnh đạo.

Và đó là toàn bộ vấn đề. Cần phải có thời gian để suy nghĩ về việc bạn sẽ ra đi thế nào cho êm đẹp mọi bề. Cần có thời gian để xây dựng một chiến lược rút khỏi công ty, để có những lựa chọn khiến bạn cảm thấy thanh thản khi ra đi. Nếu không sớm nghĩ tới chuyện đó, có thể bạn sẽ tự đào hố chôn mình, mà phần lớn mọi người đều vậy. Phần lớn các công ty tư nhân đều không thể đem ra trao đổi mua bán. Thậm chí khi tìm ra người muốn mua, họ cũng không có được những điều khoản có lợi trừ khi họ đã dành rất nhiều thời gian để xây dựng nó từ trước.

Sớm hay muộn thì tất cả chúng ta đều phải rời khỏi công ty do chính mình gây dựng. Tôi chắc là hầu hết mọi người đều muốn có chút thời gian hưởng thụ những của cải mà mình đã làm ra và điều này chẳng có gì sai trái cả. Bạn cũng muốn được hưởng thụ chúng mà không cần phải suy nghĩ hay hối tiếc bất cứ điều gì bởi bạn đã quan tâm hết mình tới những người đã giúp bạn tạo ra tài sản đó. Để làm được điều đó, bạn phải chuẩn bị từ trước. Bạn phải tự tạo cơ hội cho mình. Nếu đợi quá lâu bạn sẽ có rất ít lựa chọn bởi đơn giản bạn đã hết thời gian.

Tôi lại muốn quay lại với quan sát của Harold Geneen: “Hãy đọc một cuốn sách từ đầu tới cuối và kinh doanh theo cách ngược lại.” Đó là một trong những lời khuyên có giá trị nhất mà tôi từng nhận được.

Tôi đã thật may mắn vì nhờ câu hỏi của người nhân viên đó, tôi đã bắt đầu suy nghĩ để giải quyết vấn đề từ rất sớm.

Một trong những lợi thế mà các công ty do chính nhân viên làm chủ có được so với các công ty chỉ có một người sở hữu là: không thể né tránh được vấn đề gì cả. Bằng cách này hay cách khác, nó sẽ được đặt ra rất sớm dù bạn có muốn hay không.

Thực ra tôi rất nghi ngờ là liệu có ai đó vui mừng vì nó hay không. Khi vấn đề đã trở nên nghiêm trọng, nó sẽ rất đáng sợ, đặc biệt là khi bạn đã chia sẻ quyền sở hữu ngay từ đầu và đã thấy giá trị cổ phần của mình tăng lên đáng kể.

Đối với công ty của chúng tôi, đến cuối năm thứ tư đã có 297 thành viên của ESOP với độ tuổi trung bình khoảng 32. Tôi hiểu là giá trị vốn chủ sở hữu của công ty sẽ không tăng gấp đôi mãi mãi, nhưng nếu nó chỉ cần tăng lên với một tỷ lệ khiêm tốn từ 5 đến 10% thì nó cũng sẽ tăng gấp đôi trong vòng từ 5 đến 8 năm. Như vậy thì việc giá của mỗi cổ phần tăng lên 200 đô-la sẽ nằm trong tầm tay. Và cứ như thế, tổng giá trị các cổ phần ESOP sẽ là 64 triệu đô-la khi mà những nhân viên hiện tại đến độ tuổi về hưu vào khoảng năm 2015, đấy là còn chưa tính đến số lượng nhân viên mới. Tính sơ qua thì tại thời điểm đó, chúng tôi sẽ phải trả khoảng 15 triệu đô-la mỗi năm.

Còn những người sở hữu cổ phần trực tiếp mà không thông qua ESOP thì sẽ thế nào? Sau khi mua lại cổ phần của McCoy thì chúng tôi vẫn còn tới 830.000 cổ phần của các cổ đông sáng lập. Với cái giá 8.46 đô-la cho mỗi cổ phần thì tổng giá trị của nó là 7 triệu đô-la, còn với cái giá 15,60 thì con số này là 13 triệu đô-la. Nếu chúng tôi vẫn giữ lượng cổ phần như thế và cố gắng đạt giá 200 đô-la mỗi cổ phần thì con số này sẽ là 166 triệu đô-la cộng thêm 64 triệu đô-la chúng tôi nợ các thành viên trong ESOP.

Khi các bạn nhìn những con số như thế, đầu gối các bạn sẽ run lên. Số tiền 100.000 đô-la chúng tôi bỏ ra ban đầu so với chúng chẳng là gì. Chúng tôi có thể mất trắng nó mà vẫn sống an lành. Nhưng giờ đây, nợ nhân viên trong công ty con số hàng triệu đô-la lại là một câu chuyện khác.

Đấy là còn chưa kể đến các nhu cầu cần thiết khác để đảm bảo cho công ty hoạt động. Trong khi mua lại cổ phần của các cổ đông, công ty vẫn cần có máy móc thiết bị để sản xuất, hàng tồn kho sẽ tăng lên, các khoản phải thu cũng vậy. Một số người sẽ đòi hỏi phải có trụ sở mới. Người khác sẽ thấy cần tham gia lĩnh vực kinh doanh khác. Sẽ thế nào nếu chúng tôi mở một công ty con? Chúng tôi sẽ chi trả cho việc phát triển một dòng sản phẩm mới thế nào đây? Những nhu cầu kiểu như thế sẽ không bao giờ chấm dứt.

Còn việc thay thế vị trí của những người sẽ ra đi. Phần lớn các cổ đông chính đều đã nói với tôi rằng họ dự tính sẽ về hưu trong vòng ba đến năm năm nữa. Bên cạnh vấn đề tiền, chúng tôi còn không có người thay thế vị trí của họ. Chúng tôi không có đủ thời gian để tự đào tạo nhân tài bởi thế sẽ phải tìm ở bên ngoài. Liệu chúng tôi có tìm được đúng người hay không? Và liệu tìm được đúng người rồi thì chúng tôi có đáp ứng được yêu cầu của họ hay không?

Liệu chúng tôi có thể chi trả cho các cổ đông này ngay cả khi đã áp dụng điều khoản trả dần trong vòng mười năm đi nữa bởi để làm được thế chúng tôi phải có từ 20 đến 24 triệu đô-la mỗi năm. Cứ nghĩ đến những chuyện đó là tôi lại cảm thấy tương lai vô cùng u ám. Tôi không biết sẽ lấy tiền ở đâu ra – trừ phi là chúng tôi lại đi vay, điều này sẽ đẩy công ty về tình trạng nợ nần như lúc ban đầu.

Càng nghĩ đến chuyện này, tôi càng thấy mệt mỏi hơn. Điều trái khoáy là ở chỗ: công ty càng thành công thì vấn đề càng trở nên tồi tệ. Tôi nghĩ: “Thật giống như dã tràng xe cát. Càng cố gắng thì chiếc bánh càng to còn bạn thì càng phải trả nhiều tiền. Liệu có bao giờ chúng tôi vượt qua cái vòng luẩn quẩn này không?”

Tình cảnh của chúng tôi có thể nghiêm trọng hơn hầu hết các công ty khác, tuy nhiên chúng tôi chắc chắn không phải là công ty duy nhất với các ESOP lâm vào tình thế này. Vẫn phải có những quy tắc nhất định để giải quyết vấn đề. Bước đầu tiên là phải đánh giá chính xác các nghĩa vụ tài chính. Bạn sẽ làm được việc này thông qua các chuyên gia thẩm định rủi ro bảo hiểm. Những người này sẽ nghiên cứu dựa trên một vài giả định về sự tăng trưởng của công ty, những đóng góp của các ESOP trong tương lai và giá trị của vốn chủ sở hữu. Họ sẽ nhìn vào cơ cấu lao động trong công ty và đưa ra các kết luận về việc ai sẽ gắn bó lâu dài và ai sẽ có ý định nghỉ hưu. Sau đó, các con số này sẽ được cho chạy qua các phần mềm máy tính và cho ra một số tiền ước tính mà công ty phải dành ra hàng năm để phục vụ cho việc thực hiện nghĩa vụ với các cổ đông.

Tiếp theo mới là phần việc khó khăn: Tìm ra cách xử lý vấn đề hợp lý. Theo kinh nghiệm của tôi thì sẽ có ba kiểu phản ứng điển hình trước các kết quả có được ở bước một. Một vài công ty sẽ từ chối thực hiện phương án dự trữ tiền, cho rằng vấn đề sẽ tự động biến mất hoặc được giải quyết ổn thỏa. Chúng tôi đã thử cách đó – nhưng không có hiệu quả.

Một số công ty khác lâm vào trạng thái hoảng loạn. Có khi họ còn dừng các chương trình ESOP lại, trả tiền cho những người tham gia và quên hẳn chuyện xây dựng văn hóa sở hữu. Hoặc cách khác là họ đóng băng các chương trình này, chủ yếu là để hạn chế số nợ trong tương lai và cố gắng kiểm soát nó. Cả hai cách này đều khiến họ không thực hiện được ước mơ.

Nhưng phần lớn các công ty đều đồng ý để ra một khoản tiền đủ để chi trả các nghĩa vụ nợ trong tương lai. Đương nhiên đó không phải là lựa chọn đúng đắn duy nhất.

Mà đơn thuần chỉ là một lựa chọn, bạn còn có thể nghĩ đến việc rao bán công ty và dùng phần thặng dư để trả cho các thành viên của ESOP. Hoặc một cách khác nữa là biến công ty thành công ty đại chúng – điều sẽ mở ra rất nhiều cơ hội cũng như thách thức (như tôi sẽ đề cập trong chương 10). Tuy nhiên nếu bạn vẫn có ý định duy trì sự độc lập của công ty thì nguyên tắc duy nhất hoàn thành các nghĩa vụ ESOP trong dài hạn là lập các quỹ dự phòng tiền mặt đủ lớn.

Thế nhưng vẫn có một vài vấn đề với lựa chọn này. Đầu tiên, không phải lúc nào cũng thực hiện được điều đó. Công ty sẽ để đầu tư tiền cho các ESOP và sau đó những người quản lý chúng sẽ phải quyết định xem họ phải làm gì với số tiền đó; bởi họ sẽ có trách nhiệm chi trả số tiền tương ứng với cổ phần mà các thành viên có được khi về hưu. Chuyện gì sẽ xảy ra với những khoản tiền để dành này? Nó sẽ phải được đầu tư theo những phương thức rất an toàn và ổn định như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phương và những thứ tương tự. Theo thời gian, giá trị của chúng sẽ không mất đi nhưng cũng sẽ không thể tăng lên nhanh chóng. Nếu giá trị cổ phần của công ty tăng trưởng nhanh hơn giá trị của các khoản dự trữ này thì đến khi cần họ vẫn sẽ thiếu tiền để chi trả dù có cố công đến đâu.

Biện pháp dự trữ tiền cũng có một nhược điểm khác khiến chúng tôi lo ngại hơn so với vấn đề ở trên. Đó là nếu theo đuổi nó, bạn sẽ không được sử dụng tiền lãi để đầu tư vào chính công ty của mình mà lại đầu tư vào chỗ khác. Công ty cần có tiền để phát triển sản xuất, đặc biệt là các công ty đòi hỏi lượng vốn lớn như chúng tôi. Nếu lập các quỹ tiền mặt thì đương nhiên công ty sẽ phát triển chậm dần và từ từ thu hẹp lại.

Điều gì sẽ xảy ra nếu công ty không tiếp tục phát triển nữa? Nó sẽ không tạo ra cơ hội cho nhân viên. Họ sẽ không còn cơ hội thăng tiến mà cứ gắn chặt vào một vị trí hết năm này qua năm khác. Họ cũng chẳng học hỏi được gì thêm, không phát triển được tầm nhìn. Những người khá nhất sẽ nhanh chóng nhận ra họ đang mất phương hướng và sẽ ra đi. Đến lúc ấy, nhìn lại khoản tiền đã dành ra thì bạn mới nhận ra là bạn đã lãng phí nó như thế nào.

Chúng tôi hình dung ra kịch bản đó và kết luận rằng chiến lược tích trữ tiền mặt sẽ không giải quyết được chuyện gì. Nếu mọi người không có cơ hội để kiếm được nhiều tiền hơn, đương đầu với thử thách mới hay thăng tiến trong sự nghiệp, họ sẽ chết vì mòn mỏi. Phải có cách nào khác để đối phó với chuyện này và chúng tôi sẽ buộc phải tìm ra nó.

LÀM TĂNG THÊM VỐN CHỦ SỞ HỮU

Một chương trình ESOP thường có đóng góp tích cực cho công ty hơn là bạn nghĩ. Nhưng chỉ đến khi thực hiện nó bạn mới phát hiện ra những đóng góp ấy mà thôi. Đối với chúng tôi, chúng tôi đã không biết tất cả những lợi ích từ việc dùng cổ phần mua lại của các cổ đông đã rút khỏi công ty để tài trợ cho ESOP cho đến khi thực sự thực hiện nó.

Hãy giả dụ chúng tôi mua lại cổ phần của McCoy với giá 4 đô-la một cổ phiếu. Sau khi mua, chúng tôi vẫn giữ lại cổ phần đó trong công ty trong vài năm dù chúng có thể bán chúng cho một cổ đông khác. Công ty làm ăn rất tốt và cổ phiếu của nó giờ có thể đã lên tới 16 đô-la. Nếu bán số cổ phần của McCoy, công ty sẽ có một dòng tiền ròng có giá trị 12 đô-la cho mỗi cổ phiếu – một sự tăng lên trong giá trị kế toán (khi lấy tài sản trừ đi nợ phải trả).

Nhưng chúng tôi đã không làm thế. Hơn nữa, chúng tôi có ý định bỏ ra 500.000 đô-la vào quỹ của ESOP mỗi năm. Khoản tiền này không phải chịu thuế, bởi vậy với thuế suất 40%, chúng tôi sẽ có thêm một khoản tiền mặt là 200.000 đô-la mà đáng ra đã phải nộp cho cơ quan thuế.

Giả sử trước khi đóng góp thêm vào quỹ của ESOP, công ty có lợi nhuận trước thuế là 3 triệu đô-la. Nếu không có ESOP hoặc là công ty không trích thêm tiền vào đó nữa thì nó sẽ phải trả khoản thuế tương đương 40% của 3 triệu đô-la, tức là 1,2 triệu đô-la và phần lợi nhuận giữ lại sẽ là 1,8 triệu đô-la. Giá trị kế toán của công ty cũng sẽ tăng lên ngần ấy tiền. Nhưng thay vào đó, công ty trích ra 500.000 đô-la trong khoản lợi nhuận trước thuế cho ESOP và như vậy nó sẽ có thu nhập chịu thuế là 2,5 triệu đô-la và chỉ phải trả 1 triệu đô-la thuế cho chính phủ. Lợi nhuận giữ lại của năm sẽ là 1,5 triệu đô-la.

Nhưng không chỉ có vậy. Chúng tôi quyết định đóng góp cho ESOP 100.000 đô-la tiền mặt và 400.000 đô-la cổ phần mà chúng tôi có từ vụ mua lại cổ phần của McCoy. Đó là khi tính với giá trị hiện tại. Còn lúc mua lại từ McCoy nó chỉ có giá 100.000 đô-la. Vậy là chúng tôi lại có một khoản tăng lên trong sổ sách trị giá 300.000 đô-la.

Vậy điều gì đã xảy ra? Đầu tiên, chúng tôi tăng giá trị của ESOP thêm 500.000 đô-la và vì thế các thành viên của nó sẽ có được phần giá trị lớn to hơn. Họ sẽ thấy phần tài sản của mình tăng lên và bởi thế sẽ làm việc với tinh thần hăng hái hơn. Họ hiểu mình sẽ có lợi như thế nào nếu góp phần giúp công ty thành công.

Thứ hai, chúng tôi có thêm 200.000 đô-la tiền mặt mà lẽ ra đã phải đóng thuế. Đương nhiên đổi lại chúng tôi đã phải bỏ ra 100.000 đô-la tiền mặt cho ESOP nhưng như thế chúng tôi vẫn có phần chênh lệch 100.000 đô-la được dùng để mua máy móc thiết bị, trả nợ, lập chi nhánh mới hay làm bất cứ thứ gì cần thiết.

Thứ ba, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu tăng lên, nó sẽ còn tăng lên nữa nếu chúng tôi dùng 100.000 đô-la có được để trả nợ. Và như vậy là công ty sẽ có lợi thế hơn khi đi vay vốn. Ngân hàng sẽ nhìn vào đó và thốt lên: Ồ, công ty này thật tuyệt, họ làm ăn có lãi và luôn làm đẹp các con số trên bản báo cáo của mình.”

Nếu không thử bắt tay vào thực hiện bạn sẽ không bao giờ học được những mẹo nhỏ này. Chúng tôi không định dùng cổ phần mua lại của McCoy để tài trợ cho ESOP. Đó là cơ hội mà vô tình chúng tôi nắm bắt được. Và kết quả là công ty và cả ESOP đều được hưởng lợi từ McCoy trong vòng một vài năm.

Chương TrướcHết chương

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 11

Đang tải bình luận...