“Bác quay lại ngay,” Beetee nói. Ông ấn mật mã trên bảng điều khiển, một cánh cửa nhỏ liền mở ra. Tôi nhìn theo đến khi ông đi mất hút và cánh cửa đóng lại.
“Vậy anh thấy thanh thản lắm à? Dùng để bắn người ấy?” tôi vặn.
“Anh nói thế hồi nào?” Gale buông cây cung xuống bên hông. “Nhưng nếu anh có một thứ vũ khí có thể ngăn chặn những gì anh từng chứng kiến ở Quận 12… nếu anh có một thứ vũ khí có thể đưa em tránh xa trường đấu… thì anh đã dùng rồi.”
“Em cũng vậy,” tôi thừa nhận. Nhưng tôi không biết phải nói gì với anh về hậu quả sau khi giết người. Rằng họ cứ mãi ám ảnh ta ra sao.
Beetee lăn xe trở lại mang theo một cái va li đen dài hình chữ nhật được đặt chung chiêng giữa thanh để chân và vai ông. Ông đỗ lại nghiêng nó về phía tôi. “Của cháu này.”
Tôi đặt va li nằm xuống sàn và mở then cài trải dọc một bên va li ra. Ngăn trên cùng mở ra êm ru. Bên trong va li, trên cái ổ trải thảm nhung đỏ nhàu nhĩ là một cây cung đen hoành tráng. “Ôi,” tôi trầm trồ thì thầm. Tôi cẩn thận nâng nó lên chiêm ngưỡng sự cân bằng tinh tế, thiết kế trang nhã cùng những đường cong của cánh cung phần nào gợi đến đôi cánh chim sải rộng tung bay. Còn có thứ gì khác nữa. Tôi phải nắm chặt nó để chắc chắn rằng mình không tưởng tượng. Không, cây cung sống động trong tay tôi. Tôi áp nó lên má cảm nhận tiếng âm ư nhè nhẹ truyền qua xương mặt mình.
“Nó đang làm gì vậy ạ?” tôi hỏi.
“Chào đấy,” Beetee toét miệng cười giải thích. “Nó nghe thấy giọng cháu.”
“Nó nhận ra giọng cháu ạ?”
“
Mỗi
giọng cháu thôi,” ông bảo tôi. “Cháu xem, họ muốn bác thiết kế một cây cung chỉ cần đẹp thôi. Là một phần của trang phục, cháu biết đấy. Nhưng bác cố suy nghĩ mãi,
Sao mà lãng phí quá.
Ý bác là, nhỡ có lúc cháu cần đến nó thì sao? Không chỉ là thứ phụ kiện thời trang ấy. Thế là bác để phần ngoài thật đơn giản, phần trong thì thỏa sức tưởng tượng mà thiết kế. Trăm nghe không bằng một thử. Muốn thử không?”
Chúng tôi bèn thử luôn. Sân tập bắn đã được chuẩn bị sẵn cho chúng tôi. Những mũi tên mà Beetee thiết kế cũng chúa chẳng kém gì cây cung. Với hai món này, tôi có thể bắn chính xác trong phạm vi một trăm mét. Sự đa dạng của những mũi tên - sắc như dao cạo, có khả năng phát nổ, gây cháy - biến cây cung thành một thứ vũ khí vạn năng. Nhìn vào màu sắc khác nhau của các mũi tên là biết được mục đích sử dụng.
Tôi có quyền chèn giọng nói bất cứ lúc nào, nhưng tôi chẳng biết làm thế để làm gì. Để ngắt chức năng đặc biệt của cây cung, tôi chỉ cần nói “Chúc ngủ ngon.” Nó sẽ ngủ cho đến khi nghe tiếng tôi gọi dậy.
Tâm trạng tôi khá thoải mái khi quay lại với đội chuẩn bị, bỏ lại Beetee và Gale đằng sau. Tôi kiên nhẫn ngồi cho họ tô vẽ nốt rồi thử trang phục, giờ có thêm một dải băng đẫm máu trên vết sẹo nơi tay hàm ý rằng tôi vừa trải qua trận chiến. Venia gắn chiếc ghim chim húng nhại lên ngực trái tôi. Tôi nhấc cây cung và ống tên đựng những mũi tên bình thường do Beetee chế tạo, biết rằng họ không đời nào để tôi vác nặng mà đi lại. Rồi chúng tôi bước ra trường quay, và tôi dường như phải đứng hàng tiếng liền ở đó cho họ chỉnh lại lớp trang điểm, độ sáng và nồng độ khói. Cuối cùng, mệnh lệnh từ những người vô hình trong ca bin lắp kính bí ẩn phát qua hệ thống liên lạc nội bộ cũng thưa dần. Fuivia và Plutarch dành thêm nhiều thì giờ nghiên cứu và bỏ bớt thời gian chỉnh trang tôi. Cuối cùng cả trường quay yên lặng. Tôi bị săm soi từ đầu đến chân những năm phút liền. Rồi Plutarch lên tiếng, “Tôi nghĩ ổn rồi đấy.” Người ta vẫy tôi đến bên màn hình. Họ tua lại đoạn ghi hình vài phút trước và tôi thấy một cô gái xuất hiện. Vóc người cô có vẻ cao lớn, oai hùng hơn tôi. Mặt cô lem luốc nhưng gợi cảm. Lông mày cô màu đen và được tỉa theo kiểu đầy thách thức. Những làn khói mỏng manh - ám chỉ cô vừa được dập lửa hoặc sắp sửa bùng cháy - bốc lên từ áo quần của cô. Tôi chẳng biết người này là ai.
Finnick, mấy tiếng vừa rối cứ thơ thẩn quanh trường quay, giờ lấp ló sau lưng tôi nói với giọng điệu phảng phất vẻ hài hước quen thuộc, “Người ta nếu không muốn giết em thì cũng muốn hôn em hoặc trở thành em đấy.”
Ai nấy đều hết sức vui mừng hỉ hả với tác phẩm của mình. Đã gần tới giờ nghỉ tay ăn tối, nhưng họ vẫn kiên quyết tiếp tục. Ngày mai chúng tôi sẽ tập trung vào bài diễn văn, phỏng vấn, và dựng cảnh tôi tham gia vào cuộc nổi dậy. Hôm nay họ chỉ muốn một câu khẩu hiệu, một câu duy nhất để đưa vào ĐTT ngắn cho Coin xem.
“Hỡi cư dân Panem, chúng ta hãy chiến đấu, chúng ta hãy dám đương đầu, chúng ta hãy thổi bay cơn khát công bằng!” Đây chính là khẩu hiệu. Nhìn cách họ trưng nó ra là tôi biết họ đã dành hàng tháng, có khi hàng năm trời tư duy và rất đỗi tự hào về nó. Dù vậy nó vẫn quá dài với tôi. Cứng nhắc nữa. Tôi không tưởng tượng nổi mình sẽ thực sự tuôn ra câu ấy trong đời thực - trừ phi tôi nói giọng Capitol nhằm chế nhạo nó. Giống như khi Gale và tôi nhại giọng Effie Trinket: “Chúc cho may mắn
sẽ
mỉm cười với các bạn!” Nhưng Fulvia đã đứng ngay trước mặt tôi, miêu tả một trận chiến mà tôi vừa tham gia, rằng quanh tôi la liệt xác đồng đội, và rằng, để kêu gọi những người còn sống, tôi phải hướng mặt về máy quay nói ra câu đó!
Tôi bị đẩy về chỗ cũ, máy tạo khói bắt đầu hoạt động. Ai đó yêu cầu mọi người yên lặng, máy quay sẵn sàng và tôi nghe thấy tiếng “Diễn!” Thế là tôi nâng cây cung lên cao quá đầu, thu hết mọi nỗi giận dữ trong lòng mà hét vang,
“Hỡi cư dân Panem, chúng ta hãy chiến đấu, chúng ta hãy dám đương đầu, chúng ta hãy thổi bay cơn khát công bằng!”
Cả trường quay im phăng phắc. Im lặng mãi. Cứ thế mãi. Cuối cùng máy liên lạc nội bộ kêu lạch xạch và tiếng cười chói lói của Haymitch ngập tràn trường quay. Ông cố mãi mới nói ra được một câu, “Chính thế mà cách mạng lụi tàn đấy, thưa các bạn của tôi.”
6.
Nỗi choáng váng vì nghe thấy giọng Haymitch hôm qua, biết rằng ông không chỉ phục hồi chức năng một lần nữa mà còn kiểm soát phần nào cuộc sống của tôi, khiến tôi giận sôi lên. Tôi rời phắt khỏi trường quay và không chịu công nhận những lời ông bình luận từ ca bin hôm nay. Dẫu vậy, tôi biết ngay là ông nói đúng về màn trình diễn của tôi.
Ông mất cả buổi sáng để thuyết phục những người khác về nhược điểm của tôi. Rằng tôi không làm được. Tôi không thể đứng giữa làn khói giả trong trường quay với phục trang và lớp trang điểm đó, kêu gọi các quận đoàn kết giành chiến thắng. Nói đúng ra, thật đáng ngạc nhiên là tôi lại có thể chịu được ống kính máy quay lâu đến vậy. Tất nhiên là nhờ Peeta cả. Chỉ có một mình, tôi không thể là Húng nhại.
Chúng tôi quây quanh chiếc bàn lớn ở Bộ Tư lệnh. Coin và thuộc hạ của bà ta. Plutarch, Fulvia và đội chuẩn bị của tôi. Một nhóm từ Quận 12 gồn Haymitch và Gale cùng mấy người mà tôi không hiểu sao lại có mặt ở đây, như Leevy và Greasy Sae. Vào phút cuối, Finnick đẩy Peetee vào trên xe lăn, đi cùng là Dalton, chuyên gia gia súc đến từ Quận 10. Tôi đoán có lẽ Coin triệu tập nhóm người đủ mọi thành phần nom rất bất thường này để họ chứng kiến thất bại của tôi.
Tuy nhiên, chính Haymitch lại là kẻ chào đón mọi người, vì nghe ông nói thì tôi hiểu rằng họ đến đây theo lời mời cá nhân của ông. Đây là lần đầu tiên chúng tôi ở trong cùng một phòng kể từ hồi tôi cào cấu ông. Tôi tránh nhìn thẳng vào ông, nhưng thoáng thấy hình phản chiếu của ông trên tấm bảng điều khiển bóng loáng gắn dọc đường. Nhìn ông hơi vàng vọt và sụt cân đáng kể, thành ra trông khá teo tóp. Trong thoáng chốc tôi sợ rằng ông đang chết dần chết mòn. Rồi tôi lại tự nhắc nhủ mình hơi đâu mà quan tâm.
Việc đầu tiên Haymitch làm là phát lại đoạn ghi hình về tôi.
Xem ra dưới sự hướng dẫn của Plutarch và Fulvia, tôi lại thụt lùi thêm một bước nữa. Cả giọng nói lẫn cơ thể tôi đều run rẩy, rời rạc, như một con rối bị điều khiển bởi những thế lực vô hình.
“Được rồi.” Haymitch nói khi đoạn ghi hình kết thúc. “Có ai muốn tranh luận rằng cái này có thể giúp chúng ta giành chiến thắng không?” Không ai mở miệng. “Thế là đỡ tốn thời gian đấy. Vậy xin tất cả hãy im lặng một lát. Tôi muốn mọi người nghĩ đến một sự việc nào đó liên quan đến Katniss Everdeen đã thực sự làm mọi người cảm động. Không phải theo kiểu ta ghen tị với kiểu tóc của cô bé, hay bộ váy rực lửa hay cú bắn tên thần sầu. Không phải theo kiểu Peeta khiến chúng ta yêu mến cô bé. Tôi muốn nghe nhắc đến một khoảnh khắc mà
cô bé
khiến ta trỗi dậy cảm xúc chân thực.”
Im lặng căng như dây đàn, và tôi mới trộm nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ kết thúc thì Leevy lên tiếng. “Khi cậu ấy tình nguyện thế chỗ Prim trong buổi chiêu quân. Vì tôi chắc chắn cậu ấy cho rằng mình sẽ chết.”
“Tốt. Ví dụ tuyệt vời,” Haymitch nói. Ông cầm cây bút dạ màu tím viết lên giấy nhớ.
“Tình nguyện thế chỗ em gái ở buổi chiêu quân.” Haymitch nhìn quanh bàn. “Người khác nữa đi.”
Tôi ngạc nhiên khi thấy người tiếp theo lên tiếng là Boggs, kẻ vẫn bị tôi coi là tay người máy to xác chuyên phục tùng Coin. “Khi Katniss hát bài ca đó. Khi cô bé con chết ấy.”
Trong tâm trí tôi thấp thoáng hình ảnh Boggs với một chú nhóc vắt vẻo bên hông. Trong phòng ăn, tôi đoán vậy. Có lẽ xét cho cùng ông ta cũng không hẳn là người máy.
“Ai mà không nghẹn ngào trước cảnh ấy chứ, phải không?” Haymitch vừa nói vừa viết.
“Tôi đã khóc lúc cô bé đánh thuốc mê Peeta để đi kiếm thuốc về cho cậu ấy và cả khi cô bé hôn tạm biệt cậu ấy nữa!” Octavia thốt ra. Rồi chị vội che miệng, như thể chắc chắn rằng mình vừa phạm sai lầm nghiêm trọng.
Nhưng Haymitch chỉ gật đầu. “Ồ, phải. Đánh thuốc mê Peeta để cứu mạng cậu bé. Rất hay.”
Những khoảnh khắc bắt đầu ào đến dồn dập không theo thứ tự nào cả. Khi tôi nhận Rue làm đồng minh. Chìa tay ra với Chaff trong đêm phỏng vấn. Cố cõng Mags. Giây phút tôi giơ nắm dâu độc đó ra được tái nhắc hồi, với mỗi người lại có những cảm nhận khác nhau. Nào là tình yêu dành cho Peeta. Nào là bất khuất trước nghịch cảnh. Nào là thách thức sự vô nhân đạo của Capitol.
Haymitch giơ tập giấy nhớ lên. “Vậy câu hỏi là, điểm chung của tất cả những cái này là gì?”
“Những lúc ấy Katniss là chính mình,” Gale khẽ nói “Không ai bảo em ấy phải nói thế này hay làm thế kia.”
“Không có kịch bản sẵn, phải rồi!” Beetee nói. Ông vươn người vỗ tay tôi. “Vậy chúng ta nên để cháu một mình nhỉ?”
Mọi người cười vang. Đến tôi cũng he hé môi cười.
“Ừm, hay thì có hay nhưng chả hữu ích mấy,” Fulvia dằn dỗi nói. “Không may là, cơ hội để cô ấy tỏ ra đáng mến là khá hạn chế ở Quận 13 này. Vì thế trừ phi các vị đề xuất ném cô ấy vào giữa trận chiến…”
“Đó
chính
là đề xuất của tôi đấy,” Haymitch nói. “Đưa cô bé ra chiến trường và cứ thế quay thôi.”
“Nhưng mọi người nghĩ em ấy mang thai mà,” Gale chỉ ra.
“Chúng ta sẽ truyền tin cô bé sẩy thai do bị điện giật ở trường đấu,” Plutarch đáp. “Thật đáng buồn. Thật bất hạnh.”
Ý tưởng đưa tôi ra chiến trường vấp phải nhiều tranh cãi. Nhưng lý lẽ của Haymitch khá vững vàng. Nếu tôi chỉ thể hiện tốt trong những tình huống thực thì cứ thế mà làm đi. “Mỗi lần chúng ta huấn luyện hay đưa cho cô bé lời thoại thì cũng chỉ dám hy vọng cô bé làm tạm ổn. Tất cả phải xuất phát từ chính cô bé. Mọi người hưởng ứng cũng là vì thế.”
“Kể cả có cẩn trọng đi nữa thì chúng ta cũng đâu dám chắc cô bé được an toàn,” Boggs nói. “Cô ấy sẽ là mục tiêu của mọi…”
“Tôi muốn đi,” tôi xen vào. “Ở đây tôi chẳng giúp gì được cho phiến quân cả.”
“Nhỡ cô bị giết thì sao?” Coin hỏi.
“Thì cứ đảm bảo bà quay được vài cảnh. Đằng nào bà cũng xài được mà,” tôi đáp.
“Được,” Coin nói. “Nhưng làm từng bước một thôi. Lựa tình huống nào ít nguy hiểm nhất có thể khơi dậy vẻ tự nhiên trong cô ấy.” Bà ta bước quanh Bộ Tư lệnh, săm soi bản đồ các quận được chiếu sáng cho thấy vị trí đóng quân hiện tại trong cuộc chiến. “Chiều nay hãy đưa cô ấy đến Quận 8. Sáng nay có một vụ đánh bom lớn nhưng xem chừng cuộc không kích vẫn tiếp diễn. Tôi muốn một đội vệ sĩ hộ tống cô ấy. Đoàn quay phim lên mặt đất. Haymitch, ông sẽ ở trên máy bay liên lạc với cô ấy. Để xem chuyện gì xảy ra ở đó. Ai có ý kiến gì nữa không?”
©STENT:
http://www.luv-ebook.com
“Rửa mặt cho cô bé đi.” Dalton nói. Ai nấy đều quay lại phía anh. “Cô bé còn trẻ thế mà bị các người biến thành bà cô ba lăm. Không ổn tí nào. Cứ như kiểu của Capitol vậy.”
Khi Coin tạm ngưng cuộc họp, Haymitch xin phép bà ta được nói chuyện riêng với tôi. Những người khác đi hết, còn lại Gale vẫn ngần ngừ nán lại bên tôi. “Cháu lo gì vậy?” Haymitch hỏi anh. “Ta mới là người cần vệ sĩ đây này.”
“Không sao đâu,” tôi bảo Gale, anh bèn rời đi. Chỉ còn tiếng thiết bị kêu rì rì, tiếng ù ù của hệ thống thông gió. Haymitch ngồi xuống chiếc ghế đối diện tôi. “Chúng ta lại sắp phải làm việc chung với nhau nữa rồi. Vậy có gì thì nói ra đi.”
Tôi nghĩ đến những lời qua tiếng lại gay gắt kịch liệt trên tàu bay. Kéo theo là nỗi chua xót. Nhưng tôi chỉ thốt lên rằng, “Cháu không tin nổi là bác lại không cứu Peeta.”
“Ta biết,” ông đáp.
Có cảm giác về sự thiếu trọn vẹn. Không phải vì ông chưa xin lỗi. Mà bởi chúng tôi đã từng là một đội. Chúng tôi đã thỏa thuận là sẽ giữ an toàn cho Peeta. Một thỏa thuận phi thực, đẫm hơi men được đưa ra trong đêm tối, nhưng vẫn cứ là thỏa thuận. Và tự đáy lòng mình, tôi biết cả hai chúng tôi đều đã thất bại.
“Giờ bác nói đi,” tôi bảo ông.
“Ta không tin nổi đêm ấy cháu lại để lạc mất Peeta khỏi tầm mắt,” Haymitch nói.
Tôi gật đầu. Vậy đấy. “Cháu cứ lấn cấn mãi về việc đó. Xem lẽ ra cháu đã có thể làm gì để giữ cậu ấy bên mình mà không phá vỡ liên minh. Nhưng cháu chẳng nghĩ ra gì cả.”
“Cháu đâu có được lựa chọn. Mà kể cả đêm ấy ta có bắt Plutarch ở lại giải cứu thằng bé thì cả cái tàu bay cũng sẽ bị bắn hạ mất. Chúng ta chỉ vừa kịp rời khỏi đó thôi.”
Cuối cùng tôi cũng nhìn vào mắt Haymitch. Đôi mắt màu vỉa than. Xám thăm thẳm, hằn những quầng thâm sau bao đêm mất ngủ. “Dù sao thì thằng bé vẫn chưa chết, Katniss à.”
“Chúng cháu vẫn trong cuộc đấu.” Tôi cố nói vẻ lạc quan, nhưng giọng rời rạc.
“Vẫn. Và ta vẫn là người hướng dẫn của cháu.” Haymitch chỉ cây bút dạ vào tôi. “Khi cháu ở trên mặt đất, hãy nhớ rằng ta ở trên máy bay. Ta sẽ có tầm nhìn tốt hơn, vì thế cứ làm theo lời ta.”
“Để xem đã,” tôi đáp.
Tôi quay lại Phòng Tái tạo, nhìn những vệt trang điểm chảy mất hút xuống lỗ thoát nước khi tôi rửa sạch mặt. Người trong gương trông xơ xác, với làn da sần sùi và cặp mắt lờ đờ, nhưng trông giống tôi. Tôi giật dải băng tay ra, để lộ vết sẹo xấu xí từ vụ máy định vị. Đây. Thế này cũng giống tôi nữa.
Vì tôi sẽ dấn thân vào vùng chiến sự nên Beetee giúp tôi chế tạo bộ áo giáp mà Cinna thiết kế. Chiếc mũ giáp dệt từ kim loại vừa khít đầu tôi. Chất liệu khá mềm, tựa vải, có thể bẻ ngược ra sau như mũ thường phòng khi tôi không muốn đội suốt. Áo gi lê nhằm tăng cường bảo vệ những bộ phận quan trọng. Một tai nghe nhỏ màu trắng gắn bằng dây kim loại cổ áo. Beetee còn cẩn thận lắp mặt nạ vào thắt lưng của tôi, phòng trường hợp bị tấn công bằng khí độc. “Nếu cháu thấy ai đó vô cớ ngã xuống thì hãy lập tức đeo cái này vào,” ông nói. Cuối cùng ông đeo ống tên chia thành ba ngăn hình trụ sau lưng tôi. “Nhớ này: Phải, lửa. Trái, thuốc nổ. Giữa, thường. Đáng ra cháu không cần đến chúng, nhưng cẩn tắc vô ưu mà.”
Boggs đến hộ tống tôi xuống Sư đoàn Không vận. Thang máy vừa tới nơi, đã thấy Finnick ló ra, vẻ bừng bừng khích động. “Katniss à, họ không cho anh đi! Anh đã bảo họ là anh ổn cả, nhưng họ thậm chí còn không cho anh lên tàu bay!”
Tôi nhìn Finnick - cẳng chân trần lộ ra giữa áo choàng bệnh viện và đôi dép lê, mái tóc rối bù, sợi dây thừng thắt dở dang quấn quanh ngón tay, ánh mắt hoảng hốt - biết rằng mình có viện cớ gì cũng vô ích. Dẫu tôi không cho rằng đưa anh theo là khôn ngoan. Thế là tôi vỗ tay vào trán nói, “Ôi, em quên mất. Tại cái chấn thương não ngu ngốc này đấy. Lẽ ra em phải bảo anh đến gặp bác Beetee ở Kho Vũ khí Đặc biệt. Bác ấy thiết kế một cây đinh ba mới cho anh đấy.”
Nghe thấy từ
đinh ba
, Finnick như lại trở về với chính mình.
“Thật không? Nó thế nào?”
“Em không biết. Nhưng nếu nó cũng giống như cung tên của em thì anh sẽ thích mê thôi,” tôi nói. “Nhưng anh sẽ cần luyện tập với nó đấy.”
“Đúng vậy. Tất nhiên rồi. Có lẽ anh nên xuống đó thì hơn,” anh nói.
“Finnick à?” tôi gọi. “Quần thì sao?”
Anh nhìn xuống chân như thể lần đầu nhận ra mình đang mặc gì. Rồi anh tụt cái áo choàng bệnh viện xuống, còn độc đồ lót. “Sao? Em thấy thế này” - anh tạo dáng khêu gợi trông rất nhắng - “làm em mất tập trung à?”
Tôi không nhịn được cười vì trông buồn cười không thể tả, còn buồn cười hơn bởi cảnh tượng đó làm Boggs ngượng chín người, và tôi vui vì nghe có vẻ như Finnick lại trở về đúng chàng trai mà tôi đã gặp ở Huyết trường.
“Em chỉ là người bình thường thôi mà, Odair.” Tôi bước vào thang máy cho kịp. “Xin lỗi,” tôi nói với Boggs.
“Thôi mà. Tôi nghĩ cháu… xử lý khá tốt,” ông nói. “Dù gì cũng tốt hơn là tôi phải giam cậu ta lại.”
“Vâng,” tôi đáp. Tôi liếc trộm ông. Ông chừng bốn lăm tuổi, với mái tóc húi cua điểm bạc và cặp mắt xanh lơ. Tư thế hết sức đĩnh đạc. Hôm nay ông đã mở miệng hai lần với giọng điệu khiến tôi nghĩ rằng ông giống bạn hơn là thù. Có lẽ tôi nên cho ông cơ hội. Nhưng hình như ông quá trung thành với Coin…
Một loạt tiếng lách cách vang rộn lên. Thang máy khẽ ngưng lại rồi bắt đầu di chuyển sang trái.
“Nó đi sang bên ạ?” tôi hỏi.
“Phải. Có cả một mạng lưới đường thang máy dưới Quận 13,” ông đáp. “Cái này nằm ngay trên phương tiện nối với cầu không vận thứ năm. Nó sẽ đưa chúng ta tới Kho Tàu bay.”
Kho Tàu bay. Hầm ngục. Ban Phòng thủ Đặc biệt. Nơi nào đó nuôi trồng thực phẩm. Sản xuất năng lượng. Thanh lọc không khí và nước. “Quận 13 còn lớn hơn cháu nghĩ.”
“Không dám nhận vơ hết đâu,” Boggs nói. “Chúng tôi cơ bản chỉ kế thừa nơi này thôi. Tất cả những gì chúng tôi có thể là giữ nó vận hành.”
Tiếng lách cách lại nổi lên. Chúng tôi lại được hạ xuống trong thoáng chốc - chỉ vài tầng - rồi cửa thang máy mở ra dẫn vào Kho Tàu bay.
“Ồ,” tôi ngỡ ngàng thốt lên khi nhìn thấy cả một phi đội. Những chiếc tàu bay đủ loại hàng nối hàng. “Mọi người cũng được thừa hưởng cả những thứ này ư?”
“Một số là do chúng tôi chế tạo. Một số lấy từ không lực của Capitol. Tất nhiên chúng đã được cải tiến rồi,” Boggs nói.
Lòng tôi lại nhói lên niềm căm ghét Quận 13. “Mọi người có tất cả mọi thứ thế này mà lại để các quận còn lại vô phương tự vệ trước Capitol.”
“Không đơn giản vậy đâu,” ông đáp trả. “Mãi đến gần đây tình thế mới cho phép chúng tôi phát động phản công. Còn khi ấy chúng tôi chỉ kịp sống sót trong đường tơ kẽ tóc. Sau khi lật đổ và hành quyết đám người Capitol, chúng tôi chỉ có dăm người còn biết lái máy bay. Chúng tôi lẽ ra đã có thể cho họ tan xác bằng tên lửa hạt nhân, phải. Nhưng câu hỏi lớn hơn vẫn luôn tồn tại: Nếu chúng ta lao vào cuộc chiến tranh kiểu đó với Capitol thì liệu còn người nào sống sót không?”
“Nghe chẳng khác gì Peeta nói. Thế mà các bác lại gọi cậu ấy là kẻ phản bội,” tôi bật lại.
“Vì cậu ta kêu gọi đình chiến,” Boggs nói. “Cháu sẽ thấy không bên nào dùng vũ khí hạt nhân đâu. Chúng ta sẽ làm theo cách cổ điển. Đằng kia kìa, Chiến binh Everdeen. Ông chỉ một chiếc tàu bay nhỏ hơn.
Tôi leo lên bậc thang thì thấy trong đó chật cứng đoàn quay phim và các thiết bị. Những người khác đều vận quân trang áo liền quần màu xám sẫm của Quận 13, kể cả Haymitch, dù trông ông khá khó chịu với cái cổ áo ôm khít.
Fulvia Cardew chen vào rồi kêu lên thất vọng khi thấy tôi đã rửa sạch mặt. “Bao công sức thế là chui xuống lỗ cống hết cả. Tôi không trách cô đâu, Katniss. Chỉ là chẳng mấy ai được trời phú cho khuôn mặt ăn hình như anh ta đâu.” Cô ta thúc vào Gale lúc này đang nói chuyện với Plutarch, xoay anh về phía chúng tôi. “Chẳng phải anh ta rất đẹp trai sao?”
Đúng là Gale nổi bần bật trong bộ đồng phục. Nhưng với những gì chúng tôi từng trải qua cùng nhau thì câu này chỉ làm cả hai lúng túng. Tôi đang vắt óc tìm lời đối đáp dí dỏm thì Boggs nói sóng sượng, “Ừm, đừng mong chúng tôi lóa mắt quá làm gì. Vừa nãy chúng tôi còn thấy Finnick Odair mặc quần lót cơ.” Tôi quyết định từ rày sẽ quý mến Boggs.
Lời cảnh báo chuẩn bị cất cánh vang lên, tôi liền ngồi xuống thắt dây an toàn bên cạnh Gale, đối diện Haymitch và Plutarch. Chúng tôi lướt qua một mê cung đường hầm dẫn ra cầu không vận. Một thiết bị tựa thang máy chầm chậm nâng máy bay lên qua các tầng. Bất thình lình chúng tôi đã ở bên ngoài cánh đồng bát ngát bao quanh là rừng cây, rồi chúng tôi phóng khỏi cầu, chìm lẫn vào mây.
Giờ cơn bột phát dẫn đến sứ mệnh này đã lắng xuống, tôi nhận ra mình chẳng mảy may biết sẽ phải đối mặt với những gì trong hành trình đến Quận 8. Thật ra, tôi chỉ biết láng máng về tình hình chiến tranh cụ thể. Hay làm thế nào để giành chiến thắng. Hay chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi thắng lợi.
Plutarch cố giải thích bằng những thuật ngữ đơn giản cho tôi hiểu. Trước hết, hiện tại quận nào cũng đều chiến đấu với Capitol, trừ Quận 2, vốn từ trước đến nay vẫn được kẻ thù của chúng tôi chiếu cố dù cũng phải tham gia vào Đấu trường Sinh tử như ai. Họ có nhiều lương thực hơn và điều kiện sống tốt hơn. Sau Kỳ Đen tối và sau khi Quận 13 bị cho là đã diệt vong, Quận 2 được trở thành trung tâm phòng thủ mới của Capitol, mặc dù nó được công khai xem là nơi tập trung nhiều mỏ đá nhất nước, tương tự như Quận 13 nổi tiếng vì than chì. Quận 2 không chỉ chế tạo vũ khí mà còn đào tạo và thậm chí cung cấp các Trị an viên.
“Ý ông là… một số Trị an viên sinh ra ở Quận 2?” tôi hỏi “Tôi tưởng tất cả bọn họ đều là dân Capitol.”
Plutarch gật đầu. “Người ta để cô tưởng vậy thôi. Một số đúng là dân Capitol thật. Nhưng dân số thủ đô không đủ để duy trì một lực lượng quy mô cỡ đó. Thế rồi lại nảy sinh vấn đề tuyển dụng công dân Capitol gốc đến sống cuộc đời buồn tẻ thiếu thốn ở các quận. Cam kết làm Trị an viên hai mươi năm, không kết hôn, không sinh con đẻ cái. Có người làm vì danh dự, có người nhận việc này thay cho án phạt. Ví dụ, tham gia đội Trị an là được xóa nợ. Nhiều người Capitol ngập ngụa trong nợ nần nhưng không phải ai cũng thích hợp làm nhiệm vụ quân sự. Vì thế chúng tôi quay sang Quận 2 tìm lực lượng bổ sung. Đó là cách để họ thoát khỏi cảnh nghèo đói và cuộc sống nơi mỏ đá. Họ được nuôi dạy với tinh thần chiến binh. Cô đã thấy con cái của họ háo hức tình nguyện làm vật tế thế nào rồi đấy.”
Cato và Clove. Brutus và Enobaria. Tôi cũng đã thấy chúng háo hức và khát máu đến mức nào. “Nhưng tất cả các quận khác đều cùng phe với chúng ta phải không?” tôi hỏi.
“Phải. Mục tiêu của chúng ta là kiểm soát từng quận một, Quận 2 để cuối cùng, hòng cắt đứt chuỗi cung ứng của Capitol. Một khi Capitol suy yếu, chúng ta sẽ tấn công nó trực diện,” Plutarch nói. “Còn có cả núi thách thức khác. Nhưng cứ làm đến đâu hay đến đó.”
“Nếu chúng ta chiến thắng, ai sẽ lãnh đạo chính phủ?” Gale hỏi.
“Tất cả,” Plutarch bảo anh. “Chúng ta sẽ xây dựng một nền cộng hòa cho phép người dân mỗi quận và Capitol có thể bầu đại biểu riêng thay họ cất cao tiếng nói trong một chính phủ tập trung hóa. Đừng tỏ vẻ nghi ngờ thế chứ; trước đây đã thành công rồi đấy.”
“Trong sách,” Haymitch lẩm bẩm.
“Trong sách sử,” Plutarch chỉnh lại. “Và nếu tổ tiên của chúng ta làm được thì chúng ta cũng làm được.”
Nói thật là nghe chừng tổ tiên của chúng tôi cũng không có gì đáng để khoe khoang tự hào cho lắm. Ý tôi là, cứ nhìn tình trạng mà họ để lại cho chúng tôi mà xem, với các cuộc chiến và một hành tinh rạn nứt. Rõ ràng là họ chẳng quan tâm chuyện gì sẽ xảy ra với thế hệ sau. Nhưng ý tưởng về nền dân chủ này xem ra là một bước cải thiện với chính phủ đương thời.
“Thế nhỡ thua thì sao?” tôi vặn.
“Nhỡ chúng ta thua á?” Plutarch ngó ra ngoài nhìn mây, nhăn nhúm nở nụ cười mỉa mai. “Thế thì tôi đoán Đấu trường Sinh tử năm tới sẽ cực kỳ khó quên. À, mà nhắc mới nhớ.” Ông ta móc từ áo gi lê ra một lọ nhỏ, lắc lắc để vài viên thuốc màu tím sẫm rơi vào lòng bàn tay rồi chìa ra cho tôi. “Chúng tôi gọi cái này là
dâu độc
để vinh danh cô, Katniss. Giờ không phải ai bị bắt phiến quân cũng lo liệu được. Nhưng tôi đảm bảo là không đau đớn chút nào đâu.”
Tôi cầm lấy viên thuốc, không chắc nên cất vào đâu. Plutarch vỗ vào một chỗ trên vai tôi phía trước ống tay áo trái. Tôi xem xét thì phát hiện thấy một cái túi nhỏ xíu, viên thuốc nằm đây vừa được cất giữ lại được giấu an toàn. Dẫu bị trói tay, tôi vẫn có thể chúi đầu ra trước mà cắn không vướng víu.
Dường như Cinna đã tính toán hết mọi thứ.
7.
Chiếc tàu bay quay vòng hạ cánh chớp nhoáng xuống một con đường rộng rãi ở rìa Quận 8. Gần như ngay lập tức cánh cửa bật mở, thang được thả xuống, và chúng tôi phóng xuống lớp nhựa đường. Ngay khi người cuối cùng tiếp đất, thiết bị được thu lại. Rồi chiếc tàu bay lại cất cánh mất hút.
Tôi bị bỏ lại với một đội vệ sĩ gồm Gale, Boggs và hai chiến binh khác. Đoàn quay phim gồm hai tay máy vạm vỡ người Capitol gắn những máy quay lưu động nặng nề quanh người trông như lớp vỏ côn trùng, một nữ đạo diễn tên là Cressida đầu cạo trọc xăm những dây leo xanh, cùng trợ lý của chị, Messalla, một chàng trai trẻ mảnh khảnh đeo cả lỗ khuyên tai. Nhìn kỹ, tôi thấy lưỡi anh ta cũng xỏ khuyên, một vòng khuyên gần quả bóng bạc to bằng viên bi.
Lúc Boggs dồn chúng tôi ra khỏi đường tiến về phía một dãy nhà xưởng thì chiếc tàu bay thứ hai hạ cánh, chở theo trang thiết bị y tế và một đoàn sáu bác sĩ - nhìn trang phục trắng nổi bật của họ là tôi biết. Tất cả chúng tôi nối chân Boggs men theo một con hèm nhỏ nằm giữa hai nhà xưởng xám xịt. Chỉ thảng hoặc mới xuất hiện một chiếc thang dẫn lên mái nhà làm đứt đoạn những bức tường kim loại nham nhở. Khi ra đến ngoài phố, cứ như thể chúng tôi bước vào một thế giới khác vậy. Những người bị thương trong trận đánh bom sáng nay đang đưa vào. Trên cáng tự chế, trên xe cút kít hay xe bò, được vác trên vai hay nằm trong vòng tay siết chặt. Chảy máu, què cụt bất tỉnh. Được những con người tuyệt vọng khiêng vào căn nhà xưởng sơn chữH nhòe nhoẹt trên đầu ngưỡng cửa. Y như một cảnh tượng trong căn bếp xưa cũ, nơi mẹ tôi chữa trị cho những người hấp hối, nhưng số bệnh nhân thì nhiều gấp mười lần, năm mươi lần, một trăm lần. Những tưởng sẽ được đưa tới những tòa nhà bị oanh tạc, vậy mà tôi lại thấy mình đối mặt với những cơ thể nát bấy.
Đây là nơi họ định ghi hình tôi ư? Tôi quay sang Boggs. “Không được đâu,” tôi nói. “Ở đây cháu không làm tốt được đâu.”
Hẳn là ông đã thấy vẻ kinh hãi trong mắt tôi, vì ông ngưng lại một thoáng rồi đặt tay lên vai tôi. “Cháu sẽ làm được. Cứ để họ gặp cháu. Việc đó sẽ giúp ích cho họ hơn bất cứ bác sĩ nào trên đời.”
Một phụ nữ đang hướng dẫn cho bệnh nhân mới đến bỗng nhìn thấy chúng tôi, chớp mắt nhìn lại, rồi sải chân bước tới. Đôi mắt nâu của chị sưng húp vì mệt mỏi, người chị toát ra mùi kim loại và mồ hôi. Một dải băng quấn quanh cổ lẽ ra cần được thay từ ba ngày trước. Dây của món vũ khí tự động mà chị đeo chéo sau lưng chọc vào gáy khiến chị phải nhúc nhắc vai để nó về đúng chỗ. Chị búng ngón cái ra lệnh cho các bác sĩ vào trong nhà xưởng. Họ tuân theo không thắc mắc.
“Đây là Chỉ huy Paylor của Quận 8,” Boggs nói. “Chỉ huy, đây là Chiến binh Katniss Everdeen.”
Trông chị khá trẻ để làm chỉ huy. Khoảng ngoài ba mươi. Nhưng giọng nói đầy vẻ quyền uy của chị khiến ta cảm thấy rằng không phải tùy tiện mà chị ngồi được vào vị trí đó. Đứng bên chị, trong bộ trang phục mới toanh, sạch sẽ bóng bẫy cảm thấy mình như gà con mới nở, chưa được thử lửa và chỉ vừa học cách định hướng.
“Vâng, tôi biết cô ấy là ai rồi,” Paylor nói. “Vậy là em còn sống. Lúc đó bọn tôi cũng không chắc lắm.” Tôi có nhầm không hay đúng là giọng chị phảng phất vẻ buộc tội?
“Chính em vẫn không chắc nữa là,” tôi đáp.
“Vẫn đang hồi phục.” Boggs gõ gõ trán. “Chấn thương não khá nặng.” Ông hạ thấp giọng trong giây lát. “Bị sẩy thai. Nhưng cô bé nhất quyết đòi tới gặp người dân bị thương.”
“Ừm, người bị thương thì chúng tôi có nhiều lắm,” Paylor nói.
“Chị nghĩ đây là ý hay à?” Gale hỏi, nhíu mày nhìn bệnh viện. “Tập trung những người bị thương lại như thế này à?”
Tôi thì thấy không ổn. Bất kỳ loại bệnh truyền nhiễm nào cũng sẽ lây lan khắp chốn này như đám cháy rừng.
“Tôi nghĩ thế còn có phần tốt hơn là để họ chết,” Paylor đáp.
“Em không có ý đó,” Gale bảo chị.
“Chà, hiện tại thì đó cũng là lựa chọn dự phòng của tôi. Nhưng nếu các em tìm ra giải pháp thứ ba và được bà Coin ủng hộ thì tôi xin lắng nghe.” Paylor vẫy tôi tiến vào cửa. “Vào đi, Húng nhại. Tất nhiên là đưa cả các bạn em vào nữa.”
Tôi liếc lại nhìn bộ sậu kỳ quái của mình, lên dây cót tinh thần rồi theo chị vào bệnh viện. Một loại rèm công nghiệp nặng nề treo khắp chiều dài tòa nhà, tạo thành một hành lang rộng rãi. Tử thi nằm san sát bên nhau, rèm lướt qua đầu, vải trắng che kín mặt. “Chúng tôi có một ngôi mộ tập thể nằm ở phía Tây cách đây vài khu nhà, nhưng tôi không có đủ nhân lực để đưa họ đi,” Paylor nói. Thấy rèm có khe hở, chị vén rộng ra.
Tôi nắm chặt cổ tay Gale. “Đừng rời khỏi em,” tôi thì thầm.
“Anh ở ngay đây,” anh khẽ đáp lại.
Tôi vừa bước qua rèm thì mọi thứ đã xộc vào các giác quan của tôi. Tôi phải bịt mũi ngay lập tức để chặn lại thứ mùi hôi hám của vải bẩn, mùi thịt rữa, mùi nôn mửa, tất cả đều nồng nặc trong cái nóng của nhà xưởng. Người ta đã dựng cửa sổ trần giao với mái nhà kim loại cao tít lên, nhưng chút không khí nào lọt qua cũng chẳng thể xua tan bớt sương mù bên dưới. Dải nắng mỏng manh là nguồn sáng duy nhất, và khi mắt đã quen dần, tôi nhìn ra những người bị thương nằm la liệt, trên giường bạt, ván gỗ, sàn nhà, vì có quá nhiều người cần chỗ. Tiếng ruồi đen vo ve, tiếng bệnh nhân rên rỉ đau đớn, tiếng người thân chăm sóc bệnh nhân nức nở hòa thành một điệp khúc nhức nhối.
Ở các quận chúng tôi nào có bệnh viện đúng nghĩa. Chúng tôi chết ở nhà, nhưng so với cảnh tượng trước mắt tôi bây giờ thì việc đó có vẻ còn dễ chịu hơn nhiều. Rồi tôi nhớ ra có lẽ những người này đã mất nhà trong vụ đánh bom.
Mồ hôi bắt đầu chảy dọc sống lưng tôi, làm lòng bàn tay tôi ướt đẫm. Tôi thở bằng miệng để đỡ cảm thấy mùi thối. Những đốm đen bồng bềnh trước mắt tôi, và tôi nghĩ rằng đây đúng là thời cơ thuận lợi để ngất. Nhưng rồi tôi liếc thấy Paylor đang quan sát mình chăm chú, chờ xem tôi sẽ bộc lộ khí chất như thế nào và có ai trong họ đúng không khi cho rằng có thể trông cậy vào tôi. Thế là tôi rời khỏi Gale, gượng mình dấn sâu hơn vào nhà xưởng, bước trên lối đi hẹp giữa hai dãy giường.
“Katniss?” một giọng nói khàn khàn cất lên từ bên trái tôi, tách biệt khỏi tiếng ồn bao trùm khắp nhà xưởng. “Katniss à?” Một bàn tay vươn khỏi màn sương về phía tôi. Tôi bèn nắm chặt đỡ lấy. Đó là bàn tay của một phụ nữ trẻ bị thương ở chân. Máu thấm qua dải băng dày đang bu đầy ruồi. Mặt chị lộ vẻ đau đớn, nhưng còn có vẻ gì đó, cái vẻ dường như hoàn toàn lạc lõng với hoàn cảnh của chị. “Có thật là em không?”
“Vâng, là em đây,” tôi thốt lên.
Niềm vui. Đó chính là vẻ mặt vui mừng. Nghe thấy giọng tôi, niềm vui ấy bừng sáng, xoa dịu nỗi đau trong thoáng lát. “Em còn sống! Thế mà bọn chị không biết. Người ta nói em còn sống nhưng bọn chị lại chẳng biết!” chị phấn khích nói.
“Em bị thương khá nặng. Nhưng đỡ rồi,” tôi nói. “Rồi chị cũng thế.”
“Chị phải kể cho em trai chị biết mới được!” Người phụ nữ gắng gượng ngồi dậy gọi ai đó nằm cách vài giường. “Eddy! Eddy! Cô ấy ở đây này! Katniss Everdeen đây này!”
Một cậu bé trạc mười hai tuổi quay sang chỗ chúng tôi. Bông băng che mất nửa khuôn mặt cậu. Bên miệng mà tôi trông thấy mấp máy như thể muốn cất tiếng reo vui. Tôi đến bên cậu, vuốt mớ tóc xoăn nhễ nhại khỏi trán cậu. Thì thầm lời chào. Cậu không nói được, nhưng một bên mắt cậu cứ nhìn tôi đăm đăm như cố ghi nhớ từng đường nét trên khuôn mặt tôi.
Tôi nghe thấy tên mình rì rầm lan qua bầu không khí nóng nực, tản khắp bệnh viện. “Katniss! Katniss Everdeen!” Những âm thanh đau đớn sầu bi dần lắng xuống, nhường chỗ cho những lời hy vọng. Tứ phía vang lên các giọng nói vẫy gọi tôi. Tôi bắt đầu bước đi, siết chặt những bàn tay chìa về phía mình, chạm vào phần lành lặn của những người không thể nhấc chân tay, nói chào bác, anh có khỏe không, rất vui được gặp chị. Không có gì lớn lao, không có lời lẽ truyền cảm hứng hoa mỹ nào. Nhưng chẳng quan trọng. Boggs nói đúng. Chính việc nhìn thấy tôi, còn sống, đã là nguồn cảm hứng với họ rồi.
Những ngón tay khao khát vồ vập tôi, muốn chạm vào da thịt tôi. Khi một bác bị thương nặng khum tay ôm lấy khuôn mặt tôi, tôi thầm cảm ơn Dalton vì đã khuyên mình rửa sạch lớp trang điểm. Sao mà tôi cảm thấy lố bịch và chướng mắt đến thế khi phải đeo chiếc mặt nạ lòe loẹt kiểu Capitol trước mặt những người này. Tổn thương, mỏi mệt, bất toàn. Chính nhờ vậy mà họ nhận ra tôi, bởi thế mà tôi thuộc về họ.
Bất chấp cuộc phỏng vấn gây tranh cãi với Caesar, nhiều người vẫn hỏi về Peeta, an ủi tôi rằng họ biết cậu nói vậy là vì bị ép buộc. Tôi cố hết sức tỏ ra lạc quan về tương lai của chúng tôi, nhưng họ thật sự đau lòng khi biết tin tôi sẩy thai. Tôi muốn thú nhận với bác gái đang nức nở kia rằng tất cả chỉ là trò lừa đảo, một nước cờ, nhưng vạch trần chuyện Peeta nói dối chẳng có lợi gì cho hình ảnh của cậu cả. Hoặc của tôi. Hoặc của đại cục.
Tôi bắt đầu hiểu rõ họ đã phải bỏ bao công sức để bảo vệ tôi. Rằng tôi có ý nghĩa thế nào với phiến quân. Cuộc chiến hiện tại của tôi chống lại Capitol những tưởng chỉ là một hành trình đơn độc vậy mà thực ra lại không chỉ có mình tôi. Tôi có hàng nghìn, hàng nghìn người dân các quận ủng hộ. Tôi đã là Húng nhại của họ từ lâu trước khi chấp nhận vai trò này.
Một cảm giác mới bắt đầu nảy mầm trong tôi. Nhưng phải đến khi đứng bên bàn, vẫy chào tạm biệt lần cuối dàn đồng thanh khàn khàn hô vang tên mình, tôi mới định nghĩa được nó. Sức mạnh. Tôi sở hữu thứ sức mạnh mà tôi chưa giờ biết là mình có. Snow đã biết ngay sau khi tôi chìa nắm dâu độc ra. Plutarch biết khi cứu tôi khỏi trường đấu. Và giờ Coin cũng biết. Mãnh liệt đến nỗi bà ta phải công khai nhắc nhở thuộc hạ của mình rằng tôi là kẻ không thể kiểm soát.
Khi chúng tôi trở ra ngoài, tôi dựa vào nhà xưởng nghỉ lấy hơi, nhận bi đông nước từ tay Boggs. “Cháu làm tốt lắm,” ông nói.
Thế đấy, tôi đã không ngất hay nôn mửa hay vừa chạy vừa la hét. Tôi chủ yếu chỉ nương theo dòng xúc cảm cuộn trào khắp nơi ấy.
“Chúng tôi quay được mấy cảnh ổn phết,” Cressida nói. Tôi nhìn đội quay phim trông như côn trùng, mồ hôi đổ ròng ròng bên dưới đống thiết bị. Messalla nguệch ngoạc ghi chép. Tôi quên khuấy mất lúc đó họ thậm chí còn đang quay phim mình.
“Thật ra tôi có làm mấy đâu,” tôi đáp.
“Cháu phải tuyên dương mình vì những gì đã làm trong quá khứ chứ,” Boggs nói.
Những gì tôi đã làm trong quá khứ ư? Nghĩ đến dấu vết tan hoang mà mình để lại, tôi cảm thấy đầu gối bủn rủn bèn ngồi thụp xuống. “Lộn xộn lắm.”
“Ừ thì cháu không hề hoàn hảo. Nhưng các khoảnh khắc là chân thực, cháu sẽ phải tuyên dương thôi,” Boggs nói.
Gale ngồi xổm xuống bên tôi, lắc đầu. “Anh không tin nổi em lại để tất cả bọn họ chạm vào người mình. Anh cứ tưởng em sẽ phi thẳng ra cửa kia.”
“Thôi đi,” tôi bật cười.
“Mẹ em mà thấy cảnh này sẽ tự hào về em lắm,” anh nói.
“Mẹ có khi còn chẳng để ý đến em đâu. Tình cảnh trong đó sẽ làm mẹ sợ chết khiếp.” Tôi quay sang hỏi Boggs. “Ở quận nào cũng như vậy ạ?”
“Phải. Phần lớn đều bị tấn công. Chúng tôi cố gắng gửi cứu trợ tới bất cứ nơi nào có thể, nhưng không đủ.” Ông ngưng lại giây lát, sao nhãng bởi thứ gì đó trong tai nghe. Tôi nhận ra mình chưa một lần nghe thấy giọng Haymitch, bèn thử lay lay tai nghe của mình, tự hỏi không biết nó có hỏng không. “Chúng ta phải quay lại bãi đáp. Ngay lập tức,” Boggs nói, giơ một tay ra kéo tôi đứng dậy. “Có chuyện rồi.”
“Chuyện kiểu gì ạ?” Gale hỏi.
“Máy bay ném bom sắp đến,” Boggs đáp. Ông vòng ra sau gáy tôi, kéo mạnh chiếc mũ giáp do Cinna thiết kế chụp lên đầu tôi. “Đi thôi!”
Không rõ chuyện gì đang diễn ra, tôi bèn nhấc chân chạy men theo mặt tiền nhà xưởng, hướng đến con ngõ dẫn tới bãi đáp. Nhưng tôi không ngửi thấy mùi nguy hiểm cận kề. Bầu trời quang đãng, xanh vắt không một gợn mây. Đường phố thông thoáng, chỉ có những người khiêng người bị thương vào bệnh viện. Không có kẻ thù, chẳng có báo động. Rồi tiếng còi bắt đầu rú lên. Chỉ trong vài giây, những chiếc máy bay tầm thấp của Capitol bay theo hình chữ V trên đầu chúng tôi, và bom bắt đầu trút xuống. Tôi bị hất văng vào tường trước của nhà xưởng. Cơn đau thấu xương nhói lên ngay phía trên khoeo chân phải. Thứ gì đó cũng đập vào lưng tôi, nhưng hình như không xuyên qua áo gi lê. Tôi gượng đứng lên, nhưng Boggs ấn tôi xuống, lấy thân mình che chở cho tôi. Mặt đất rùng rùng dưới chân tôi khi bom từ máy bay ào ạt nã xuống, nổ đùng đoàng. Thật đáng sợ khi bị ép sát vào tường giữa cơn mưa bom đạn. Cha tôi từng dùng câu nào để nói về việc chết dễ như chơi nhỉ?
Dễ như bắt cá trong chậu.
Chúng tôi là cá, con phố này là cái chậu.
“Katniss!” Tôi giật mình khi nghe thấy giọng Haymitch bên tai.
“Gì đấy ạ? Vâng, gì đấy ạ? Cháu đây!” tôi đáp.
“Nghe ta nói này. Chúng ta không thể hạ cánh giữa trận bom được, nhưng cháu không được phép để mình bị phát hiện,” ông nói.
“Tức là chúng không biết cháu ở đây?” tôi vẫn cho rằng như thường lệ, chính sự xuất hiện của tôi đã mang đến đòn trừng phạt này.
“Bên tình báo cho là vậy. Hẳn cuộc không kích này đã được lên kế hoạch từ trước,” Haymitch nói.
Giờ đến lượt giọng Plutarch vang lên, bình tĩnh nhưng đầy uy lực. Giọng của một vị Trưởng Ban Tổ chức Đấu trường Sinh tử đã quen ra quyết định dưới áp lực. “Có một nhà xưởng màu xanh nhạt cách chỗ cô ba nhà. Trong đó có một boong ke nằm ở góc xa phía Bắc. Mọi người tới đó được không?”
“Chúng tôi sẽ cố hết sức,” Boggs nói. Chắc hẳn Plutarch truyền lời đến mọi tai nghe, vì các vệ sĩ cùng đội quay phim đã dợm đứng dậy. Tôi đưa mắt tìm Gale theo bản năng thì thấy anh cũng đã đứng lên, có vẻ không hề hấn gì.
“Từ giờ đến đợt bom tiếp theo, mọi người có khoảng bốn lăm giây,” Plutarch nói.
Tôi rên lên đau đớn khi chân phải đỡ lấy trọng lượng cơ thể, nhưng vẫn tiếp tục tiến bước. Không có thời gian xem xét vết thương. Đằng nào thì giờ cũng không nên nhìn. May thay tôi đang đi đôi giày mà Cinna thiết kế. Nhựa đường bám vào đế giày khi tôi đặt chân xuống nhưng bị văng ra ngay lúc tôi nhấc chân lên. Nếu vẫn đang đi đôi giày lệch cỡ được Quận 13 phát cho thì hẳn tôi đã chẳng làm được gì. Boggs dẫn đầu, nhưng không ai vượt qua tôi. Thay vào đó họ nhịp bước cùng tôi, bảo vệ hai bên, sau lưng tôi. Tôi dồn sức tăng tốc trong khi những giây đồng hồ tích tắc trôi qua. Chúng tôi chạy qua nhà xưởng xám xịt thứ hai rồi men theo một khu nhà màu nâu dơ dáy. Tôi thấy thấp thoáng phía trước một mặt tiền xanh mờ. Nơi đặt boong ke. Chúng tôi vừa đến một con ngõ khác, chỉ cần băng qua là đến cửa thì đợt bom thứ hai bắt đầu. Theo bản năng, tôi lao vụt vào ngã lăn về phía bức tường xanh. Lần này chính Gale nhào tới chỗ tôi, tăng thêm một lớp bảo vệ, che chắn tôi khỏi bom đạn. Đợt này có vẻ dài hơn, nhưng chúng tôi đã đi xa rồi.
Tôi quay sang bên thấy mình nhìn thẳng vào mắt Gale. Trong khoảnh khắc thế giới như lu mờ, chỉ còn khuôn mặt đỏ bừng của anh, mạch hằn rõ trên thái dương, đôi môi hé mở khi anh cố lấy lại hơi.
“Em không sao chứ?” anh hỏi, lời anh nói gần như bạt đi bởi một tiếng nổ.
“Vâng. Có lẽ chúng chưa phát hiện ra mình đâu,” tôi đáp. “Ý em là chúng không đuổi theo mình.”
“Không, chúng nhắm vào thứ khác,” Gale nói.
“Em biết, nhưng ở đó còn gì đâu ngoài…” Hai chúng tôi cùng ngộ ra một lúc.
“Bệnh viện.” Gale đứng phắt dậy hét lên với những người khác. “Chúng nhắm vào bệnh viện!”
“Không phải chuyện của các người,” Plutarch cứng rắn nói. “Đến boong ke ngay.”
“Nhưng ở đó chỉ còn lại người dân bị thương!” tôi bật lại.
“Katniss.” Tôi nghe thấy giọng cảnh báo của Haymitch, biết ngay ông định nói gì. “Đừng có mà nghĩ đến chuyện…!” Tôi giật phắt tai nghe ra, để nó lủng lẳng trên dây nối. Không còn bị phân tâm nữa, tôi nghe thấy một âm thanh khác. Tiếng súng máy từ mái khu nhà màu nâu dơ dáy vọng qua ngõ. Ai đó đang bắn trả. Không để cho ai kịp ngăn lại, tôi lao đến chiếc thang gắn trên tường và bắt đầu leo lên. Trèo lên cao. Một trong những việc tôi làm tốt nhất.
“Đừng dừng lại!” tôi nghe thấy tiếng Gale đằng sau. Rồi có tiếng ủng của anh đạp lên mặt ai đó. Nếu là mặt Boggs thì sau này Gale ăn đòn đủ. Tôi chạm tới mái nhà và lê mình lên lớp hắc ín. Tôi dừng đủ lâu để kéo Gale lên bên cạnh, rồi chúng tôi tiến tới dãy ụ súng ở phía nhà xưởng trông ra đường. Hình như mỗi ụ có vài phiến quân. Chúng tôi phi đến chỗ ụ súng có hai chiến binh trực chiến, lom khom sau rào chắn.
“Boggs có biết các em lên đây không?” Tôi thấy Paylor đằng sau một khẩu súng phía bên trái tôi, nhìn chúng tôi vẻ dò hỏi.
“Tôi cố lảng tránh mà không nói dối trắng trợn. “Bọn em ở đâu mà ông ấy chả biết, thế thôi.”
Paylor cười. “Tôi cá là ông ấy biết. Các em đã được tập cái này chưa?” Chị vỗ vào báng súng.
“Rồi. Ở Quận 13,” Gale đáp. “Nhưng em thích dùng vũ khí của mình hơn.”
“Phải, bọn em có cung.” Tôi giơ cây cung của mình lên, rồi nhận ra trông nó như đồ trang trí. “Nó chiến hơn vẻ ngoài nhiều.”
“Phải thế chứ,” Paylor nói. “Được rồi. Chúng tôi đoán có thêm ít nhất ba đợt bom nữa. Chúng phải bỏ kính bảo hộ ra trước khi ném bom. Đó là cơ hội cho chúng ta. Cúi xuống!” Tôi chỉnh vị trí để ngắm bắn từ một bên đầu gối.
“Nên dùng lửa trước,” Gale nói.
Tôi gật đầu, rút từ ống tên bên phải ra một mũi tên. Nếu chúng tôi bắn trượt, mũi tên này sẽ đáp xuống đâu đó - không chừng là vào nhà xưởng bên kia đường. Lửa có thể dập, nhưng sức tàn phá mà một vụ nổ gây ra thì khó có thể khắc phục được.
Bất thình lình chúng xuất hiện trên bầu trời, cách hai khu nhà, có lẽ là hàng trăm mét trên đầu chúng tôi. Bảy máy bay ném bom cỡ nhỏ bay theo hình chữ V. “Ngỗng!” tôi hét lên với Gale. Anh sẽ hiểu chính xác ý tôi. Trong suốt mùa di trú, khi săn gia cầm, chúng tôi đã nghĩ ra một phương pháp phân chia để không ai nhắm cùng một mục tiêu. Tôi đảm nhận phần cánh chữ V ở phía xa, Gale nhận phần cánh gần, chúng tôi sẽ thay phiên nhau bắn con đầu tiên. Không còn thời gian bàn bạc thêm. Tôi áng chừng thời gian chết trên máy bay rồi buông tên. Tôi bắn trúng phần cánh trong của một chiếc, khiến nó bùng cháy. Gale bắn trượt chiếc máy bay ở vị trí mũi nhọn. Một ngọn lửa bùng lên trên mái một nhà xưởng trống đối diện chỗ chúng tôi. Anh lầm bầm chửi thề.
Chiếc tôi bắn trúng bay chệch ra khỏi hàng nhưng vẫn thả bom. Tuy vậy nó không bay đi mất. Một chiếc khác mà tôi cho là bị dính hỏa lực cũng không. Sự cố hẳn đã cản trở kính bảo hộ phục hồi hoạt động.
“Bắn hay lắm,” Gale nói.
“Em thậm chí không định nhắm vào chiếc đó,” tôi lẩm bẩm. Tôi chỉnh ống ngắm vào chiếc bay trước nó. “Chúng bay nhanh hơn ta tưởng.”
“Vào vị trí!” Paylor hô vang. Đợt máy bay tiếp theo xuất hiện.
“Lửa không ăn thua đâu,” Gale nói. Tôi gật đầu và cả hai liền tra những mũi tên tẩm thuốc nổ vào cung. Đằng nào dãy nhà xưởng đối diện cơ hồ cũng chẳng còn ai.
Khi những chiếc máy bay lặng lẽ lướt tới, tôi bèn đưa ra một quyết định khác. “Em đứng lên đây!” tôi hét lên với Gale rồi bật dậy. Đây là tư thế mà tôi bắn chính xác nhất. Tôi dẫn trước, bắn thẳng vào chiếc bay ở vị trí mũi nhọn, làm nó thủng một lỗ ở bụng. Gale bắn văng đuôi của chiếc thứ hai. Nó chao đảo rơi lao xuống đường, châm ngòi cho một loạt tiếng nổ khi lượng hàng mang theo phát nổ.
Không cảnh báo trước, đội hình máy bay chữ V thứ ba từ từ lộ diện. Lần này Gale bắn trúng phóc vào chiếc bay ở vị trí mũi nhọn. Tôi bắn rơi cánh của chiếc máy bay ném bom thứ hai, khiến nó bổ nhào vào chiếc đằng sau. Hai chiếc cùng đâm chúi xuống mái của khu nhà xưởng đối diện bệnh viện. Chiếc thứ tư rơi vì trúng đạn.
“Được rồi, xong,” Paylor nói.
Lửa và khói đen dày đặc bốc lên từ đống đổ nát che mờ tầm nhìn của chúng tôi. “Chúng có nhắm trúng bệnh viện không?”
“Hẳn rồi,” chị u ám nói.
Khi hộc tốc chạy đến chỗ chiếc thang ở tít cuối nhà xưởng, tôi ngạc nhiên thấy Messalla và một “chú côn trùng” ló ra từ sau ống thông hơi. Tôi cứ tưởng họ vẫn náu trong ngõ.
“Anh thích họ rồi đấy,” Gale nói.
Tôi lồm cồm trèo xuống thang. Khi chạm chân xuống đất, tôi thấy một tay vệ sĩ, Cressida, và một “chú côn trùng” khác đang đợi. Tôi cứ tưởng sẽ gặp phải sự chống trả, nhưng Cressida chỉ vẫy tôi về phía bệnh viện. Chị hét lên, “Tôi không quan tâm, Plutarch! Cho tôi thêm năm phút nữa thôi!” Vốn không thuộc kiểu người được cho phép mới đi, tôi lao ngay ra đường.
“Ôi không,” tôi thì thầm khi nhìn thấy bệnh viện. Những gì từng là bệnh viện. Tôi đi qua những người bị thương, qua chỗ máy bay rơi ngun ngút cháy, đăm đăm nhìn thảm cảnh phía trước. Mọi người la hét, chạy điên loạn, nhưng chẳng ích gì. Bom đã đánh sập mái bệnh viện và thiêu cháy cả tòa nhà, nhốt kín các bệnh nhân bên trong. Một nhóm cứu hộ đã tập trung lại, cố thông đường vào trong. Nhưng tôi biết họ sẽ tìm thấy gì. Nếu những đống đổ nát và lửa không lấy đi tính mạng bệnh nhân thì khói cũng làm họ chết ngạt.
Gale đứng kề vai tôi. Mối nghi ngờ của tôi càng được củng cố khi thấy anh chẳng làm gì. Nếu còn cơ cứu vãn thì người thợ mỏ đã không khoanh tay trước tai nạn.
“Thôi nào, Katniss. Haymitch bảo họ có thể đưa tàu bay đến đón chúng ta bây giờ,” anh nói với tôi. Nhưng tôi cơ hồ không nhúc nhích nổi.
“Sao chúng lại làm vậy? Sao lại nhắm vào những người sống dở chết dở?” tôi hỏi anh.
“Để thị uy. Ngăn không cho người bị thương được giúp đỡ,” Gale nói. “Những người mà em gặp, họ chính là vật hy sinh. Dù sao thì với Snow chính là vậy. Nếu Capitol chiến thắng, nó sẽ làm gì với đám nô lệ thương tật đây?”
Tôi nhớ lại tất cả những tháng năm trong rừng thuở ấy, nghe Gale chửi rủa đả kích Capitol. Lúc đó tôi chẳng hề để tâm. Cứ tự hỏi tai sao anh lại phải mổ xẻ động cơ của nó làm gì. Tại sao lại cho rằng kẻ thù của chúng tôi là vấn đề nghiêm trọng. Rõ ràng là hôm nay nó có thể đã trở nên nghiêm trọng. Khi Gale nghi ngờ không biết bệnh viện có còn hay không, anh đang đề cập đến điều này chứ không phải đến bệnh tật. Bởi anh không bao giờ đánh giá thấp sự tàn bạo của những thứ mà chúng tôi phải đối mặt.
Tôi chầm chậm quay lưng khỏi bệnh viện thì thấy Cressida, hai bên là bầy côn trùng, đứng trước tôi vài mét. Phong thái điềm tĩnh. Thậm chí lãnh đạm. “Katniss,” chị nói, “Tổng thống Snow đã cho phát sóng trực tiếp cuộc đánh bom. Rồi ông ta xuất hiện nói rằng đó là cách ông ta gửi thông điệp tới phiến quân. Còn cô thì sao? Cô có muốn nói gì với phiến quân không?”
“Có,” tôi thì thầm. Tôi nhận ra ánh đèn đỏ nhấp nháy trên máy quay. Tôi biết mình đang được ghi hình. “Có,” tôi nói mạnh mẽ hơn. Mọi người lùi ra xa - Gale, Cressida và bầy côn trùng - nhường sân khấu cho tôi. Nhưng tôi chỉ nhìn chăm chăm vào ánh đèn đỏ. “Tôi muốn nói với phiến quân rằng tôi còn sống. Rằng tôi đang ở ngay Quận 8 này, nơi Capitol vừa đánh bom một bệnh viện toàn phụ nữ, trẻ em và đàn ông trong tay không tấc vũ khí. Sẽ không ai sống sót nổi.” Cú sốc mà tôi vừa trải qua dần nhường chỗ cho cơn thịnh nộ. “Tôi muốn nói với mọi người, nếu có ai thoáng nghĩ rằng cứ đình chiến là Capitol sẽ đối xử công bằng với chúng ta thì người đó chỉ đang lừa mị bản thân mà thôi. Bởi ta biết chúng là ai và chúng làm gì.” Tôi máy móc khoát tay, như ám chỉ nỗi khiếp đảm bao quanh mình. “
Đây
là những gì chúng làm! Và ta cần phải phản kháng!”
Giờ tôi đang tiến đến gần máy quay, được thúc đẩy bởi cơn giận dữ dâng trào. “Tổng thống Snow nói ông ta gửi thông điệp đến cho chủng ta ư? Được, tôi cũng có thông điệp cho ông ta đây. Ông có thể tra tấn chúng tôi, đánh bom chúng tôi, đốt các quận của chúng tôi thành tro, nhưng ông có nhìn thấy không?” Máy quay lia theo hướng tay tôi chỉ về phía những chiếc máy bay bốc cháy trên mái nhà xưởng đối diện. Chữ Capitol in trên cánh máy bay rực sáng qua màn lửa. “Lửa sẽ bén đó!” Giờ thì tôi hét vang, quyết không để ông ta nghe sót một từ. “Và nếu chúng tôi cháy, ông cũng sẽ cháy cùng chúng tôi!”
Những từ cuối cùng tôi nói ngưng đọng trong không khí. Đúng khoảnh khắc đó tôi cảm thấy mình lơ lửng. Bồng bềnh trên làn hơi nóng tỏa ra từ chính tôi chứ không phải từ những thứ xung quanh.
“Cắt!” Giọng Cressida chen ngang đưa tôi trở lại thực tại, cắt đứt nguồn cảm hứng của tôi. Chị gật đầu tán thành. “Xong.”
8.
Boggs xuất hiện túm chặt cánh tay tôi, nhưng tôi cũng không có ý bỏ chạy, Tôi ngoái nhìn bệnh viện – vừa lúc thấy phần còn lại của cấu trúc ấy sụp đổ - và cảm xúc đấu tranh trong tôi tiêu tan sạch. Tất cả những người đó – hàng trăm người bị thương, người thân của họ, các bác sĩ từ Quận 13 – đều không còn nữa. Tôi quay lại phía Boggs, thấy vết sưng phồng trên mặt ông do ủng của Gale để lại. Chẳng phải chuyên gia, nhưng tôi khá chắc rằng ông đã bị gãy mũi. Tuy nhiên giọng ông có vẻ nhẫn nhịn nhiều hơn là giận dữ. “Trở lại bãi đáp thôi.” Tôi ngoan ngoãn tiến lên một bước rồi nhăn nhó khi cảm thấy khoeo chân phải nhói đau. Dòng adrenaline lấn át mọi cảm xúc đã lắng xuống và giờ các bộ phận cơ thể tôi nhất loạt rên rỉ. Tôi bị thương chảy máu, thái dương trái nhức nhối như có ai đó gõ búa từ trong sọ. Boggs xem qua mặt tôi, rồi đỡ tôi chạy đến đường băng. Đi được nửa đường, tôi nôn lên trên áo gi lê chống đạn của ông. Thật khó nói chắc được bởi ông đang thở hổn hển, nhưng tôi nghĩ là ông đang thở dài.
Một chiếc tàu bay nhỏ, khác với chiếc chở chúng tôi tới đây, đang đợi trên đường bằng. Đội của tôi vừa vào bên trong thì tàu bay cất cánh luôn. Lần này không có chỗ ngồi thoải mái và cửa sổ. Như thể chúng tôi đang ngồi trong máy bay chở hàng vậy. Boggs sơ cứu cho mọi người để cầm cự đến khi quay về quận 13. Tôi muốn cởi áo gi lê ra vì tôi đã nôn tung tóe lên đó, nhưng lúc này tôi quá lạnh không thể làm thế. Tôi nằm im dưới sàn, gối đầu lên lòng Gale. Điều cuối cùng tôi nhớ được là Boggs đắp mấy tấm bao bố lên người tôi.
Tỉnh dậy, tôi thấy ấm áp và được nằm điều trị trên chiếc giường ngày trước trong viện. Mẹ tôi ở đó, kiểm tra các dấu hiệu sinh tồn của tôi. “Con thấy thế nào?”
“Hơi rã rời, nhưng không sao đâu ạ,” tôi đáp.
“Đến khi con đi rồi mới có người báo cho mẹ biết,” mẹ nói.
Tôi thấy cảm giác tội lỗi nhói lên trong lòng. Khi gia đình ta từng phải hai lần tiễn ta đến Đấu trường Sinh tử thì lẽ ra ta không được phép coi nhẹ những chi tiết kiểu này. “Con xin lỗi. Họ không nghĩ là có tấn công. Con chỉ định thăm bênh nhân thôi,” tôi giải thích. “Lần sau con sẽ bảo họ nói rõ với mẹ.”
“Katniss à, chẳng ai nói rõ điều gì với mẹ cả,” mẹ nói. Đúng vậy. Thậm chí cả tôi. Kể từ hôi cha mất đã như vậy rồi. Sao lại phải giả vờ chứ? “Ừm, dù sao con cũng sẽ bảo họ... thông báo cho mẹ.”
Trên chiếc bàn đầu giường là một mảnh đạn lớn họ lấy ra khỏi chân tôi. Các bác sĩ lo lắng nhiều hơn đến nguy cơ tôi bị chấn động não sau vụ nổ, vì tổn thương cũ vẫn chưa lành hẳn khó có thể chịu đựng thêm. Nhưng tôi không bị hoa mắt hay gì cả, và tôi có thể suy nghĩ khá mạch lạc. Tôi đã ngủ liền một mạch từ cuối chiều qua đến sáng nay và giờ thì đói ngấu. Bữa sáng của tôi lèo tèo đến đáng thất vọng. Chỉ có vài mẩu bánh mì nhúng sữa ấm. Tôi được triệu tập đến cuộc họp đầu buổi sáng ở Bộ Tư lệnh. Tôi dợm ngồi dậy thì nhận ra họ định đẩy giường bệnh của tôi tới thẳng đó. Tôi luôn muốn đi bộ, nhưng không được, vì thế đành mặc cả xin ngồi xe lăn. Thật sự thì tôi cảm thấy ổn mà. Chỉ trừ đầu tôi, chân tôi, cảm giác đau rức ở các chỗ thâm tím, và cơn buồn nôn gợn lên vài phút sau khi tôi ăn xong. Có lẽ xe lăn là một ý tưởng không tồi.
©STENT
Khi họ đẩy tôi đi, tôi bắt đầu cảm thấy căng thăng không yên trước những gì mình sắp phải đối mặt. Hôm qua Gale và tôi đã bất tuân lệnh rành rành, và vết thương của Boggs là minh chứng cho điều đó. Chắc chắn sẽ có hậu quả, nhưng có đến mức Coin hủy bỏ thỏa thuận tha cho những người chiến thắng không? Có phải ngay cả sự bảo vệ mong manh mà tôi đem lại cho Peeta cũng đã bị chính tay tôi tước đi rồi không?
Khi tôi tới Bộ Tư lệnh, mới chỉ có Cressida, Messalla và bầy côn trùng hiện diện. Messalla tươi cười nói, “Ngôi sao nhỏ của chúng ta đây rồi!” và những người khác nở nụ cười chân thành đến nỗi tôi không thể không cười đáp lại. Họ đã gây ấn tượng mạnh mẽ với tôi ở Quận 8, theo tôi lên mái nhà trong trận đánh bom, khiến Plutarch phải nhượng bộ để có thể quay những cảnh họ muốn. Họ không chỉ làm công việc của mình, họ còn tự hào về nó. Như Cinna vậy.
Tôi có một suy nghĩ kỳ lạ rằng, nếu chúng tôi cùng ở Đấu trường, tôi sẽ chọn họ làm đồng minh. Cressida, Messalla, và... và... “Tôi không nên gọi các anh là ‘côn trùng’ nữa,” tôi buột miệng nói với các tay máy. Tôi phân bua rằng đó là bởi lúc trước mình không biết tên họ, mà trang phục của họ lại trông giống như sinh vật có vỏ vậy. Sự so sánh này dường như không làm họ khó chịu. Dù không có vỏ máy quay, họ vẫn giống nhau như lột. Cùng mái tóc vàng cát, râu đỏ, mắt xanh. Người có móng tay ngắn cụt lủn tự giới thiệu là Castor còn người kia là em trai anh, Pollux. Tôi đợi Pollux nói lời chào, nhưng anh chỉ gật đầu. Ban đầu tôi chỉ nghũ anh là người bẽn lẽn hay kiệm lời. Nhưng có gì đó mách bảo tôi – vị trí môi anh, cách anh nuốt khó nhọc – và tôi đã biết trước khi Castor giải thích. Pollux là một Avox. Người ta đã cắt lưỡi anh làm anh không bao giờ có thể nói lại được. Và tôi không còn phải băn khoăn tự hỏi điều gì khiến anh bất chấp mọi thứ để chung tay lật đổ Capitol.
Khi mọi người đã có mặt đông đủ, tôi chuẩn bị tinh thần cho một sự tiếp đón kém thân mật hơn. Nhưng những người duy nhất tỏ thái độ tiêu cực là Haymitch, vốn hay càu nhàu, và Fulvia Cardew mặt nặng mày nhẹ. Boggs đeo mặt nạ nhựa dẻo trùng với màu da che từ môi trên đến lông mày – đúng là ông bị gãy mũi thật – nên khó mà đọc được nét mặt của ông. Coin và Gale đang trao đổi gì đó, trông có vẻ khá thân thiết.
Khi Gale nhe nhành ngồi vào chỗ kế bên xe lăn của tôi, tôi bèn hỏi, “Kết bạn mới hả?”
Anh liếc mắt về phía thống đốc rồi quay lại nhìn tôi. “Ừ thì một trong chúng ta phải tỏ ra thân thiện chứ.” Anh khẽ chạm vào thái dương tôi. “Em thấy thế nào?”
Chắc hẳn họ đã ăn sáng với tỏi hầm và bí. Càng nhiều người tụ họp lại thì mùi càng nặng. Bụng tôi nhộn nhạo và ánh đèn bỗng trở nên quá chói lóa. “Hơi váng vất,” tôi đáp. “Anh thì sao?”
“Ổn. Họ lấy vài mảnh đạn. Thường thôi,” anh trả lời.
Coin yêu cầu ổn định trật tự. “Kế hoạch Cướp Sóng của chúng ta đã chính thức khởi động. Những ai bỏ lỡ buổi phát sóng ĐTT đầu tiên lúc 20h ngày hôm qua – hay mười bảy chương trình phát lại mà Beetee đã xoay sở và đưa lên sóng sau đó – có thể tua lại xem bây giờ.” Tua lại ư? Tức là họ không chỉ có những cảnh quay hữu ích mà còn nhanh tay ghép lại thành một ĐTT và phát đi phát lại. Lòng bàn tay tôi dấp dính, hồi hộp nhìn thấy chính mình trên tivi. Nhỡ trông tôi vẫn gớm guốc thì sao? Liệu tôi có cứng nhắc, nhạt nhẽo như trong trường quay khiến mọi người bó tay không thể cải tạo? Những màn hình cá nhân trượt lên khỏi bàn, ánh đèn mờ dần, và bầu không khí im lặng trùm phủ khắp căn phòng.
Ban đầu, màn hình của tôi tối đen. Rồi một đóm lửa nhỏ xíu lấp lóe ở giữa. Nó phình to, lan ra, lặng lẽ nuốt chửng bóng tối cho đến khi toàn bộ khung hình rực lửa, chân thực và mãnh liệt đến nỗi tưởng như hơi nóng từ đó tỏa ra. Hình ảnh chiếc ghim chim húng nhại xuất hiện, màu vàng đỏ rực rỡ. Một giọng nói trầm vang vẫn ám ảnh các giấc mơ của tôi cất lên. Claudius Templesmith, phát ngôn chính thức của Đấu trường Sinh tử, thuyết minh, “Katniss Everdeen, Cô gái Lửa, hãy cháy lên.”
Đột nhiên tôi xuất hiện, thay thế chiếc ghim chim húng nhại, trước khói lửa thực sự của Quận 8.
“Tôi muốn nói với phiến quân rằng tôi còn sống. Rằng tôi đang ở ngay Quận 8 này, nơi Capitol vừa đánh bom một bệnh viện toàn phụ nữ, trẻ em, và đàn ông trong tay không tấc vũ khí. Sẽ không ai sống sót nổi.”
Màn hình chuyển sang cảnh bệnh viện tự sụp đổ, vẻ tuyệt vọng của những người chứng kiến trong khi giọng tôi vang lên từ ngoài khung hình.
“Tôi muốn nói với mọi người, nếu có ai thoáng nghĩ rằng cứ đình chiến là Capitol sẽ đối xử công bằng với chúng ta thì người đó chỉ đang lừa mị bản thân mà thôi. Bởi ta biết chúng là ai và chúng làm gì.”
Máy quay lia trở lại phía tôi, tay giơ cao ám chỉ nỗi oán hận xung quanh mình. “
Đây là những gì chúng làm! Và ta cần phải phản kháng!”
Trên màn hình hiện giờ là một chuỗi cảnh chiến đấu dữ dội. Những quả bom đầu tiên trút xuống, chúng tôi chạy, bị hất văng xuống đất – cận cảnh vết thương của tôi, trông rất ấn tượng và đầy máu me – trèo thang, lúi húi vào chỗ nấp; rồi những mũi tên, phát đạn thần sầu của phiến quân phóng vun vút; Gale, và chủ yếu là tôi, chính tôi, chính tôi hạ những chiếc máy bay đó rơi khỏi bầu trời. Lại cắt sang cảnh tôi tiến gần tới máy quay.
“Tổng thống Snow nói ông ta gửi thông điệp đến cho chúng ta ư? Được, tôi cũng có thông điệp cho ông ta đây. Ông có thể tra tấn chúng tôi, đánh bom chúng tôi, đốt các quận của chúng tôi thành tro, nhưng ông có nhìn thấy không?”
Máy quay hướng đến chỗ những chiếc máy bay bốc cháy trên mái nhà xưởng. Cận cảnh dấu triện Capitol trên cánh máy bay, tan chảy trên nền khuôn mặt tôi đang hét lên với tổng thống.
“Lửa sẽ bén đó! Và nếu chúng tôi cháy, ông cũng sẽ cháy cùng chúng tôi!”
Lửa lại liếm trọn màn hình. In đậm trên màn lửa ấy là nhũng chữ cái viết hoa màu đen.
NẾU CHÚNG TÔI CHÁY
ÔNG CŨNG SẼ CHÁY CÙNG CHÚNG TÔI
Những con chữ bén lửa và rồi cả màn hình bị đốt cháy đen thui.
Có một khoảnh khắc say mê lặng lẽ, rồi tiếng vỗ tay bùng nổ, kéo theo những yêu cầu đòi xem lại. Coin chiều lòng mọi người ấn nút TUA, và lần này, vì đã biết trước diễn biến, tôi cố giả vờ như đang xem trên ti vi nhà mình ở khu Vỉa than. Lời tuyên bố chống Capitol. Một việc chưa từng có tiền lệ trên truyền hình. Dù gì cũng chưa bao giờ xảy ra trong đời tôi.
Đến khi màn hình cháy đen thui lần thứ hai, tôi không muốn biết nhiều hơn. “Nó có được phát trên khắp Panem không? Ở Capitol có xem được không?”
“Ở Capitol thì không,” Plutarch đáp. “Chúng tôi không thể chi phối hệ thống của họ, dù Beetee đã tìm cách xoay xở. Nhưng tất cả các quận thì có. Chúng tôi thậm chí đưa được lên sóng ở Quận 2, tại thời điểm này của trận chiến thì nó còn qua trọng hơn cả Capitol.”
“Claudius Templesmith có cùng phe với chúng ta không?” tôi hỏi.
Câu hỏi khiến Plutarch bật cười sảng khoái. “Chỉ có giọng của ông ta thôi. Nhưng thật tiện làm sao. Chúng tôi thậm chí không phải tiến hành bước biên tập đặc biệt nào. Ông ta nói đúng cái câu trong Đấu trường Sinh tử đầu tiên cô tham gia.” Ông vỗ tay lên bàn. “Một tràng pháo tay nữa cho Cressida, đội ngũ tuyệt vời của cô, và tất nhiên là ngôi sao truyền hình của chúng ta!”
Tôi cũng vỗ tay, rồi nhận ra mình là ngôi sao truyền hình được nhắc đến, thấy có lẽ cũng hơi trơ khi tự vỗ tay hoan hô mình, nhưng không ai chú ý cả. Dẫu vậy, tôi không thể không nhận ra nét mặt căng thẳng của Fulvia. Quả là khó cho Fulvia khi phải chứng kiến ý tưởng của Haymitch thành công dưới sự chỉ đạo của Cressida trong khi phương pháp trường quay của cô ta lại thất bại ê chề.
Coin dường như đã chịu hết nổi màn tự khen mình. “Phải, rất xứng đáng. Kết quả còn hơn cả mong đợi. Nhưng tôi buộc phải xem xét lại việc mọi người đã nới quá rộng giới hạn mạo hiểm mà mình sẵn sàng xông pha. Tôi biết không ai lường trước được cuộc không kích. Tuy nhiên, xét tình hình hiện tại, tôi nghĩ chúng ta nên bàn bạc về quyết định cử Katniss lâm chiến thực sự.”
Quyết định ư? Cử tôi ra chiến trận ư? Vậy là bà ta chưa biết chuyện tôi đã ngang nhiên bất tuân mệnh lệnh, rứt bỏ tai nghe, trốn khỏi vệ sĩ? Họ còn giấu bà ta những gì nữa?
“Đó là một quyết định khó khăn,” Plutarch nhíu mày nói. “Nhưng lúc đó tất cả đều nhất trí rằng chúng ta sẽ chẳng đạt được gì đáng kể nếu cứ nhốt cô ấy trong một cái boong ke đâu đó mỗi khi súng nổ.”
“Vậy là không vấn đề gì chứ?” thống đốc hỏi.
Gale phải đá chân tôi dưới gầm bàn thì tôi mới nhận ra bà ta đang nói với mình. “Ồ! Vâng, với tôi hoàn toàn không vấn đề gì cả. Cảm thấy rất bình thường. Làm gì đó để thay đổi không khí thôi mà.”
“Ừm, nhớ thận trọng hơn một chút khi để cô ta xuất đầu lộ diện. Nhất là giờ đây Capitol đã biết cô ta có thể làm gì,” Coin nói. Những tiếng tán thành xôn xao quanh bàn.
Không ai tố Gale và tôi. Không phải Plutarch, đường đường nắm quyền trong tay mà bị chúng tôi bất tuân thủ. Không phải Boggs với cái mũi gãy. Không phảo bầy côn trùng mà chúng tôi đã dẫn vào lửa đạn. Không phải Haymitch – khoan, gượm đã. Haymitch đang trao cho tôi một nụ cười lạnh gáy rồi ngọt nhạt nói, “Phải, chúng ta đâu có muốn đánh mất Húng nhại bé nhỏ khi cuối cùng cô ấy cũng cất tiếng hót chứ.” Tôi thầm nhủ đừng có ở một mình trong phòng với ông, vì rõ ràng là ông có ý trả thù chuyện cái tai nghe ngu ngốc kia.
“Vậy mọi người có kế hoạch gì khác nữa?” thống đốc hỏi.
Plutarch hất đầu về phía Cressida, lúc này đang xem xét một bảng kẹp hồ sơ.
“Chúng tôi có một cảnh rất ấn tượng về Katniss ở bệnh viện Quận 8. Nên chèn thêm một ĐTT với chủ đề ‘Bởi ta biết chúng là ai và chúng làm gì’. Ta sẽ tập chung vào cảnh Katniss tiếp xúc với bệnh nhân, đặc biệt là lũ trẻ, trận đánh bom bệnh viện, và những đống đổ nát. Messalla đang cắt nối cảnh đó rồi. Chúng tôi cũng nghĩ đến biểu tượng Húng nhại. Nêu bật một số khoảnh khắc tuyệt vời nhất của Katniss xen với cảnh phiến quân nổi dậy và cảnh chiến tranh. Chúng tôi gọi đó là ‘Bắt lửa’. Rồi Fulvia nghĩ ra một ý tưởng cực kỳ xuất sắc.”
Nhìn mặt Fulvia cứ như thể cô ra đang ngậm đầy một miệng nho chua lè, nhưng cô ta nhanh chóng lấy lại vẻ bình thường. “Ừm, tôi không biết ý tưởng đó xuất sắc chừng nào. Nhưng tôi tính là chúng ta có thể làm một loạt ĐTT mang tên
Ta nhớ
. Mỗi phần sẽ tập chung vào một vật tế đã chết. Bé Rue từ Quận 11 hay cụ Mags từ Quận 4. Ý đồ là chúng ta có thể hướng mỗi quận đến từng phần rất riêng.”
“Bày tỏ lòng kính trọng với các vật tế. có thể xem như là như vậy,” Plutarch nói.
“
Thật
xuất sắc, Fulvia ạ,” tôi thực lòng nói. “Đó là cách hữu hiệu để nhắc mọi người nhớ đến lý do họ đấu tranh.”
“Có khi lại nên chuyện,” cô ta đáp. “Tôi nghĩ chúng ta có thể để Finnick giới thiệu và thuyết minh đoạn phim này. Nếu mọi người có hứng thú với chúng.”
“Thật tình thì tôi không biết chúng ta có thể tạo ra thật nhiều ĐTT
Ta nhớ
bằng cách nào đây,” Coin nói. “Mọi người có thể bắt tay vào làm ngay hôm nay không?”
“Tât nhiên rồi,” Fulvia đáp trông nguôi ngoai hẳn trước phản hồi dành cho ý tưởng của mình.
Động thái của Cressida đã xoa dịu không khí trong bộ phận sáng tạo. Khen ngợi Fulvia vì ý tưởng quả thật đáng ngả mũ của cô ta, đồng thời dọn đường để tiếp tục công việc khắc họa Húng nhại của riêng mình trên sóng truyền hình. Điều thú vị là Plutarch có vẻ không có nhu cầu được ca tụng. Tất cả những gì ông muốn là kế hoạch Cướp Sóng hoạt động ổn thỏa. Tôi nhớ rằng ông là Trưởng Ban Tổ chức Đâu trường Sinh tử chứ không đơn thuần là một thành viên. Không phải một phần của Đấu trường. Do vậy giá trị của ông không được xác định bằng một yếu tố đơn lẻ mà dựa vào thành công chung của quá trình sản xuất. Nếu chúng tôi giành chiến thắng thì đất là lúc Plutarch nhận lời tuyên dương. Và mong đợi phần thưởng.
Thống đốc cho mọi người tan họp để đi làm việc, nên Gale đẩy tôi trở lại bệnh viện. Chúng tôi thoáng cười vì màn ém tội vừa nãy. Gale nói rằng chẳng ai muốn bẽ mặt thừa nhận không kiểm soát nổi chúng tôi. Tôi thì thoáng hơn, cho rằng có lẽ họ không muốn đánh liều kẻo lỡ mất cơ hội hộ tống chúng tôi lần nữa vì giờ họ đã quay được một số cảnh ra trò. Cả hai giả thiết đều có khả năng. Gale phải xuống gặp Beetee ở Kho Vũ khí Đặc biệt, nên tôi chợp mắt một chút.
Cảm giác như tôi chỉ vừa thiếp đi vài phút, nhưng khi mở mắt ra, tôi rúm người lại khi nhìn thấy Haymitch ngồi cách giường vài mét. Chờ đợi. Chắc được mấy tiếng rồi nếu đồng hồ chuẩn xác. Tôi định hét ầm lên gọi nhân chứng, nhưng sớm muộn gì tôi cũng phải đối mặt với ông thôi.
Haymitch ngả về phía trước, đung đưa thứ gì đó trên sợi dây mảnh màu trắng trước mũi tôi. Thật khó tập trung nhưng tôi khá chắc nó là gì. Ông thả nó xuống nệm. “Đây là tai nghe của cháu. Ta chỉ cho cháu đúng một cơ hội đeo lại mà thôi. Nếu cháu còn rứt nó ra khỏi tai một lần nữa thì ta sẽ bắt cháu dính với cái này.” Ông giơ một món đồ kim loại gắn trên đầu lên mà tôi biết ngay nó là cái
cùm đầu
. “Đây là một thiết bị nghe thay thế gắn quanh sọ và dưới cằm cháu, chỉ có thể mở bằng chìa. Và chiếc chìa duy nhất nằm trong tay ta. Nếu vì lý do này khác mà cháu đủ thông minh để vô hiệu hóa nó...” Haymitch quẳng cái cùm đầu lên giường, đoạn lôi phắt ra một con chíp bạc nhỏ xíu, “thì ta sẽ cho phép họ cấy thiết bị truyền tín hiệu này vào tai cháu để ta có thể nói chuyện với cháu hai tư trên hai tư.”
Haymitch ở trong đầu tôi suốt ngày. Thật đáng sợ. “Cháu sẽ đeo tai nghe,” tôi lí nhí.
“Gì cơ?” ông vặn vẹo.
“Cháu sẽ đeo tai nghe!” tôi nói, đủ to để đánh thức nửa bệnh viện dậy.
“Cháu chắc chứ? Vì cả ba lựa chọn đó ta đều hài lòng như nhau cả,” ông bảo tôi.
“Cháu chắc,” tôi nói. Tôi siết chặt dây tai nghe trong nắm tay vẻ phòng thủ, đoạn dùng tay còn lại ném cái cùm đầu vào mặt ông, nhưng ông tóm được khá dễ dàng. Chắc ông đoán trước là tôi sẽ giở chiêu quăng liệng. “Còn gì nữa không?”
Haymitch đứng lên chuẩn bị đi. “Trong lúc chờ đợi...ta ăn mất bữa trưa của cháu rồi.”
Tôi nhìn cái khay và bát thịt hầm trống không trên chiếc bàn đầu giường. “Cháu sẽ tố bác,” tôi lẩm bẩm vào gối.
“Cứ làm đi, cháu ngoan.” Ông đi ra, yên tâm vì biết tôi không phải loại mách lẻo.
Tôi muốn ngủ trở lại nhưng cứ bồn chồn không yên. Những hình ảnh hôm qua bắt đầu ùa về hiện tại. Trận đánh bom, máy bay rơi thảm khốc, khuôn mặt của những người bị thương giờ không còn trên đời. Tôi tưởng tượng ra cái chết ở khắp mọi nơi. Khoảnh khắc cuối cùng trước khi thấy đạn pháo chạm đất, cảm thấy cánh bị thổi tung khỏi thân máy bay, quay cuồng bổ nhào vào hư không, mái nhà xưởng sụp xuống người tôi trong khi tôi bất lực nằm dính chặt vào giường bạt. Những thứ tôi nhìn thấy, tận mắt hay qua băng hình. Những thứ tôi gây ra sau khi kéo dây cung ấy. Những thứ tôi không bao giờ có thể xóa nhòa khỏi ký ức.
Đến bữa tối, Finnick mang khay ăn đến bên giường tôi để chúng tôi có thể cùng xem ĐTT mới nhất trên tivi. Anh được phân vào ở phòng cũ của tôi, nhưng vấn đề tâm thần của anh cứ tái phát liên tục nên anh chủ yếu vẫn sống trong bệnh viện. Phiến quân đang phát ĐTT “Bởi ta biết chúng là ai và chúng làm gì” mà Messalla đã biên tập. Xen kẽ là một cảnh ngắn trong trường quay vơi Gale, Boggs và Cressida miêu tả vụ việc. Thật khó lòng theo dõi cảnh tôi được đón tiếp ở bệnh viện Quận 8 vì tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra. Khi bom trút như mưa xuống mái nhà, tôi vùi mặt vào gối, chỉ ngước lên nhìn một cảnh ngắn có tôi ở đoạn cuối, sau khi tất cả các nạn nhân đều đã chết.
Ít nhất Finnick không hoan hô hay tỏ vẻ vui mừng khi đoạn phim kết thúc. Anh chỉ nói, “Mọi người nên biết những gì đã xảy ra. Và giờ thì họ đã biết.”
“Tắt đi Fininck, không họ chiếu lại bây giờ,” tôi giục anh. Nhưng khi Finnick với lấy cái điều khiển từ xa thì tôi kêu lên, “Gượm đã!” Capitol đang giới thiệu một đoạn phim đặc biệt mà tôi thấy có nét quen quen. Phải, là Casear Flickerman. Và tôi có thể đoán ra khách mời là ai.
Tôi choáng váng khi thấy ngoại hình Peeta đổi khác. Chàng trai khỏe mạnh với đôi mắt sáng trong mà tôi thấy vài ngày trước đã sụt đi ít nhất bảy cân, tay run rẩy bồn chồn. Họ vẫn chưng diện cho cậu. Nhưng bên dưới lớp trang điểm không thể che mờ bọng mắt, và bộ cánh lượt là chẳng giấu nối cơn đau cậu cảm thấy khi di chuyển, là một con người bị hủy hoại đến kiệt quệ.
Đầu óc tôi quay cuồng nhớ lại, cố hiểu đầu cua tai nheo. Tôi mới thấy cậu! Bốn...không, năm... tôi nghĩ là cách đây năm hôm. Sao cậu lại tàn tạ nhanh đến vậy? Chúng có thể làm gì cậu trong khoảng thời gian ngắn chừng ấy? Rồi tôi ngộ ra. Tôi ráng nhớ lại buổi phỏng vấn đầu tiên của cậu với Ceasar, tìm kiếm xem có dấu hiệu nào hợp thời điểm không. Chẳng có gì. Có khả năng chúng đã ghi hình buổi phỏng vấn đó một hai ngày sau khi tôi làm nổ tung trường đấu, rồi từ đó đối xử tùy tiện với cậu. “Peeta ơi...” tôi thì thầm.
Caesar và Peeta trao đổi mấy câu sáo rỗng rồi Casear hỏi cậu về những tin đồn cho rằng tôi đang tiến hành quay ĐTT cho các quận. “Rõ ràng là họ lợi dụng cô ấy,” Peeta nói. “Để kích động phiến quân. Cháu nghĩ có khi cô ấy còn không biết chuyện gì sẽ xảy ra khi chiến tranh bùng nổ. Những gì bị đặt vào vòng nguy hiểm.”
“Cháu có muốn nói vài lời với cô bé không?” Caesar hỏi.
“Có,” Peeta đáp. Cậu nhìn thẳng vào máy quay, nhìn thẳng vào mắt tôi. “Đừng dại dột, Katniss. Hãy nghĩ cho bản thân mình. Họ đang biến cậu thành một thứ vũ khí có thể làm công cụ tiêu diệt nhân loại. Nếu cậu có chút ảnh hưởng thực sự nào thì hãy dùng sức ảnh hưởng ấy ngăn những việc này lại. Dùng nó chặn đứng chiến tranh trước khi quá muộn. Hãy tự hỏi mình, cậu có thực sự tin những người mà cậu đang hợp tác không? Cậu có biết chuyện gì đang diễn ra không? Nếu cậu không biết... thì tìm hiểu đi.”
Màn hình đen sì. Dấu triện Panem. Chương trình kết thúc.
Finnck bấm điều khiển tắt ti vi. Một lát nữa thôi, mọi người sẽ đến đây tìm cách kiểm soát thiệt hại do hoàn cảnh của Peeta và những lời cậu nói gây ra. Tôi sẽ phải phản bác chúng. Nhưng quả thực, tôi không tin vào phiến quân, Plutarch hay Coin. Tôi không tin rằng họ nói thật với tôi. Tôi sẽ không thể che giấu điều này. Những bước chân đang tiến đến gần.
Finnick túm chặt tay tôi. “Chúng ta không xem gì cả.”
“Gì cơ?” tôi hỏi.
“Chúng ta không nhìn thấy Peeta. Chỉ có ĐTT ở Quận 8 thôi. Rồi chúng ra tắt đi vì những hình ảnh đó làm em đau lòng. Hiểu chứ?” anh hỏi. Tôi gật đầu. “Em ăn cho xong đi.” Tôi trấn tĩnh lại, đủ để khi Plutarch và Fulvia bước vào thì tôi đang nhồm nhoàm bánh mì và bắp cải. Finnick đang nói về chuyện Gale thể hiện trước ống kính tốt ra sao. Chúng tôi chúc mừng nhau vì ĐTT đó. Nói rõ rằng nó thật mạnh mẽ, ngay sau đấy chúng tôi đã tắt đi. Trông họ có vẻ nhẹ nhõm. Họ tin chúng tôi.
Không ai nhắc đến Peeta.
9.
Tôi thôi không cố ngủ nữa sau khi vài nỗ lực đầu tiên bị những cơn ác mộng không lời quấy phá. Sau đấy tôi chỉ nằm im giả vờ thở đều đều mỗi khi có người vào kiểm tra. Đến sáng, họ cho tôi ra viện và khuyên tôi nghỉ ngơi cho lại sức, Cressida bảo tôi ghi âm vài lời cho ĐTT Húng nhại mới. Đến bữa trưa, tôi cứ đợi mãi xem có ai đem chuyện Peeta xuất hiện ra nói không, nhưng chẳng ai hé nửa lời. Phải có người xem được cảnh đó ngoài Finnick và tôi chứ.
Tôi có giờ luyện tập, nhưng Gale có lịch làm việc với Beetee về vũ khí thì phải, nên tôi được phép đưa Finnick vào rừng. Chúng tôi lang thang một lát rồi nhét thiết bị liên lạc dưới bụi cây. Khi đã cách một quãng an toàn, chúng tôi ngồi xuống nói về buổi lên sóng của Peeta.
“Anh chưa nghe thấy một lời nào về chuyện đó cả. Không ai nói gì với em sao?” Finnick hỏi. Tôi lắc đầu. Anh ngập ngừng rồi nói tiếp, “Kể cả Gale à?” Tôi bám lấy hy vọng mong manh rằng Gale thật sự không hay biết gì về thông điệp của Peeta. Nhưng tôi có cảm giác không hay rằng anh có biết. “Chắc cậu ấy cố tìm lúc thích hợp để nói riêng em.”
“Chắc thế,” tôi nói.
Chúng tôi ngồi im lâu đến nỗi một con nai thơ thẩn lọt vào tầm bắn. Tôi hạ nó bằng một mũi tên. Finnick lôi nó trở lại hàng rào.
Bữa tối có món thịt nai hầm nhuyễn, Gala đưa tôi trở lại Phòng E sau khi ăn xong. Khi tôi hỏi anh có chuyện gì không, một lần nữa anh lại không hề đả động đến Peeta. Mẹ và em gái tôi vừa ngủ là tôi liền nhẹ nhàng lấy hạt trai ra khỏi ngăn kéo và lại trải qua đêm mất ngủ thứ hai nắm chặt nó trong tay, trăn trở mãi với những lời Peeta nói.
“Hãy tự hỏi mình, cậu có thực sự tin những người mà cậu đang hợp tác không? Cậu có biết rõ chuyện gì đang diễn ra không? Nếu cậu không biết... thì tìm hiểu đi.”
Tìm hiểu. Cái gì? Từ ai? Và làm sao Peeta có thể biết gì ngoại trừ những điều Capitol cho cậu hay? Chỉ là một ĐTT của Capitol thôi. Gây nhiễu loạn thêm. Nhưng nếu Plutarch cho rằng đó chỉ là miệng lưỡi của Capitol thì cớ sao ông lại không nói với tôi? Sao không ai cho tôi hay Finnick biết?
Ẩn sâu bên dưới cuộc đấu tranh tư tưởng này là nguồn cơn thực sự cho nỗi âu lo trong lòng tôi: Peeta. Chúng đã làm gì cậu? Lúc này chúng đang làm gì cậu? Rõ ràng Snow không tin chuyện Peeta và tôi không hay biết gì về cuôc nổi dậy. Và nỗi nghi ngờ của ông ta được củng cố thêm vì giờ tôi đã xuất đầu lộ diện với vai trò Húng nhại. Peeta chỉ có thể đoán về chiến thuật nổi dậy hoặc bịa đặt gì đó để đối phó với những kẻ tra tấn. Những lời nói dối, một khi bị phát hiện, sẽ bị trừng phạt thảm khốc. Chắc cậu cảm thấy bơ vơ lắm. Trong cuộc phỏng vấn đầu tiên, cậu đã cố bảo vệ tôi khỏi Capitol lẫn phiến quân, vậy mà tôi không những không bảo vệ được cậu mà còn mang đến cho cậu nhiều tai ách hơn.
Đến sáng, tôi gí cánh tay vào tường và chằm chằm nhìn thời gian biểu với vẻ rã rời. Ngay sau bữa sáng, tôi có lịch đến phòng Sản xuất. Trong phòng ăn, khi vội vàng xơi ngũ cốc nóng và sữa cùng củ cải đường mền nhừ, tôi phát hiện ra chiếc đồng hồ liên lạc ngự trên cổ tay Gale. “Anh lấy lại nó khi nào vậy, Chiến binh Hawthorne?” tôi hỏi.
“Hôm qua. Họ cho rằng nếu anh sắp ra trận với em thì nó sẽ là hệ thống liên lạc dự phòng,” Gale đáp.
Chưa ai từng trao cho tôi một chiếc đồng hồ liên lạc. Tôi tự hỏi nếu mình đòi một cái thì có được chấp thuận không? “Ừ thì một trong chúng ta phải tỏ ra thân thiện chứ,” giọng tôi thoáng mỉa mai.
“Nói thế là ý gì?”
“Chả có ý gì cả. Chỉ nhắc lại câu anh từng nói thôi,” tôi bảo anh. “Và em đồng ý cả hai chân tay rằng người thân thiện đó nên là anh. Em chỉ mong mình vẫn có thể tiếp xúc với anh thôi.”
Bốn mắt nhìn nhau không rời, và tôi nhận ra mình giận Gale biết chừng nào. Rằng tôi không tin, dù chỉ trong thoáng lát, rằng anh chưa từng xem ĐTT của Peeta. Rằng tôi cảm thấy mình bị phản bội trắng trợn khi anh không hề nói với tôi về điều đó. Chúng tôi biết nhau quá rõ, khó mà có chuyện anh không hiểu được tâm trạng tôi, không đoán được mình đã gây ra cơ sự gì.
“Katniss à...” anh lựa lời. Giọng anh nhuốm vẻ thú tội.
Tôi vồ lấy khay ăn, đi phăm phăm đến chỗ để bát đĩa dùng rồi, nện mạnh mấy cái đĩa lên giá. Đến lúc tôi ra ngoài hành lang thì anh bắt kịp.
“Sao em không nói gì?” Anh giữ cánh tay tôi.
“Sao
em
không nói gì á?” Tôi giật tay ra. “Phải là
anh
mới đúng chứ, Gale. Mà tiện đây thì em nói cho rồi, lúc tối qua em hỏi anh có chuyện gì ấy!”
“Anh xin lỗi. Được chưa? Lúc đó anh không biết phải làm gì. Anh muốn nói với em, nhưng mọi người sợ em đau lòng khi xem ĐTT của Peeta,” anh nói.
“Họ nói đúng đấy. Em đau lòng thật. Nhưng không đau bằng việc anh nói dối em vì Coin.” Đúng lúc đó đồng hồ liên lạc của anh kêu bíp bíp. “Bà ta đấy. Còn không mau chạy đi. Anh có chuyện để tâu với bà ta còn gì.”
@STE’NT
Trong khoảnh khắc, nỗi đau thực sự hằn lên mặt anh. Rồi cơn giận dữ lạnh lùng thế chỗ. Anh quay gót đi thẳng. Có lẽ tôi đã quá cay nghiệt, thậm chí không cho anh đủ thời gian thanh minh. Có lẽ mọi người nói dối cũng chỉ để bảo vệ tôi. Tôi không quan tâm. Tôi chán ngấy việc mọi người cứ nói dối tôi vì muốn tốt cho tôi rồi. Bởi thực ra họ làm thế chủ yếu vì muốn tốt cho bản thân. Nói dối Katniss về cuộc nổi dậy để cô ta không làm điều gì điên rồ. Đừng kể gì với cô ta về ĐTT của Peeta kẻo cô ta đau lòng, vì để có được màn trình diễn ra trò từ cô ta đã đủ khó lắm rồi.
Đúng là tôi cảm thấy đau thật. Đau lòng. Và quá mệt mỏi vì một ngày sản xuất đang chờ phía trước. Nhưng tôi đã đến Phòng Tái tạo rồi, nên cứ thế bước vào. Tôi phát hiện ra hôm nay chúng tôi sẽ quay trở lại Quận 12. Cressida muốn thực hiện một cuộc phỏng vấn ngẫu hứng để Gale và tôi tiết lộ về thành phố đổ nát của mình.
“Nếu cả hai đều sẵn lòng,” Cressida nói, nhìn tôi chăm chú.
“Tôi có đi,” tôi đáp. Tôi đứng đó, lầm lì cứng nhắc như ma nơ canh chính hiệu trong khi đội chuẩn bị chưng diện cho tôi, làm tóc, nhẹ nhàng trang điểm khuôn mặt tôi. Không đủ để tỏa sáng ngời ngời, chỉ đủ để che những quầng thâm khỏi đôi mắt thiếu ngủ của tôi.
Boggs hộ tống tôi xuống Kho Tàu bay, nhưng chúng tôi không nói gì quá giới hạn chào hỏi thông thường. Tôi cảm thấy biết ơn vì tránh được cuộc trao đổi về việc tôi bất tuân lệnh ở Quận 8, nhất là khi chiếc mặt nạ của ông trông bất tiện vô cùng.
Đến phút cuối, tôi nhớ ra phải nhắn cho mẹ biết việc tôi rời khỏi Quận 13, và nhấn mạnh rằng việc này không hề nguy hiểm. Chúng tôi lên tàu bay đi một chuyến ngắn tới Quân 12, và tôi được chỉ đến ngồi bên chiếc bàn nơi Plutarch, Gale và Cressida đang nghiền ngẫm một tấm bản đồ. Plutarch hài lòng hết ý cho tôi xem tiền/hậu hiệu ứng của hai ĐTT đầu tiên. Phiến quân, những người trước kia hầu như không có chỗ đứng ở một số quận, đã tập hợp lại. Họ đã chiếm được Quận 3 và 11 – trong đó Quận 11 có vai trò cốt yếu vì là nguồn cung cấp thực phẩm chính cho Panem – đồng thời kiểm soát được vài quận khác.
“Thật hứa hẹn. Cực kỳ hứa hẹn,” Plutarch nói. “Tối nay Fulvia sẽ cho phát loạt ĐTT
Ta nhớ
đầu tiên, để chúng ta có thể nhắm đến từng quận bằng chính vật tế đã chết của họ. Finnick phải nói là cực đỉnh.”
“Thực sự thì xem mấy cảnh đó tôi cũng xót xa lắm,” Cressida nhận xét. “Cậu ấy từng quen biết nhiều người trong số họ.”
“Thế mới hiệu quả chứ,” Plutarch nói. Từ tận đáy lòng mình luôn. Mọi người làm tốt lắm. Coin hẳn sẽ không chê trách được gì.”
Vậy là Gale chưa nói với họ. Về việc tôi giả vờ chưa xem đoạn phỏng vấn Peeta và chuyện tôi giận dữ vì bị họ ém nhẹm thông tin. Nhưng tôi nghĩ thế cũng chẳng bõ bèn gì, quá muộn, bởi tôi không thể bỏ qua được. Vô nghĩa thôi. Anh cũng chưa nói chuyện với tôi.
Mãi đến khi chúng tôi đáp xuống Đồng cỏ, tôi mới nhận ra là thiếu Haymitch. Khi tôi thắc mắc sao ông lại vắng mặt, Plutarch chỉ lắc đầu nói, “Ông ta không đối mặt nổi.”
“Haymitch ư? Không đốt mặt nổi với cái gì? Muốn nghỉ một hôm thì đúng hơn,” tôi nói.
“Tôi nghĩ nguyên văn lời ông ta là ‘Không có rượu thì tôi không đối mặt nổi với cảnh đó,’” Plutarch đáp.
Tôi đảo mắt, mất kiên nhẫn hết sức với người hướng dẫn của tôi, thói nghiện rượu của ông, cũng như những gì ông có hoặc không thể đương đầu. Nhưng sau khi đặt chân trở lại Quận 12 chừng dăm phút, tôi ước gì cũng có một chai cho riêng mình. Tôi những tưởng mình đã chấp nhận tổn thất của Quận 12 – đã nghe nói đến, đã nhìn thấy từ trên không, đã lang thang qua những đống tro tàn. Vậy tại sao tất cả lại khơi lên nỗi đau còn vẹn nguyên như mới? Phải chăng lúc trước đơn giản là tôi quá rối trí nên chẳng thể nhận thức được đầy đủ nỗi mất mát trong đời mình? Hay chính nét mặt Gale khi đánh giá những thiệt hại theo từng bước chân khiến nỗi thảm khốc vẫn dữ dội như lúc ban đầu.
Cressida chỉ đạo cả đội quay tôi trước, địa điểm là ngôi nhà cũ của tôi. Tôi muốn hỏi chị muốn tôi làm gì. “Cô muốn thể hiện gì cũng được,” chị nói. Trở về đứng, nơi căn bếp xưa cũ, tôi chẳng muốn làm gì hết. Thực ra tôi thấy mình chăm chú ngước nhìn bầu trời – còn lại mỗi mái nhà chỏng chơ – vì có quá nhiều kỷ niệm ùa về trong tôi. Lát sau, Cressida nói. “Được rồi Katniss. Đi thôi.”
Gale lại không đối mặt dễ dàng đến thế khi trở về mái nhà xưa. Cressida quay cảnh anh im lặng vài phút, nhưng ngay khi anh lôi tàn tích của cuộc sống ngày trước ra khỏi đống tro tàn – một que cời lửa bằng kim loại méo mó – thì chị bắt đầu hỏi anh về gia đình, công việc cũng như cuộc sống ở khu Vỉa than. Chị bắt anh quay trở lại cái đêm xảy ra vụ bom lửa, tái hiện những gì đã xảy ra, từ nhà mình, anh nhọc nhằn đi qua Đồng cỏ vào rừng đến bên hồ. Tôi lê bước theo sau đoàn làm phim và nhóm vệ sĩ, cảm thấy sự hiện diện của họ đã xâm phạm cánh rừng yêu dấu của mình. Đây là chốn riêng tư, một nơi trú ẩn đã bị những bóng ma Capitol hủy hoại. Kể cả sau khi ra đi bỏ lại những gốc cây cháy thành than gần hàng rào, chúng tôi vẫn vấp phải những thi thể mục rữa. Chúng tôi phải ghi lại cảnh này cho mọi người xem ư?
Khi chúng tôi đến hồ, Gale dường như không nói nổi. Ai nấy đều nhễ nhại mồ hôi – nhất là Castor và Pollux trong lớp vỏ côn trùng kia – Cressida bèn cho toàn đội nghỉ giải lao. Tôi vốc nước hồ lên, ước gì có thể nhào xuống nước, một mình một cõi bồng bềnh trên làn nước, ở trần và không bị ai dòm ngó. Tôi thơ thẩn quanh vành đai hồ một lúc. Khi tôi vòng trở lại căn nhà xi măng nhỏ xíu bên hồ, đang ngập ngừng nơi ngưỡng cửa thì thấy Gale dựng que cời lửa cong queo mà anh lấy lại được vào bức tường gần nền lò sưởi. Trong thoáng chốc tôi hình dung ra một người lạ đơn độc, vào một lúc nào đó trong tương lai xa xôi, lạc bước vào miền hoang dã rồi tìm thấy nơi nương náu bé nhỏ này, với những khúc gỗ chẻ, nền lò sưởi, que cời lửa. Tự hỏi mọi sự sẽ thế nào. Gale quay lại bắt gặp ánh mắt tôi và tôi biết anh đang nghĩ về cuộc gặp cuối cùng của chúng tôi ở đây. Khi chúng tôi tranh cãi về việc có nên bỏ trốn hay không. Nếu có thì Quận 12 còn tồn tại không? Tôi nghĩ là có. Nhưng Capitol vẫn sẽ kiểm soát cả Panem.
Những chiếc bánh kẹp pho mát được chuyển đến tay mọi người và chúng tôi ngồi ăn dưới bóng cây. Tôi cố tình ngồi tít mé ngoài, kế bên Pollux, để khỏi phải nói chuyện. Mà thực ra thì cũng chẳng ai nói gì nhiều. Trong bầu không khí khá tĩnh lặng ấy, lũ chim lại chiếm lĩnh khu rừng. Tôi huých cùi trỏ vào người Pollux, chỉ cho anh xem một con chim nhỏ màu đen có mào. Nó nhảy lích chích sang một cành cây khác, thoáng danh cánh để lộ những khoang trắng. Pollux chỉ vào chiếc ghim của tôi, nhướng mày vẻ dò hỏi. Tôi gật đầu, khẳng đinh nó chính là chim húng nhại. Tôi giơ ngón tay lên ngụ ý
Đợi đã, để em cho anh xem
, rồi huýt sáo gọi chim. Con chim húng nhại ngẩng đầu lên đáp lại ngay tiếng huýt của tôi. Rồi, trước sự ngạc nhiên của tôi, Pollux cũng huýt vài nốt theo cách của riêng mình. Con chim lập tức huýt trả. Khuôn mặt Pollux ngời lên vẻ thích thú, một tràng tiếng huýt du dương cứ trao qua gửi lại giữa anh và con chim. Có lẽ đó là đoạn hôi thoại đầu tiên anh có sau hàng năm giời. Tiếng nhạc thu hút chim húng nhại tương tự như hoa nở hấp dẫn loài ong, và chẳng mấy chốc đã có nửa tá húng nhại kéo đến đậu trên những cành cây trên đầu chúng tôi. Anh gõ gõ tay tôi và dùng nhánh cây con vạch một chữ lên đất.
HÁT
?
Thông thường tôi sẽ nói từ chối nhưng trong tình cảnh này thì khó có thể khước từ Pollux. Vả lại, tiếng hót của chim húng nhại thì khác xa tiếng huýt, và tôi muốn anh được nghe những âm thanh đó. Vì thế, không kịp suy nghĩ chín chắn về những gì định làm, tôi cất lên bốn nốt nhạc của Rue mà em từng hát báo hiệu ngày làm việc kết thúc ở Quận 11. Nhũng thanh âm đến phút cuối lại làm nhạc nền tiễn đưa em. Lũ chim không biết điều đó. Chúng chọn một đoạn đơn giản rồi cùng nhau tung hứng trong một bản hòa âm ngọt ngào. Như chúng từng làm trong Đấu trường Sinh tử trước khi bầy mút xuyên qua rừng cây, rượt đuổi chúng tôi đến Cornucopia, và chậm rãi nhay Cato thành một đống bầy nhầy bết máu...
“Muốn nghe lũ chim hót một bài hẳn hoi không?” tôi buột miệng. Bất cứ thứ gì để chặn dòng ký ức đó lại. Tôi đứng lên, quay lại chỗ đám cây, đặt tay lên thân cây phong thô ráp mà lũ chim đang đậu. Tôi không hát to bài
Cây Treo cổ
mười năm nay rồi, vì nó bị cấm, nhưng tôi vẫn nhớ rõ từng lời. Tôi cắt tiếng hát thật khẽ, thật êm như cha tôi từng làm.
“Em có, em có
Đến bên cây
Kẻ giết ba người lủng lẳng trên cành ấy.
Nơi đây đã xảy ra bao điều kỳ dị
Nào còn chi lạ lẫm
Nếu nửa đêm ta gặp nhau bên cây treo cổ.”
Lũ húng nhại bắt đầu thay đổi giai điệu khi nghe thấy bài hát mới của tôi.
“Em có, em có
Đến bên cây
Nơi linh hồn ấy kêu gọi tình nhân xa bay cao chạy.
Nơi đây đã xảy ra bao điều kỳ dị
Nào còn chi lạ lẫm
Nếu nửa đêm ta gặp nhau bên cây treo cổ.”
Tôi đã khiến lũ chim chú ý. Thêm một đoạn nữa, chắc chắn chúng sẽ nắm bắt giai điệu vì nó khá đơn giản và được lặp lại bốn lần mà chỉ thay đổi chút ít.
“Em có, em có
Đên bên cây
Cho tôi nhắn nhủ ‘Chạy đi để ta cùng tự do’
Nơi đây đã xảy ra bao điều kỳ dị
Nào còn chi lạ lẫm
Nếu nửa đêm ta gặp nhau bên cây treo cổ.”
Bầu thinh lặng trùm khắp các tán cây. Chỉ có tiếng lá sột soạt trong gió nhẹ. Nhưng không một con chim nào cất tiếng hót, dù là húng nhại hay bất kỳ loài nào khác. Peeta nói đúng. Khi tôi hát lũ chim thảy đều im lặng. Như chúng từng làm với cha tôi vậy.
“Em có, em có
Đên bên cây
Bầu bạn bên tôi, cổ tròng dây.
Nơi đây đã xảy ra bao điều kỳ dị
Nào còn chi lạ lẫm
Nếu nửa đêm ta gặp nhau bên cây treo cổ.”
Lũ chim đợi tôi hát tiếp. Nhưng chỉ có vậy. Đoạn cuối cùng. Giữa lúc thanh tĩnh tôi nhớ lại một cảnh tượng. Tôi trở về nhà sau một ngày ở trong rừng cùng cha. Ngồi trên sàn nhà với Prim hồi ấy mới lẫm chẫm biết đi, hát bài “
Cây Treo cổ
”. Làm vòng cổ cho hai chị em từ những sợi thừng cũ giống như lời bài hát đã nhắc đến mà không hiểu ý nghĩa thực sự của ca từ. Tuy vậy giai điệu cũng khá đơn giản và dễ hòa âm, mà thuở ấy tôi có thể nhớ hầu hết mọi thứ có nhạc tính sau một hoặc hai lần nghe. Bỗng nhiên, mẹ tôi giật lấy cái vòng cô dây thừng ném đi và hét lên với cha tôi. Tôi òa khóc bởi mẹ chưa bao giờ thét lác cả, rồi Prim cũng ré lên, vậy là tôi liền chạy ra ngoài trốn. Vì tôi đích xác chỉ có một nơi ẩn náu – dưới bụi kim ngân trên Đồng cỏ - nên cha tìm thấy tôi ngay. Cha vỗ về tôi, bảo rằng không sao hết, chỉ là chúng tôi không nên hát bài đó nữa. Mẹ chỉ muốn tôi quên nó đi. Và tất nhiên là từng lời khắc vào não tôi ngay tức thì, không thể ngăn nổi.
Chúng tôi không hát bài đó nữa, cha và tôi, thậm chí cũng chẳng nhắc đến. Sau khi cha mất, bài hát ấy thường trở đi trở lại trong tôi. Lớn hơn, tôi dần hiểu ca từ của nó. Đoạn đầu nghe như một chàng trai cố rủ bạn gái hẹn hò bí mật lúc nửa đêm. Nhưng địa điểm hẹn lại rất kỳ quặc, cây treo cổ, nơi một người đàn ông bị treo cổ vì tội giết người. Người yêu của kẻ sát nhân chắc hẳn có liên quan tới vụ giết người, hoặc có thể đằng nào người ta cũng sắp trừng phạt cô, vì hồn ma của anh kêu gọi cô hãy chạy chốn. Rõ là quái đản, chỗ hồn ma biết nói ấy, nhưng đến đoạn ba mới gọi là sởn da gà. Ta nhận ra người hát bài hát này chính là kẻ sát nhân đã chết. Anh ta vẫn quanh quất bên cây treo cổ. Và dẫu có bảo người yêu tháo thân thì anh ta vẫn không ngừng hỏi cô có đến gặp mình không.
Câu Cho tôi nhắn nhủ ‘Chạy đi để ta cùng tự do’
là câu rắc rối nhất vì ban đầu tưởng rằng anh ta đang nói về lúc bảo cô gái bỏ trốn, có lẽ là đến nơi an toàn. Nhưng sau ta lại tự hỏi có phải anh ta muốn bảo cô hãy chạy đến với mình không. Với cái chết. Ở khổ cuối, rõ ràng đó chính là điều anh ta chờ đợi. Người yêu chàng trai, cổ tròng dây thừng, treo lủng lẳng bên anh ta.
Tôi đã từng nghĩ tên sát nhân này là kẻ quái dị nhất mà ta có thể tưởng tượng ra. Giờ đây, sau khi trải qua hai kỳ Đấu trường Sinh tử, tôi quyết định sẽ không phán xét anh ta nếu không biết rõ hơn. Biết đâu người yêu anh ra bị kết án tử hình và anh ta chỉ cố khiến sự việc trở nên dễ chấp nhận hơn. Để cô biết rằng anh vẫn chờ đợi cô. Hoặc không chừng anh ta cho rằng nơi mình bỏ cô lại còn tệ hơn cả cái chết. Chẳng phải tôi từng muốn tiêm chết Peeta để cứu cậu ta khỏi bàn tay của Capitol sao? Đó có thực là lựa chọn duy nhất của tôi không? Có lẽ là không, nhưng lúc đó tôi chẳng thế nghĩ ra cách nào khác.
Dù vậy tôi đoán rằng mẹ nghĩ toàn bộ chuyện này quá phức tạp với một đứa bé bảy tuổi. Nhất là đứa tự làm cho mình cái vòng bằng dây thừng. Không phải chi tiết treo cổ chỉ xảy ra trong câu chuyện. Biết bao người dân ở Quận 12 đã bị hành hình theo cách đó. Chắn chắn mẹ không muốn tôi hát to bài này trong tiết nhạc. Có lẽ mẹ cũng chẳng muốn tôi làm thế ở đây, thậm chí vì Pollux, nhưng ít ra tôi không –khoan đã, không, tôi sai rồi. Khi liếc sang hai bên, tôi thấy Castor đang ghi hình mình. Ai nấy đều đang nhìn tôi chăm chú. Pollux thì ròng ròng nước mắt vì hẳn nhiên bài hát kỳ dị của tôi đã khơi lại một câu chuyện kinh hoàng nào đó trong đời anh. Đã tuyệt chưa? Tôi thở dài, tựa vào thân cây. Rồi chính lúc đó, lũ chim húng nhại bắt đầu biểu diễn bài “
Cây Treo cổ”
. Bài hát cất lên từ miệng chúng nghe thật đẹp. Nhận ra mình đang bị ghi hình, tôi đứng im, cho đến khi Cressida hô, “Cắt!”
Plutarch từ bên kia bước đến chỗ tôi, cười tươi rói. “Cô lấy ý tưởng này từ đâu ra vậy? Nếu chúng ta dựng đoạn phim này thì sẽ chẳng ai tin nổi cho xem.” Ông choàng tay quanh người tôi và hôn đánh choách lên đỉnh đầu tôi. “Cô thật đáng giá!”
“Tôi không làm thế để quay phim,” tôi nói.
“Thế thì thật may là các máy quay đang bật,” ông đáp. “Nào mọi người, quay về thôi!”
Trên đường lê bước trở ra khỏi rừng, chúng tôi đến chỗ một tảng đá, và cả tôi lẫn Gale đều quay đầu về cùng một hướng như đôi chó đánh hơi thấy mùi trong gió. Cressida nhận ra bèn hỏi phía đó có gì. Chúng tôi thú nhận, mà không nhìn nhau, rằng đó là điểm hẹn săn bắn của hai đứa. Chị muốn xem nơi đó, kể cả sau khi chúng tôi nói rằng chỗ ấy chẳng có gì hay ho cả.
Chẳng có gì ngoài chuyện là nơi khiến tôi hạnh phúc,
tôi thầm nghĩ.
Gờ đá nhìn xuống một thung lũng. Có lẽ kém xanh tươi hơn mọi khi, nhưng những bụi mâm xôi thì trĩu quả. Nơi đây là khởi điểm của những ngày bất tận cùng nhau săn bắn và đặt bẫy, câu cá và hái lượm, rong chơi khắp rừng, thổ lộ mọi tâm tình khi chất đầy túi săn. Đó là ngưỡng cửa dẫn tới sinh kế và cả sự sáng suốt. Và chúng tôi là chìa khóa của nhau.
Giờ chẳng còn Quận 12 để mà chạy trốn nữa, không còn Trị an viên nào để ta phải giở mánh đối phó, cũng chẳng còn cái miệng đói ăn nào tiếp tế. Capitol đã lấy đi tất cả những thứ đó, và tôi cũng sắp mất cả Gale. Nhu cầu chung từng là chất keo kết dính hai đứa tôi ngần ấy năm đang dần tan chảy. Những trắc trở thực sự, không phải vụn vặt, chắn giữa chúng tôi. Nông nỗi nào mà hôm nay, dù đối mặt với tổn thất nặng nề của Quận 12, chúng tôi vẫn giận dữ đến mức chẳng thể mở miệng nói với nhau?
Gale nói dối tôi cũng thật tài. Đây là điều không thể chấp nhận được, dù anh làm thế vì lợi ích của tôi. Dẫu vậy lời xin lỗi của anh có vẻ thật lòng. Thế mà tôi lại ném trả vào mặt anh kèm theo lời sỉ nhục để chắc chắn làm anh tổn thương. Chuyện gì đang xảy ra với chúng tôi vậy? Tại sao giờ đây lúc nào chúng tôi cũng đối địch nhau? Thật đúng là mớ bòng bong, nhưng không hiểu sao tôi có cảm giác nếu mình lần lại cội rễ của vấn đề thì cốt lõi chính là hành động của tôi. Tôi có thực muốn xua đuổi anh không?
Tôi nắm trái mâm xôi ngắt khỏi cuống. Nhẹ nhàng vê nó giữa ngón trỏ và ngón cái. Rồi đột nhiên tôi quay sang ném nó về phía anh. “Và chúc cho may mắn...” tôi bỏ lửng. Tôi ném nó lên cao để anh có nhiều thời gian quyết định xem sẽ hất nó sang bên hay đón lấy.
Mắt Gale chĩa vào tôi, không phải trái mâm xôi, nhưng vào giây phút cuối cùng, anh há miệng ra đỡ trọn. Anh nhai rồi nuốt, ngừng hồi lâu mới nói “...sẽ
luôn
mỉm cười với bạn.” Ít nhất anh cũng
có
nói.
Cressida bảo chúng tôi ngồi trong góc thụt của tảng đá, cái chỗ không thể nào không gây xúc động được, và dụ chúng tôi nói về săn bắn. Điều gì đã thúc đẩy chúng tôi vào rừng, chúng tôi gặp nhau thế nào, những khoảnh khắc yêu thích nhất. Chúng tôi bớt dè dặt hơn, bắt đầu cười chút ít khi kể về những lần gặp tai nạn với lũ ong, cho hoang và chồn hôi. Khi cuộc nói chuyện lái sang việc chúng tôi cảm thấy như thế nào khi thế hiện kỹ năng sử dụng vũ khí trong trận đánh bom ở Quận 8 thì tôi ngưng bặt. Gale chỉ nói, “Lẽ ra phải làm từ lâu rồi.”
Đến khi chúng tôi tới quảng trường thị trấn thì chiều đã ngả hẳn về tối. Tôi dẫn Cressida tới tiệm bánh đổ nát bảo chị quay một thước phim. Thứ cảm xúc duy nhất tôi có thể gom góp lại chỉ là sự rã rời. “Peeta à, đây là nhà cậu. Không ai nghe tin gì về gia đình cậu từ sau vụ đánh bom. Quận 12 mất rồi. Thế mà cậu lại kêu gọi đình chiến ư?” Tôi liếc quanh bốn bề trống rỗng. “Ở đây chẳng còn lại ai để nghe cậu nói đâu.”
Khi chúng tôi đứng trước đống kim loại xưa là giá treo cổ, Cressida hỏi có ai trong chúng tôi từng bị tra tấn hay không. Thay cho câu trả lời, Gale cởi áo sơ mi ra quay lưng lại ống kính. Tôi chằm chằm nhìn những vết sẹo do roi vọt để lại, trong tai lại vang lên tiếng roi quất phần phật, thấy hình hài đẫm máu của anh bị trói cổ tay lủng lẳng, bất tỉnh nhân sự.
“Thôi xong rồi,” tôi tuyên bố. “Tôi sẽ gặp mọi người ở Làng Chiến thắng. Thứ gì đó... cho mẹ tôi.”
Có lẽ tôi đã đi bộ đến đây, nhưng đến khi ý thức của tôi quay trở lại thì tôi đã thấy mình đang ngồi trên sàn trước tủ bếp ở ngôi nhà nơi Làng Chiến thắng. Cẩn thận xếp những chiếc bình gốm và lọ thủy tinh vào hộp. Nhét băng bông sạch vào giữa để tránh vỡ. Gói hàng bó hoa khô.
Thốt nhiên tôi nhớ ra bông hồng trên bàn phấn. Liệu nó có thật không? Nếu thật thì nó còn ở đó chứ? Tôi cố cưỡng lại thôi thúc đi kiểm tra. Nếu nó còn đấy thì chỉ khiến nỗi sợ hãi cứ trở đi trở lại trong tôi thôi. Tôi cập rập gói đồ.
Khi các ngăn tủ đã trống trơn, tôi đứng lên thấy Gale đã vào bếp từ lúc nào. Thật bực mình vì anh lại xuất hiện êm ru như thế. Anh cúi xuống bàn, ngón tay choãi rộng trên thớ gỗ. Tôi đặt chiếc hộp giữa hai đứa. “Nhớ không?” anh hỏi. “Đây là nơi em đã hôn anh.”
Hóa ra lượng ma phiện liều cao tiêm cho anh sau trận đòn roi không đủ mạnh để xóa nhòa điều đó khỏi nhận thức của anh. “Em tưởng anh không nhớ,” tôi nói.
“Đến chết mới quên được. Có khi tới lúc ấy cũng không,” anh bảo tôi. “Có lẽ anh sẽ giống người đàn ông trong ‘Cây Treo cổ’. Vẫn chờ đợi câu trả lời.” Gale, người mà tôi chưa từng thấy nhỏ lệ bao giờ, đang ngân ngấn nước mắt. Để ngăn lệ trào, tôi bước tới áp môi trên môi anh. Chúng tôi nếm thấy hơi nóng, tro tàn, cùng mùi khổ hạnh. Một hương vị đáng ngỡ ngàng cho nụ hôn dịu nhẹ nhường ấy. Anh rứt ra trước, đoạn gượng cười. “Anh đã biết thế nào em cũng hôn anh mà.”
“Tại sao?”
“Vì anh đang đau đớn,” anh đáp. “Đó là cách duy nhất khiến em chú ý đến anh.” Anh bê chiếc hộp lên. “Đừng lo, Katniss. Rồi sẽ qua thôi.” Anh rời đi không cho tôi kịp trả lời.
Tôi quá rệu rã không biết phải đối phó ra sao với pha chớp nhoáng vừa rồi của Gale. Suốt chuyến bay ngắn trở về Quận 13 tôi chỉ cuộn tròn trên ghế, cố tảng lờ Plutarch đang thao thao bất tuyệt về một trong những chủ đề yêu thích – những thứ vũ khí không còn có sẵn cho nhân loại tùy nghi sử dụng nữa. Máy bay tầm cao, vệ tinh quân sư, máy nghiền tế bào, máy bay không người lái, vũ khí sinh học có hạn sử dụng. Bị xóa sổ do bầu khí quyển bị hủy hoại, thiếu tài nguyên hay trái đạo đức. Có thể nghe thấy nỗi nuối tiếc của vị Trưởng Ban Tổ chức Đấu trường Sinh tử, giờ ngài chỉ biết mơ về những món đồ chơi đó và đành chấp nhận tàu bay với tên lửa mặt đất với mấy khẩu súng cũ đơn giản.
Sau khi trút bỏ bộ đồ Húng nhại, tôi đi thẳng về giường không thiết ăn uống. Thế mà Prim vẫn lay tôi dậy sáng hôm sau. Ăn sáng xong, tôi không đếm xỉa gì đến thời gian biểu mà lại chợp mắt trong tủ dụng cụ. Ngủ dậy, lồm cồm bò ra giữa đống hộp phấn và bút chì lỉnh kỉnh thì đã đến giờ ăn tối. Tôi dùng một suất xúp đậu cỡ đại và đang được dẫn trở về Phòng E thì bị Boggs chặn lại.
“Có cuộc họp ở Bộ Tư lệnh. Bỏ qua thời gian biểu hôm nay của cháu đi,” ông nói.
“Rõ,” tôi đáp.
“Hôm nay cháu có tuân theo thời gian biểu tí nào không đấy,” ông hỏi vẻ bực bội.
“Ai mà biết được? Cháu bị rối loạn tinh thần mà.” Tôi giơ cổ tay lên định cho ông xem chiếc vòng y tế thì nhận ra nó đã biến mất. “Thấy chưa? Cháu còn chả nhớ là người ta đã lấy chiếc vòng. Sao họ lại muốn cháu đến Bộ Tư lệnh nhỉ? Cháu có bỏ lỡ gì không?”
“Chắc là Cressida muốn cho cháu xem ĐTT Quận 12. Nhưng ta đoán rồi cháu cũng sẽ xem khi nào phát sóng thôi,” ông đáp.
“Thế nên cháu mới cần thời gian biểu. Khi ĐTT lên sóng ấy,” ông nói. Ông quắc mắt nhìn tôi nhưng không nhận xét gì thêm.
Mọi người đã ngồi kín Bộ Tư lệnh, nhưng vẫn dành cho tôi một chỗ giữa Finnick và Plutarch. Màn hình đã hiện lên bàn, trưng ra đường dẫn quen thuộc tới kênh Capitol.
“Chuyện gì vậy? Không phải chúng ta sắp xem ĐTT Quận 12 sao?” tôi hỏi.
“Ôi, không,” Plutarch nói. “Ý tôi là, chắc thế. Tôi không biết rõ Beetee định sử dụng cảnh nào.”
“Beetee cho rằng ông ấy đã tìm ra cách đột nhập vào đường dẫn toàn quốc,” Finnick lên tiếng. “Để ĐTT của chúng ta cũng sẽ lên sóng Capitol. Hiện ông ấy đang nghiên cứu dưới Ban Phòng thủ Đặc biệt. Tối nay sẽ có chương trình trực tiếp. Snow sẽ xuất hiện hay sao đó. Có lẽ bắt đầu rồi đây.”
Dấu triện Capitol hiện ra, được tăng cường hiệu quả bởi bài quốc ca. Rồi tôi chằm chằm nhìn thẳng vào cặp mắt rắn của Tổng thống Snow khi ông ta chào hỏi quốc dân. Ông ta có vẻ bị bao bọc kín sau chiếc bục, nhưng vẫn trông thấy trọn vẹn bông hồng trắng trên ve áo. Máy quay chĩa sang hướng khác thu cảnh Peeta ngồi một bên trước tấm bản đồ Panem được phát bằng máy chiếu. Cậu ngồi trên ghế treo, chân đặt trên thanh ngang kim loại. Chiếc chân giả của cậu gõ gõ theo nhịp kỳ quặc bất thường. Những giọt mồ hôi lấm tấm xuyên qua lớp phấn nơi môi và trán cậu. Nhưng chính ánh mắt cậu – giận dữ nhưng thiếu tập chung – mới là thứ khiến tôi sợ hãi nhất.
“Cậu ấy tàn tạ hơn rồi,” tôi thì thầm. Finnick nắm chặt tay tôi cho tôi chỗ bấu víu, còn tôi cố gắng bám riết lấy.
Peeta não nề cất tiếng về sự cấp thiết của việc đình chiến. Cậu nhấn mạnh những tổn thất đối với cơ sở hạ tầng chủ chốt ở nhiều quận, và trong khi cậu nói, một số phần trên bảng đồ sáng lên cho thấy những hình ảnh tàn phá. Một con đập bị vỡ ở Quận 7. Một đoàn tàu bị trật bánh khiến nước thải độc hại tràn lênh láng khỏi toa chứa hàng. Một kho thóc sụm nát sau vụ cháy. Tất cả những thiệt hại này cậu đều quy cho hành động nổi loạn.
Bùm!
Không hề báo trước, tôi thình lình xuất hiện trên màn hình ti vi, đứng trước tiệm bánh đổ nát.
Plutarch nhảy cẫng lên. “Ông ấy làm được rồi! Beetee đột nhập được rồi.”
Mọi người trong phòng đang lao xao phản ứng thì Peeta xuất hiện trở lại, vẻ sao nhãng. Cậu đã thấy tôi trên màn hình. Cậu cố tiếp tục bài diễn văn bằng cách chuyển sang nói về vụ đánh bom nhà máy lọc nước thì bị một cảnh phim ngắn có cảnh Finnick nói về Rue chen vào. Rồi tất cả thành một trận chiến truyền thông khi các chuyên gia kỹ thuật của Capitol cố ngăn chặn đòn tấn công của Beetee. Nhưng họ đã bị phủ đầu, còn Beetee, hình như đã dự đoán rằng mình sẽ không thể nắm thế kiểm soát, thì có cả một kho vũ khí gồm những đoạn phim ngắn dài từ năm tới mười giây để xoay xở. Chúng tôi chứng kiến bài phát biểu chính thức chìm dần khi từ ĐTT phóng ra tới tấp cách chọn lựa.
Pkutarch bừng bừng phấn khích và hầu hết mọi người đều chúc mừng Beetee, nhưng Finnick vẫn đứng lặng người bên tôi. Tôi bắt gặp ánh mắt của Haymitch ở bên kia phòng, và nhìn thấy vẻ khiếp đảm của mình đang được phản chiếu trong đó. Cái vẻ ngộ ra rằng với mỗi lời chúng mừng thì Peeta lại tuột xa hơn khỏi tay của chúng tôi.
Dấu triện Capitol xuất hiện trở lại, kèm theo giọng thu âm đều đều. Nó kéo dài chừng hai mươi giây thì Snow và Peeta quay lại màn hình. Cảnh tượng thật rối loạn. Chúng tôi nghe thấy những lời trao đổi nhốn nháo từ các ca bin của họ. Snow nhoài ra trước, rành rọt nói rằng phiến quân đang tìm cách cản trở việc truyền bá những thông tin buộc tội họ, nhưng sự thật và công lý sẽ lên ngôi. Toàn bộ buổi phát sóng được chiếu lại sau khi tình hình an ninh vãn hồi. Ông ta hỏi Peeta xem trong màn thể hiện tối nay như vậy, cậu có muốn nói lời chào tạm biệt nào với Katniss Everdeen không.
Nghe nhắc đến tên tôi, Peeta gồng mình đến rúm ró mặt mày. “Katniss à.... cậu nghĩ chuyện này sẽ kết thúc thế nào đây? Sẽ còn lại những gì? Không ai được an toàn hết. Cả ở Capitol. Cả ở các quận. Còn cậu... ở Quận 13...” Cậu hít mạnh vào, như thể cố hớp không khí, cặp mắt trông hoảng loạn. “Sáng mai là chết!”
Đằng sau ống kính, Snow ra lệnh, “Kết thúc đi!” Beetee đẩy tất cả vào mớ hỗn loạn bằng cách cứ ba giây một lần cho phát nhanh một cảnh tĩnh với hình ảnh tôi đứng trước bệnh viện. Nhưng giữa những hình ảnh đó, riêng chúng tôi được biết hành động thật đang diễn ra tại hiện trường. Peeta nỗ lực nói tiếp. Máy quay chĩa xuống sàn gạch trắng tinh. Những đôi giày hỗn loạn. Lực của cú đấm giáng xuống đi liền với tiếng thét đau đớn của Peeta.
Và rồi máu của cậu văng tung tóe ra sàn gạch.