Đồng Tiền Lên Ngôi

phần lớn hơn,

phần lớn hơn,

phần lớn hơn, những nơi hằng ngày cho thị trường chiết khấu vay hàng triệu đồng ngắn hạn. Quyết định của các ngân hàng cổ phần đòi lại các khoản cho vay càng làm trầm trọng thêm cái mà ngày nay chúng ta gọi là sự đổ vỡ tín dụng (credit crunch). [552] Khi mà ai ai cũng tranh nhau bán tài sản và tăng thanh

khoản của mình, giá chứng khoán sụt mạnh, gây tổn thương cho các nhà môi giới và những ai khác đã vay tiền bằng cách sử dụng cổ phiếu làm thế chấp. Khách hàng trong nước bắt đầu lo sợ một cuộc khủng hoảng ngân hàng. Những dãy người xếp hàng dài xuất hiện khi người ta tìm cách đổi tiền giấy lấy tiền xu bằng vàng tại Ngân hàng Anh. [553] Kết quả là London tạm ngưng vai trò làm trung tâm tín dụng quốc tế, khiến cuộc khủng hoảng mở rộng từ châu Âu ra khắp thế giới. Có lẽ đặc điểm nổi bật nhất của cuộc khủng hoảng năm 1914 là việc đóng cửa các thị trường chứng khoán lớn của thế giới trong các khoảng thời gian nhiều nhất đến năm tháng. Thị trường Vienna đóng cửa đầu tiên (27/7). Đến ngày 30/7, tất cả các thị trường chứng khoán ở châu Âu lục địa đều đóng cửa theo. Ngày hôm sau, thị trường London và New York cũng buộc phải đi theo cách đó. Mặc dù một ngày kết toán muộn màng vẫn được tiến hành khá suôn sẻ vào 18/11, Sở Giao dịch Chứng khoán London không mở cửa lại cho đến tận ngày 4/1/1915. Chưa từng có điều gì như thế xảy ra kể từ khi thị trường này được thành lập năm 1773. [554] Thị trường New York được mở lại cho giao dịch giới hạn (chỉ bán trái phiếu lấy tiền) vào ngày 28/11, song phải đến ngày 1/4/1915 mới trở lại hoạt động không giới hạn. [555] Song thị trường chứng khoán không phải là các thị trường duy nhất bị đóng cửa trong cuộc khủng hoảng này. Hầu hết các thị trường hàng hóa Mỹ cũng buộc phải ngừng giao dịch, và hầu hết các thị trường hối đoái của châu Âu cũng vậy. Chẳng hạn, Sở Giao dịch Hoàng gia London đã đóng cửa cho đến ngày 17/9. [556] Có vẻ như, nếu các thị trường không đóng cửa, thì sự sụp đổ về giá cả hẳn sẽ đến mức cực điểm như năm 1929, nếu không nói là tồi tệ hơn. Không một hành động khủng bố được nhà nước bảo trợ nào lại có hậu quả tài chính to lớn hơn là hành động của Gavrilo Princip năm 1914. Việc áp dụng bản vị vàng hầu như khắp thế giới đã từng được xem là một thuận lợi cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, trong cuộc khủng hoảng năm 1914, điều đó lại có xu hướng làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng thanh khoản. Một số ngân hàng trung ương (đặc biệt là Ngân hàng Anh) trên thực tế đã nâng lãi suất chiết khấu trong giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng, một cố gắng vô ích nhằm ngăn người nước ngoài chuyển vốn về nhà làm cạn kiệt dự trữ vàng. Lượng dự trữ vàng liệu có đủ dùng trong các tình thế khẩn cấp hay không đã từng là đề tài tranh luận nảy lửa trước chiến tranh; thực sự thì các cuộc tranh luận đó gần như là bằng chứng duy nhất cho thấy thế giới tài chính đã từng có một mảy may suy nghĩ nào về mối nguy đang nằm phía trước. [557] Tuy vậy bản vị vàng cũng không phải cách ràng buộc chặt chẽ gì hơn so với việc neo tỷ giá theo đồng đô la một cách không chính thức ở châu Á và Trung Đông ngày nay; trong tình thế khẩn cấp của chiến tranh, một loạt nước, bắt đầu từ Nga, đã mạnh tay đình chỉ khả năng chuyển đổi đồng tiền

của họ sang vàng. Ở cả Anh và Mỹ việc chuyển đổi vẫn diễn ra, nhưng hẳn nó đã bị đình chỉ nếu người ta cho là cần thiết. (Ngân hàng Anh được trao quyền đình chỉ Đạo luật Ngân hàng năm 1844, vốn áp đặt một mối tương quan không đổi giữa dự trữ của Ngân hàng Anh và lượng tiền giấy phát hành, song điều đó không tương đương với việc đình chỉ chi trả bằng tiền kim loại, việc có thể dễ dàng được duy trì ở mức dự trữ thấp hơn). Trong mỗi trường hợp, cuộc khủng hoảng đều thúc đẩy việc phát hành tiền giấy khẩn cấp: ở Anh là các tờ giấy bạc 1 bảng và 10 shilling; ở Mỹ là đồng tiền khẩn cấp mà các ngân hàng được phép phát hành theo Đạo luật Aldrich￾Vreeland năm 1908. [558] Khi đó, cũng như hiện nay, giới chức chính quyền đã phản ứng lại cuộc khủng hoảng thanh khoản bằng cách in tiền. Đó không phải là các biện pháp duy nhất được xem là cần thiết. Ở London, ngày "nghỉ lễ ngân hàng" vào thứ Hai 3/8 đã được kéo dài đến tận thứ Năm 6/8. Việc chi trả các hối phiếu đến hạn đã được hoãn lại một tháng theo tuyên bố của hoàng gia. Một lệnh hoãn trả nợ trong một tháng đối với tất cả các khoản chi đến hạn (trừ lương, thuế, lương hưu và những thứ tương tự như vậy) đã được vội vã đưa vào các pháp lệnh. (Các lệnh hoãn này sau đó được lần lượt gia hạn đến ngày 19/10 và 4/11.) Ngày 13/8 Bộ trưởng Tài chính đã trao cho Ngân hàng Anh lời bảo đảm rằng, nếu như ngân hàng này hạ giá tất cả các hối phiếu đã được chấp nhận trước ngày 4/8 (tức là khi chiến tranh được tuyên bố) "mà không truy đòi những người nắm giữ", thì Bộ Tài chính sẽ chịu phí tổn trước bất kỳ thiệt hại nào có thể gây ra cho Ngân hàng Anh. Điều này chẳng khác gì một sự giải cứu của chính phủ đối với các hãng chiết khấu; nó mở cửa cho sự mở rộng mạnh mẽ lượng tiền cơ sở, với việc các hối phiếu đổ vào ngân hàng để được giảm giá. Ngày 5/9, sự hỗ trợ này được mở rộng sang các cơ sở chấp nhận hối phiếu. [559] Cách thức có thể thay đổi ở nước này so với nước khác, song các kế sách nhìn chung là tương tự và ở một phạm vi chưa từng có tiền lệ: sự đóng cửa tạm thời các thị trường, lệnh hoãn trả các khoản nợ, việc phát hành tiền khẩn cấp của chính phủ, việc giải cứu các tổ chức dễ bị nguy hại nhất. Ở tất cả các khía cạnh này, các chính quyền đã sẵn sàng đi xa hơn nhiều so với những gì họ đã từng làm trước đây trong các cuộc khủng hoảng tài chính thuần túy. Như những gì từng xảy ra trong cuộc "chiến tranh thế giới" trước đây (chống lại nước Pháp cách mạng và sau đó là nước Pháp của Napoléon hơn một thế kỷ trước), cuộc chiến tranh năm 1914 được hiểu như một loại tình thế khẩn cấp đặc biệt, cho phép các biện pháp mà trong thời bình là không thể tưởng tượng được, kể cả việc (như một thượng nghị sĩ đảng Bảo thủ đã diễn đạt) "giải phóng cho các ngân hàng... khỏi tất cả các khoản trách nhiệm". [560] Việc đóng cửa thị trường chứng khoán và sự can thiệp của chính quyền để cung cấp thanh khoản gần như đã ngăn chặn được tình trạng đổ xô bán rẻ tài

sản. Thị trường chứng khoán London đã sụt giảm 7% giá trị vào năm xảy ra đình chỉ giao dịch, còn trước cả khi cuộc chiến bắt đầu. Các số liệu rải rác về giao dịch trái phiếu (được tiến hành trên đường phố theo đúng nghĩa đen trong thời gian thị trường chứng khoán đóng cửa) cho ta một cảm nhận về tác hại đối với các nhà đầu tư, bất chấp các nỗ lực của giới chức trách. Đến cuối năm 1914, trái phiếu Nga đã giảm 8,8%, trái phiếu vô thời hạn Anh giảm 9,3%, trái phiếu rente Pháp giảm 13,2% và trái phiếu Áo giảm 23%. [561] Theo lời Patrick Shaw-Stewart từ ngân hàng Barings, đó là "một trong những điều tệ hại nhất mà London đã gặp phải kể từ khi ngành tài chính tồn tại". [562] Tuy nhiên, đó mới chỉ là sự khởi đầu. Trái với ảo tưởng về một cuộc "chiến tranh ngắn hạn" (phổ biến trong giới tài chính hơn là trong giới quân sự), còn đến 4 năm chém giết nữa, và một giai đoạn thiệt hại tài chính thậm chí còn dài hơn thế. Bất kỳ một nhà đầu tư nào quá dại dột hoặc quá yêu nước vẫn tiếp tục nắm giữ các chứng khoán viền vàng (các trái phiếu vô thời hạn của chính phủ hoặc các khoản vay chiến tranh của Anh) chắc hẳn sẽ phải chịu những thiệt hại được điều chỉnh theo lạm phát -46% vào năm 1920. Thậm chí tỷ suất lợi nhuận thực tế của các cổ phiếu cũng là con số âm (-27%). [563] Lạm phát ở Pháp và siêu lạm phát ở Đức thậm chí còn trừng phạt nặng nề hơn bất cứ ai quá liều lĩnh mà nắm giữ một lượng lớn đồng franc Pháp hoặc đồng mác Đức. Đến năm 1923, những người nắm giữ bất kỳ loại chứng khoán nào của Đức đã mất hết mọi thứ, mặc dù đạo luật định giá lại sau đó đã khôi phục một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 109

Đang tải bình luận...
phần lớn hơn, - Đồng Tiền Lên Ngôi | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip