phần vốn ban đầu của họ. Những ai nắm giữ một lượng đáng kể các trái phiếu của Áo, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga cũng bị thiệt hại nặng nề - ngay cả khi các trái phiếu đó được định giá theo vàng - khi mà các đế chế Habsburg, Ottoman và Romanov tan vỡ dưới sức ép của một cuộc chiến tranh tổng lực. Các thiệt hại xảy đến đặc biệt bất ngờ và nặng nề đối với trường hợp trái phiếu Nga mà chế độ Bolshevik tuyên bố không trả nợ vào tháng 2/1918. Vào thời điểm đó, các trái phiếu 5% của Nga năm 1906 được giao dịch ở mức dưới 45% mệnh giá của chúng. Hy vọng về một sự dàn xếp nào đó với các nhà cho vay nước ngoài vẫn lởn vởn suốt trong thập niên 1920, thời kỳ các trái phiếu được giao dịch ở mức khoảng 20% giá trị danh nghĩa. Đến thập niên 1930 thì chúng trở thành vô giá trị. [564] Bất chấp các nỗ lực hết sức mình của các chủ ngân hàng, những người vẫn cho ra mắt không biết mệt mỏi các khoản vay không có triển vọng nào, chẳng hạn như chi trả bồi thường chiến phí của Đức, rõ ràng là không còn có thể khôi phục lại trật tự cũ giữa hai cuộc chiến tranh về tính lưu động của vốn tự do. Các cuộc khủng hoảng tiền tệ, vỡ nợ, tranh cãi về chiến phí và nợ chiến tranh, và sau đó là sự bắt đầu cuộc Đại Suy thoái đã buộc ngày càng nhiều quốc gia phải áp đặt kiểm soát ngoại tệ và vốn cũng như đặt các mức thuế quan bảo hộ cùng các hạn chế thương mại khác, trong một nỗ lực vô ích
nhằm bảo toàn tài sản quốc gia, hy sinh hối đoái quốc tế. Chẳng hạn, ngày 19/10/1921, chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố phá sản, và bắt đầu vỡ nợ đối với hầu như toàn bộ các khoản nợ nước ngoài. Đây là câu chuyện được lặp lại trên khắp thế giới, từ Thượng Hải đến Santiago, từ Moskva đến Mexico City. Đến cuối thập niên 1930, hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước giữ được tự do về chính trị, đã áp đặt các hạn chế lên thương mại, di cư và đầu tư như một chuyện tất nhiên. Một số quốc gia đã đạt tới sự tự cung tự cấp hầu như hoàn toàn về kinh tế (autarky), mẫu hình lý tưởng của một xã hội giải toàn cầu hóa. Một cách có ý thức hay vô ý thức, tất cả các chính phủ đều áp dụng trong thời bình các hạn chế về kinh tế đã được áp đặt lần đầu tiên trong khoảng thời gian từ năm 1914 đến 1918. Những căn nguyên của Thế chiến thứ nhất đã trở nên rõ nét - chẳng bao lâu sau khi nó nổ ra. Chỉ đến khi đó thì lãnh tụ Bolshevik là Lenin mới nhận thấy rằng chiến tranh là hệ quả không thể tránh khỏi của cạnh tranh đế quốc. Chỉ đến khi đó những người theo chủ nghĩa tự do Mỹ mới hiểu ra rằng ngoại giao kín và tình trạng rối ren của các đồng minh châu Âu là những nguyên nhân chủ yếu gây ra xung đột. Người Pháp và người Anh hiển nhiên đổ tội cho người Đức; người Đức lại buộc tội người Pháp và người Anh. Đến nay, đã hơn chín mươi năm, các sử gia vẫn đang soi xét và sửa đổi các lập luận đó. Một số người đã truy lại nguồn gốc của cuộc chiến tranh là từ cuộc chạy đua hải quân vào giữa thập niên 1890; một số khác thì đổ cho các sự kiện ở Balkan sau năm 1907. Vậy thì tại sao, khi các nguyên nhân của cuộc chiến tranh đó ngày nay dường như nhiều và rõ ràng đến vậy, những người đương thời lúc đó lại không hề hay biết gì mãi cho đến tận vài ngày trước khi trận quyết chiến cuối cùng nổ ra? Một câu trả lời khả dĩ là tầm nhìn của họ bị mờ đi trước sự thừa thãi thanh khoản và sự trôi qua của thời gian. Kết hợp giữa toàn cầu hóa và cải cách tài chính đã làm thế giới dường như trở nên an toàn một cách chắc chắn đối với các nhà đầu tư. Hơn thế nữa, khi đó đã ba mươi tư năm trôi qua kể từ cuộc chiến tranh lớn cuối cùng ở châu Âu, giữa Đức và Pháp, và cuộc chiến tranh đó lại ngắn một cách nhân từ. Tất nhiên, xét về mặt địa chính trị, thế giới chưa hề là một nơi an toàn. Bất cứ bạn đọc nào của tờ lá cải Daily Mail cũng có thể thấy rằng cuộc chạy đua vũ trang ở châu Âu và sự cạnh tranh đế quốc một ngày nào đó có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh lớn; thực sự, có cả một tiểu loại văn học hư cấu được ưa chuộng miêu tả những cuộc chiến tranh tưởng tượng giữa Anh và Đức. Tuy vậy những ngọn đèn trong các thị trường tài chính vẫn nhấp nháy màu xanh, chứ không phải màu đỏ, cho đến tận trước ngày xảy ra cuộc hủy diệt. Ở đây cũng có một bài học cho thời đại của chúng ta. Kỷ nguyên thứ nhất của toàn cầu hóa đã mất ít nhất là một thế hệ mới đạt được. Song nó đã bị vỡ tan chỉ trong vài ngày. Và phải mất hơn hai thế hệ để sửa chữa lại những thiệt hại do súng đạn gây ra vào tháng 8/1914.
Các sát thủ kinh tế Từ thập niên 1930 đến cuối thập niên 1960, tài chính quốc tế và ý tưởng toàn cầu hóa đã chìm vào giấc ngủ - một số người thậm chí còn coi là nó đã cáo chung. [565] Nói theo lời của nhà kinh tế người Mỹ Arthur Bloomfield trong một bài viết năm 1946: Học thuyết hiện được đánh giá cao trong giới khoa học cũng như giới ngân hàng, cho rằng một biện pháp kiểm soát trực tiếp mạnh mẽ đối với luồng di chuyển vốn tư nhân, đặc biệt là các hình thức vẫn được gọi là tiền nóng, sẽ là điều cần thiết đối với hầu hết các quốc gia không chỉ trong những năm trước mắt, mà cả trong dài hạn... Sự trở mặt mang tính lý luận này thể hiện nỗi thất vọng lan rộng trước hành vi mang tính hủy hoại của các luồng chuyển động vốn đó trong những năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. [566] Tại vùng Bretton Woods, trên dãy White Mountains thuộc bang New Hampshire, các nước Đồng minh mà chẳng bao lâu nữa sẽ chiến thắng đã gặp nhau vào tháng 7/1944 để đề ra một kiến trúc tài chính mới cho thế giới hậu chiến. Trong trật tự mới này, thương mại sẽ được tự do hóa ngày càng mạnh, song những hạn chế đối với luồng di chuyển vốn thì sẽ phải giữ nguyên. Các tỷ giá hối đoái sẽ được giữ cố định, cũng giống như dưới thời bản vị vàng, nhưng bây giờ cái neo - một đồng tiền dự trữ quốc tế - sẽ phải là đồng đô la chứ không phải vàng (mặc dù bản thân đồng đô la trên lý thuyết sẽ vẫn có thể chuyển đổi thành vàng, và một lượng vàng lớn sẽ được giữ yên như một vật thiêng liêng tại Fort Knox). Nói theo lời của Keynes, một trong những kiến trúc sư chủ chốt của hệ thống Bretton Woods, "kiểm soát luồng di chuyển vốn" sẽ phải là "một đặc điểm thường trực của hệ thống tài chính sau chiến tranh". [567] Thậm chí những người đi du lịch cũng bị cấm mang quá một số tiền nhất định ra nước ngoài nếu các chính phủ cảm thấy không thể cho đồng nội tệ của mình chuyển đổi thành vàng được. Khi các lượng vốn di chuyển qua biên giới quốc gia, chúng sẽ phải di chuyển từ chính phủ này sang chính phủ khác, giống như Viện trợ Marshall [568] từ năm 1948 đến 1952 đã giúp hồi sinh Tây Âu bị tàn phá nặng nề. [569] Hai "chị em" đứng bảo vệ cho trật tự mới được thành lập ở Washington D.C., thủ đô của "thế giới tự do": Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế, sau này (kết hợp với Hiệp hội Phát triển Quốc tế) được biết đến với cái tên Ngân hàng Thế giới. Theo lời của Chủ tịch Ngân hàng Thế giới hiện nay là Robert Zoellick, "IMF được xem là nơi điều tiết tỷ giá trao đổi ngoại tệ. Còn Ngân hàng Thế giới ban đầu được xem là nơi giúp xây dựng lại các quốc gia đã bị chiến tranh tàn phá. Thương mại tự do sẽ được hồi sinh. Song
luồng di chuyển vốn tự do bị khai trừ." Đây là cách trong một phần tư thế kỷ sau đó, các chính phủ đã giải quyết cái gọi là "bộ ba vấn đề đối nghịch", theo đó một quốc gia chỉ có thể lựa chọn hai trong số ba phương án chính sách sau: 1. tự do hoàn toàn cho các luồng di chuyển vốn qua biên giới; 2. một tỷ giá trao đổi ngoại tệ cố định; 3. một chính sách tiền tệ độc lập hướng vào các mục tiêu trong nước. [570] Dưới hệ thống Bretton Woods, các quốc gia phương Tây đã lựa chọn phương án 2 và 3. Trên thực tế, xu hướng là kiểm soát vốn sẽ ngày càng chặt chẽ hơn chứ không phải là dễ dãi hơn. Một ví dụ phù hợp là Đạo luật Cân bằng Quyền lợi được Mỹ thông qua năm 1963, một đạo luật được thiết kế rõ ràng để không khuyến khích người Mỹ đầu tư vào các chứng khoán nước ngoài. Tuy nhiên, vẫn luôn tồn tại sự không bền vững ở hệ thống Bretton Woods. Đối với Thế giới thứ ba, nhiều nỗ lực khác nhau nhằm bắt chước Kế hoạch Marshall thông qua các chương trình viện trợ liên chính phủ đã cho những kết quả thực sự đáng thất vọng. Dần dần, viện trợ - đặc biệt là của Mỹ - đã đi kèm các điều kiện về chính trị và quân sự mà không phải lúc nào cũng bảo vệ quyền lợi của các quốc gia tiếp nhận viện trợ. Thậm chí ngay cả khi không xảy ra điều đó, người ta cũng nghi ngại rằng liệu việc bơm vốn theo cách thức của các nhà kinh tế Mỹ như Walt Rostow [571] có phải là lời giải cho các vấn đề của hầu hết các nền kinh tế châu Phi, châu Á và Mỹ Latin hay không. Hầu hết viện trợ được giải ngân cho các quốc gia nghèo khổ, song