phần lớn là bởi tiếp xúc thường xuyên với khói thủy ngân do quy trình tinh chế ngoài trời, khi quặng bạc đào lên được nghiền nát vụn thành một hỗn hợp cùng với thủy ngân, sau đó được rửa và đun nóng để thủy ngân bốc hơi. [32] Không khí dưới hầm mỏ thời đó (và cả bây giờ) rất độc hại, thợ mỏ phải xuống các giếng sâu 700 bộ (213 mét) trên những bậc thang sơ sài, rồi leo lên lại sau nhiều giờ đào xới với các bao tải chứa quặng đeo trên lưng. Các vụ đá rơi đã giết chết và làm bị thương hàng trăm người. Theo lời của Domingo de Santo Tomás, thành phố Potosí với con sốt khai thác bạc mới xuất hiện là "miệng của địa ngục, nơi có vô số người bước vào mỗi năm và bị lòng tham lam của người Tây Ban Nha đem hiến sinh cho 'vị thần' của họ". Rodrigo de Loaisa gọi các mỏ này là các "hố địa ngục" và nhận xét "nếu hai mươi người da đỏ khỏe mạnh bước vào đấy hôm thứ Hai, một nửa sẽ đi ra què cụt vào ngày thứ Bảy". [33] Thầy tu Fray Antonio de la Calancha dòng Augustine viết năm 1638: "Mỗi đồng peso được đúc ở Potosí lấy đi mạng sống của mười người da đỏ vùi xác sâu dưới những hầm mỏ." Khi lực lượng lao động bản xứ kiệt quệ, hàng nghìn nô lệ châu Phi được mang đến để thay thế vị trí của họ như những "con la người". Thậm chí ngày nay vẫn còn có cái gì đó giống như địa ngục trong những giếng lò và đường hầm ngột ngạt ở Cerro Rico.
Đỉnh Cerro Rico Ở Potosí: núi tiền của Đế quốc Tây Ban Nha Tuy là nơi chết chóc cho những người bị bắt buộc làm việc tại đây nhưng Potosí lại là mỏ của cải cho Tây Ban Nha. Từ năm 1556 tới năm 1783, "đồi giàu có" này đã cung cấp 45.000 tấn bạc nguyên chất. Số bạc này được chuyển thành các thanh bạc và tiền xu tại Casa de Moneda (xưởng đúc tiền) rồi được vận chuyển tới Seville. Bất chấp không khí loãng và khí hậu khắc nghiệt, Potosí nhanh chóng trở thành một trong những thành phố chính của Đế quốc Tây Ban Nha, với dân số ở thời đỉnh cao vào khoảng từ 160.000 tới
200.000 người, đông hơn hầu hết các thành phố châu Âu vào thời gian đó. Valer un potosí, "đáng giá một potosí" hiện nay vẫn là thành ngữ trong tiếng Tây Ban Nha ý nói đáng giá một kho của. Có vẻ như cuộc chinh phục của Pizarro đã khiến cho vương triều Tây Ban Nha giàu có vượt cả những giấc mộng tham lam. Người ta thường cho rằng tiền là một phương tiện trao đổi, có ưu điểm khắc phục tính thiếu hiệu quả trong giao dịch hàng đổi hàng; là đơn vị kế toán, tạo điều kiện cho việc định giá và tính toán; là vật trữ giá trị, cho phép các giao dịch kinh tế được diễn ra trong những khoảng thời gian dài cũng như vượt qua những khoảng cách địa lý. Để thực hiện tất cả các chức năng này một cách tốt nhất, tiền cần phải có mặt ở mọi nơi, dễ dàng có được, bền chắc, có thể thay thế, có thể mang đi và đáng tin cậy. Vì thỏa mãn được gần như tất cả các tiêu chí này, những kim loại như vàng, bạc và đồng được xem là những nguyên liệu tiền tệ lý tưởng. Những đồng xu đầu tiên được biết đến xuất hiện từ khoảng năm 600 TCN và được các nhà khảo cổ học tìm thấy tại đền thờ Artemis ở Ephesus (gần Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay). Những đồng tiền xứ Lydia hình trứng này được làm từ hợp kim của vàng và bạc (electrum) và được khắc hình đầu sư tử. Chúng là tiền thân của đồng tetradrachm (đồng 4 drachm) của thành Athens, loại đồng xu bạc được tiêu chuẩn hóa mang hình đầu nữ thần Athena ở một mặt và hình con cú (gắn với nữ thần Athena bởi trí khôn của nó) ở mặt bên kia. Đến thời La Mã, người ta đúc tiền xu bằng ba loại kim loại: aureus (vàng), denarius (bạc) và sestertius (đồng). Các đồng xu này được xếp thứ tự như trên căn cứ vào mức độ hiếm của các kim loại, nhưng tất cả đều mang hình đầu của hoàng đế đang trị vì ở mặt này, và hai nhân vật truyền thuyết Romulus và Remus [34] ở mặt bên kia. Đồng xu không chỉ là sản phẩm của riêng vùng Địa Trung Hải cổ đại nhưng rõ ràng chúng xuất hiện đầu tiên ở nơi này. Mãi cho tới năm 221 TCN, tiền xu bằng đồng được tiêu chuẩn hóa mới xuất hiện ở Trung Quốc dưới triều đại của vị Hoàng đế đầu tiên: Tần Thủy Hoàng. Trong mỗi trường hợp, tiền xu làm từ kim loại quý đều được gắn với những vị vua hùng mạnh, những người giữ độc quyền đúc tiền với mục đích một