phần là khai thác nó như một nguồn thu. Hệ thống tiền xu của La Mã còn thọ hơn cả bản thân đế chế La Mã. Giá cả vẫn được tính bằng các đồng denarius bạc dưới thời Charlemagne, vua của người Frank từ năm 768 tới 814. Nhưng vào thời điểm Charlemagne được phong danh hiệu Hoàng đế (Imperator Augustus) vào năm 800 thì xảy ra tình trạng thiếu hụt kinh niên kim loại bạc ở Tây Âu. Nhu cầu tiền lớn hơn ở các trung tâm thương mại phát triển cao hơn trong Đế quốc Hồi giáo đang thống trị Nam Địa Trung Hải và Cận Đông khiến cho thứ kim loại quý hiếm này có xu hướng chảy ra khỏi khu vực châu Âu chậm phát triển. Tiền denarius khan hiếm dưới thời Charlemagne tới mức chỉ cần hai mươi tư
đồng bạc này là đủ để mua được một con bò dưới triều đại Carolingian. Ở một số vùng của châu Âu, người ta dùng hồ tiêu và da sóc để thay thế tiền tệ; ở những vùng khác, pecunia [35] chuyển nghĩa là ruộng đất chứ không còn là đồng tiền. Để khắc phục khó khăn này, người châu Âu có một trong hai cách. Họ có thể xuất khẩu lao động và hàng hóa, trao đổi nô lệ và gỗ để lấy bạc ở Baghdad hay lấy vàng châu Phi ở Cordoba và Cairo. Hoặc họ có thể cướp đoạt các kim loại quý giá này bằng cách tiến hành chiến tranh với thế giới Hồi giáo. Trong các cuộc Thập tự chinh, cũng như những cuộc chinh phục sau đó, mục đích khắc phục khó khăn tiền tệ của châu Âu cũng quan trọng không kém gì việc biến những kẻ dị giáo thành người Kitô giáo. [36] Thập tự chinh là công việc tốn kém mà lợi ích ròng lại khiêm tốn. Để giải quyết những khó khăn tiền tệ của mình, các chính quyền thời trung đại và cận đại đã thất bại trong việc tìm ra giải pháp cho vấn đề mà các nhà kinh tế gọi là vấn đề lớn về tiền lẻ: đó là khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ ổn định giữa các loại tiền được làm từ kim loại khác nhau. Điều này có nghĩa là những đồng tiền có mệnh giá nhỏ dễ bị rơi vào tình trạng thiếu hụt kinh niên, nhưng cũng lại dễ bị mất giá và làm giả. [37] Tại Potosí và những nơi khác ở Tân Thế giới, nơi họ tìm thấy lượng bạc dồi dào (đáng chú ý là Zacatecas ở Mexico), những kẻ chinh phục người Tây Ban Nha dường như đã phá vỡ được sự hạn chế trong nhiều thế kỷ. Người được hưởng lợi đầu tiên tất nhiên là vương triều Castile, kẻ bảo trợ cho những cuộc chinh phục này. Các đoàn tàu vận chuyển, có lúc lên tới 100 tàu, đã đưa 170 tấn bạc mỗi năm vượt qua Đại Tây Dương để cập bến ở Seville. Một phần năm tất cả những gì làm ra thuộc về hoàng gia, và số tiền này chiếm tới 44% tổng chi phí của hoàng gia vào thời điểm kỷ lục ở giai đoạn cuối thế kỷ 16. [38] Nhưng cách người Tây Ban Nha tiêu tiền cũng đảm bảo rằng của cải mới tìm thấy của Tây Ban Nha sẽ khiến cho toàn bộ lục địa châu Âu nhận được sự kích thích tiền tệ. "Đồng tám" của Tây Ban Nha được làm ra dựa vào đồng thaler của Đức (là gốc của chữ dollar - "đô la" sau này) và trở thành đồng tiền toàn cầu đầu tiên trên thế giới. Nó không chỉ được chi cho những cuộc chiến tranh kéo dài của Tây Ban Nha ở châu Âu mà còn cho quan hệ thương mại đang phát triển nhanh chóng giữa châu Âu với châu Á. Dẫu thế, tất cả bạc ở Tân Thế giới không thể khiến nước Cộng hòa Hà Lan bất trị phải quỳ gối, không thể khiến nước Anh phải quy phục vương triều Tây Ban Nha, cũng không thể cứu Tây Ban Nha khỏi sự suy thoái không thể tránh khỏi của nền kinh tế và của cả đế quốc. Cũng như vua Midas, các vị vua Tây Ban Nha trong thế kỷ 16 là Charles V và Philip II nhận ra rằng việc dư thừa thứ kim loại quý báu không chỉ là ân sủng mà còn là tai họa. Lý do là gì? Họ đã đào quá nhiều bạc để chi trả cho những cuộc chiến tranh chinh phục của mình, khiến cho thứ kim loại này sụt giảm giá trị
nghiêm trọng dựa trên cơ sở tương quan sức mua với các hàng hóa khác. Trong cuộc "cách mạng giá cả" ảnh hưởng đến toàn châu Âu từ những năm 1540 tới 1640, giá thực phẩm - từng không có xu hướng tăng trong ba trăm năm trước đó - đã tăng mạnh. Tại Anh (nước mà chúng tôi có số liệu về giá đầy đủ nhất), chi phí sống đã tăng bảy lần trong khoảng thời gian này. So với tiêu chuẩn hiện nay thì đây không phải là mức lạm phát cao (trung bình khoảng 2% mỗi năm), nhưng đây là mức tăng khá cao giá bánh mì theo tiêu chuẩn thời Trung Cổ. Trong lòng Tây Ban Nha, việc dư thừa bạc cũng là một "tai ương tài nguyên" giống như việc dư thừa dầu hỏa ở bán đảo Ả Rập, Nigeria, Ba Tư, Nga và Venezuela trong thời hiện đại. Nó làm suy giảm động cơ của hoạt động kinh tế sản xuất, trong khi củng cố sức mạnh của những nhà độc tài thu lợi nhờ vào phí tổn của các hội đồng đại diện cho người dân (trong trường hợp Tây Ban Nha là Cortes tức nghị viện). [39] Người Tây Ban Nha đã không hiểu rằng giá trị của thứ kim loại quý giá không phải là tuyệt đối. Tiền chỉ có giá trị bằng cái mà người khác sẵn lòng trao cho bạn để đổi lấy nó. Gia tăng lượng cung tiền không làm xã hội giàu hơn, cho dù việc đó có thể làm giàu cho một chính phủ nắm độc quyền sản xuất tiền. Với điều kiện những thứ khác không đổi, mở rộng lượng cung tiền sẽ chỉ khiến giá cả gia tăng. Quả thực không có lý do nào ngoài sự tình cờ của lịch sử khiến cho trong thời gian rất lâu trong tâm trí người phương Tây, tiền tệ đồng nghĩa với kim loại. Ở Lưỡng Hà thời cổ đại, từ khoảng 5.000 năm trước, người ta đã sử dụng các vật tượng trưng bằng đất sét để ghi nhận các giao dịch liên quan tới nông sản như lúa mạch hay len, hoặc dùng các kim loại như bạc. Nhẫn bạc, bạc khối hay bạc miếng hẳn đã từng đóng vai trò như tiền mặt (và cả thóc cũng vậy), nhưng các tấm đất sét cũng quan trọng như thế, và có thể còn quan trọng hơn. Ngày nay vẫn có rất nhiều tấm còn nguyên vẹn và chúng nhắc nhở rằng vào lúc con người bắt đầu ghi chép lại các hoạt động của mình, họ làm như vậy không phải để viết lịch sử, thi ca hay triết học mà để làm ăn. [40] Chúng ta không thể không kinh ngạc khi cầm lấy những công cụ tài chính cổ xưa ấy. Mặc dù chỉ được làm bằng đất thô sơ, chúng vẫn tồn tại lâu hơn nhiều so với những đồng bạc được đúc ở Potosí. Một tấm đất sét được bảo quản hết sức tốt từ thành phố Sippar (ngày nay là Tell Abu Habbah ở Iraq) có niên đại từ thời trị vì của vua Ammi-ditana (1683-1647 TCN), trên đó viết rằng người cầm tấm đất sét sẽ nhận được một lượng lúa mạch nhất định vào mùa thu hoạch. Một tấm khác, được khắc dưới thời trị vì của nhà vua kế vị, vua Ammi-saduqa, ra lệnh rằng người mang nó sẽ được nhận một lượng bạc nhất định vào cuối cuộc hành trình. [41]
Một tấm đất sét từ thiên niên kỷ 2 TCN ở Lưỡng Hà, mặt trước (ảnh trên) và mặt sau (ảnh trang bên). Chữ khắc trên đó viết rằng Amil-mirra sẽ trả 330 đơn vị lúa mạch cho người mang tấm đất sét này vào mùa thu hoạch. Nếu các khái niệm cơ bản đó đều có vẻ quen thuộc với chúng ta, thì phần nào là bởi tờ giấy bạc ngân hàng (banknote) hiện đại cũng có chức năng tương tự. Hãy nhìn vào những dòng chữ mầu nhiệm trên bất cứ tờ tiền giấy nào của Ngân hàng Anh: "Tôi hứa sẽ trả cho người mang giấy này theo yêu cầu số tiền là..." ("I promise to pay the bearer on demand the sum of...") Giấy bạc ngân hàng (bắt nguồn từ Trung Quốc vào thế kỷ 7) là những mẩu giấy gần như không có giá trị tự thân. Chúng chỉ là các lời hứa chi trả (và do
đó tên gọi ban đầu của nó ở phương Tây là "hứa phiếu" - promissory note [42] ), tương tự các tấm đất sét của Babylon cổ đại vào bốn thiên niên kỷ trước đó. Ở mặt sau đồng 10 đô la có dòng chữ "Chúng ta tin vào Thượng đế", nhưng người mà bạn thực sự tin khi nhận một tờ tiền như vậy là người kế tục công việc của người đàn ông ở mặt trước tờ bạc (Alexander Hamilton, Bộ trưởng Ngân khố đầu tiên của Hoa Kỳ). Vào thời điểm viết cuốn sách này thì nhân vật đó là HenryM. Paulson Con, người tiền nhiệm của Lloyd Blankfein trong vị trí giám đốc điều hành ngân hàng Goldman Sachs. Khi một người Mỹ trao đổi hàng hóa hay lao động của mình để lấy một "nắm" đô la, anh ta thực ra đang tin tưởng rằng "Hank" Paulson (và cả Chủ tịch Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ Ben Bernake nữa) sẽ không lặp lại sai lầm của Tây Ban Nha trong việc sản xuất quá nhiều tiền giấy, khiến cuối cùng chúng không có giá trị gì nhiều hơn giá trị của mảnh giấy mà chúng được in trên đó.
Ngày nay, bất chấp thực tế là sức mua của đồng đô la đã giảm sút đáng kể trong năm mươi năm qua, chúng ta vẫn khá hài lòng với tiền giấy, không kể tới tiền xu là thứ trên thực tế được làm từ đồ đồng nát. Chúng không phải là những vật trữ giá trị. Ngạc nhiên hơn nữa, chúng ta hài lòng với những thứ tiền mà chúng ta thậm chí không nhìn thấy. Ngày nay, tiền điện tử có thể rời khỏi người thuê mướn chúng ta, đến tài khoản ngân hàng của chúng ta, đến các cửa hàng bán lẻ yêu thích của chúng ta mà có khi chẳng cần phải hiện hữu bằng vật chất. Chính loại tiền "ảo" này hiện đang thống trị cái mà các
nhà kinh tế gọi là cung tiền. Tiền mặt mà những người Mỹ bình thường giữ chỉ chiếm 11% tổng lượng cung tiền được gọi là M2. Tính chất phi vật chất của hầu hết tiền tệ ngày nay có lẽ là bằng chứng tốt nhất cho bản chất thực sự của nó. Những người đi chinh phục đã không hiểu được rằng tiền là vấn đề của niềm tin, thậm chí là đức tin: tin vào người chi trả; tin vào người phát hành tiền hay vào tổ chức sẽ chấp nhận tờ séc hoặc các khoản chuyển khoản của người chi trả. Tiền không nhất thiết phải là kim loại. Nó là sự tín nhiệm được ghi dấu. Và việc ghi dấu vào đâu không quá quan trọng: có thể vào đất sét, vào giấy, vào một màn hình tinh thể lỏng. Bất cứ cái gì cũng có thể trở thành tiền tệ, từ vỏ những con ốc sứ trên quần đảo Maldives tới những chiếc đĩa bằng đá khổng lồ trên quần đảo Yap ở Thái Bình Dương [43] . Và ngày nay, trong thời đại điện tử thì dường như một thứ vô hình cũng có thể trở thành tiền tệ. Mối quan hệ trung tâm kết tinh trong tiền tệ là quan hệ giữa người cho vay và người đi vay. Hãy nhìn lại những tấm đất sét ở Lưỡng Hà. Các giao dịch được ghi lại trên đó là việc trả nợ những hàng hóa đã cho vay; những tấm này hiển nhiên được người cho vay ghi lên và giữ lại (thường chúng được đặt trong những bình đất sét được niêm phong) để lưu lại số nợ và ngày trả nợ. Hệ thống cho vay của Babylon cổ đại rõ ràng đã khá phức tạp. Các khoản nợ có thể được chuyển nhượng, vì thế người ta viết "trả cho người mang" chứ không phải cho một chủ nợ có tên tuổi rõ ràng. Các phiếu chứng nhận bằng đất sét hay hối phiếu (draft) được phát cho những người gửi ngũ cốc hay các hàng hóa khác tại cung điện hay đền đài. Người cho vay phải trả lãi (khái niệm này có lê bắt nguồn từ sự gia tăng tự nhiên đàn gia súc) với mức lãi suất thường lên tới 20%. Các bài tập toán từ thời trị vì của Hammurabi (1792-1750 TCN) cho thấy người ta có thể đã áp dụng lãi suất kép với các khoản cho vay dài hạn. Nhưng nền tảng của tất cả những điều này nằm ở mức độ tin cậy trong lời hứa chi trả của người đi vay. (Không phải ngẫu nhiên mà trong tiếng Anh, gốc của từ "tín dụng" (credit) lại là credo, có nghĩa là "tôi tin" trong tiếng Latin.) Những người vay nợ có thể được xóa nợ theo định kỳ - trên thực tế, Luật Hammurabi quy định xóa nợ ba năm một lần - nhưng điều này có lẽ không ngăn cản việc làm ăn của những người cho vay cá nhân hay công cộng với kỳ vọng hợp lý rằng họ sẽ nhận lại được tiền của mình. [44] Trái lại, xu hướng lâu dài ở Lưỡng Hà thời cổ đại là mở rộng tài chính khu vực tư nhân. Tới thế kỷ 6 TCN, các gia đình như nhà Egibi ở Babylon đã trở thành các chủ đất và chủ nợ đầy thế lực, với các lợi ích thương mại trải dài tới Uruk cách đấy hơn 100 dặm về hướng nam và tràn vào Ba Tư về hướng đông. Hàng nghìn tấm đất sét còn tồn tại từ thời đó cho chúng ta biết số người đã trở thành con nợ của nhà Egibi vào lúc này hay lúc khác. Việc gia đình này thịnh vượng trong năm đời cho thấy nhìn chung
họ đều thu lại được các khoản cho vay của mình. Sẽ không hoàn toàn chính xác khi nói rằng tín dụng được phát minh ra ở Lưỡng Hà cổ đại. Hầu hết các khoản cho vay ở Babylon chỉ là các khoản tiền ứng trước đơn giản từ các nhà kho thuộc hoàng gia hay tôn giáo. Khi ấy vẫn chưa có tín dụng theo nghĩa hiện đại như sẽ được thảo luận ở cuối chương này. Mặc dù vậy, đây là bước khởi đầu quan trọng. Nếu thiếu đi nền tảng đi vay và cho vay thì lịch sử kinh tế thế giới sẽ khó lòng khởi sắc. Và nếu không có mạng lưới ngày càng phát triển của mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ thì kinh tế toàn cầu ngày nay sẽ bị ngừng lại. Trái ngược với bài hát nổi tiếng trong vở nhạc kịch Cabaret, tiền không làm trái đất quay tròn theo nghĩa đen. Nhưng nó khiến cho một số lượng khổng lồ những con người, hàng hóa và dịch vụ di chuyển vòng quanh thế giới. Điều đáng ngạc nhiên là ý tưởng về tín dụng bắt rễ rất chậm chạp và lừng khừng ở chính vùng đất mà nó đã phát triển hết sức ngoạn mục. Những kẻ cho vay nặng lãi Bắc Italia vào đầu thế kỷ 13 là một vùng đất được chia thành nhiều thị quốc xung khắc lẫn nhau. Trong số những gì còn sót lại của Đế quốc La Mã đã mất có hệ thống chữ số (I, II, III, IV...) rất không phù hợp với các tính toán phức tạp về mặt toán học, chưa nói tới nhu cầu thương mại. Không ở đâu mà điều này lại trở thành một vấn đề như ở Pisa, nơi các thương nhân phải vất vả với bảy loại tiền xu khác nhau trong giao dịch. Qua so sánh, đời sống kinh tế tại thế giới phương Đông - trong vương triều Hồi giáo Abassid hay tại nước Trung Hoa thời nhà Tống - tiên tiến hơn nhiều so với phương Tây, tương tự như dưới thời Charlemagne trước đó. Để khám phá ra tài chính hiện đại, châu Âu cần nhập khẩu nó. Vai trò thiết yếu trong việc này thuộc về một nhà toán học trẻ tuổi tên là Leonardo thành Pisa, hay Fibonacci. Là con trai của một viên chức thuế quan thành Pisa làm việc tại vùng đất nay là Bejaia thuộc Algeria, chàng Fibonacci trẻ tuổi từng say sưa với thứ mà anh ta gọi là "phương pháp Ấn Độ" trong toán học - một sự kết hợp giữa những hiểu biết sâu xa của người Ấn Độ và người Ả Rập. Fibonacci du nhập các ý tưởng này và tạo ra cuộc cách mạng trong cách thức người châu Âu đếm số. Ngày nay, ông được nhớ đến nhiều nhất nhờ dãy số Fibonacci (0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21...), trong đó mỗi số tiếp theo là tổng của hai số trước đó, và tỷ lệ giữa một số với số liền trước nó sẽ tiến dần tới "tỷ lệ vàng" (gần bằng 1,618). Đây là một xu hướng phản ánh nhiều đặc tính lặp lại thường thấy trong thế giới tự nhiên (ví dụ như trong hình học phân dạng [fractal] ở dương xỉ và vỏ ốc). [45] Nhưng dãy Fibonacci chỉ là một trong số nhiều ý
tưởng toán học phương Đông được giới thiệu với châu Âu trong cuốn sách mở đường Liber Abaci "Sách về tính toán" được xuất bản năm 1202 của ông. Trong tác phẩm này, độc giả có thể tìm thấy các lý giải về phân số, cũng như khái niệm giá trị hiện tại (giá trị chiết khấu hiện tại của một dòng doanh thu trong tương lai). [46] Quan trọng hơn cả là việc Fibonacci giới thiệu hệ thống chữ số Hindu-Ả Rập. Ông không chỉ trao cho châu Âu hệ thập phân, có tác dụng giúp cho mọi loại tính toán trở nên dễ dàng hơn nhiều so với hệ thống chữ số La Mã; ông còn chỉ ra cách thức áp dụng hệ này trong hạch toán thương mại, quy đổi tiền tệ, và quan trọng hơn cả, trong việc tính lãi. Nhiều ví dụ trong Liber Abaci trở nên sinh động hơn nhờ được diễn giải qua các ví dụ về hàng hóa như da thuộc, hạt tiêu, pho mát, dầu và hương liệu. Đây chính là ứng dụng của toán học trong việc kiếm tiền, và đặc biệt là trong việc cho vay tiền. Một ví dụ điển hình trong cuốn sách này như sau: Một người đặt 100 bảng tại một nhà [của thương nhân] để nhận lấy tiền lãi 4 denarius trên mỗi bảng mỗi tháng và anh ta nhận lại sau mỗi năm khoản tiền là 30 bảng. Bạn phải tính toán số vốn và lợi nhuận bị giảm hằng năm dựa trên số tiền 30 bảng nói trên. Bạn cần tính xem anh ta sẽ gửi được số tiền này trong bao nhiêu năm, tháng, ngày và giờ... Các trung tâm thương mại của Italia như thành phố Pisa, quê hương của Fibonacci, và thành Florence đã chứng tỏ chúng là mảnh đất màu mỡ cho những hạt giống tài chính. Nhưng trên hết là Venice, nơi chịu nhiều ảnh hưởng của phương Đông hơn cả, nơi đã trở thành phòng thí nghiệm cho vay lớn nhất châu Âu. Không phải tình cờ mà người cho vay nổi tiếng nhất trong văn học phương Tây cư trú ở Venice. Câu chuyện của ông ta đã minh họa tuyệt vời cho những trở ngại trong nhiều thế kỷ từng hạn chế việc biến các lý thuyết của Fibonacci thành hoạt động tài chính hiệu quả. Những trở ngại đó không phải là các yếu tố kinh tế hay chính trị. Chúng là yếu tố văn hóa. Vở kịch Gã lái buôn thành Venice của Shakespeare dựa trên một câu chuyện trong một cuốn sách từ thế kỷ 14 của Italia có tên là Il Pecorone ("Gã đần"), tập hợp các câu chuyện và giai thoại được Giovanni Fiorentino viết năm 1378. Một truyện trong tập này kể về một người phụ nữ giàu có cưới một chàng trai trẻ đứng đắn. Chồng cô ta cần tiền, và bạn của anh ta, vì muốn giúp đỡ, đến gặp một người cho vay tiền để hỏi vay thay cho anh chồng. Người cho vay, cũng là dân Do Thái như Shylock, đòi một pound thịt làm đảm bảo và số thịt này sẽ phải được trao nếu tiền không được trả. Như Shakespeare viết lại về sau, người Do Thái cho vay nặng lãi Shylock đồng ý cho anh chàng Bassanio thất tình vay ba ngàn ducat, với điều kiện là được bạn của Bassanio, thương nhân Antonio, bảo đảm. Như Shylock nói, Antonio là một người "tốt" - không có nghĩa là anh ta có phẩm chất đặc biệt mà nghĩa là uy tín của anh ta là "đủ". Nhưng Shylock cũng chỉ ra rằng việc cho các thương nhân (hay bạn của họ) vay là hành động nhiều rủi ro. Tàu
thuyền của Antonio nằm rải rác tại nhiều nơi trên thế giới, một chiếc trên đường tới Bắc Phi, chiếc thứ hai tới Ấn Độ, chiếc thứ ba tới Mexico và chiếc thứ tư tới Anh: ... của cải của anh ta đều là giả định: anh ta có một chiếc tàu buôn trên đường tới Tripoli, chiếc khác tới Ấn Độ; tôi còn biết anh ta có chiếc thứ ba tại Mexico, chiếc thứ tư đến Anh, và nhiều của cải khác, rải rác nơi này nơi nọ. Nhưng tàu bè chỉ là ván gỗ, thủy thủ chỉ là người: có những con chuột trên bờ và những con chuột dưới nước, những tên kẻ cắp dưới nước và những tên kẻ cắp trên bờ, tôi muốn nói tới bọn cướp biển, và còn có mối nguy hiểm của sóng, gió và ghềnh nữa. Đó chính là lý do tại sao những người cho thương nhân vay tiền, dù chỉ trong thời gian một chuyến hành trình trên biển, đều cần được bù đắp. Chúng ta thường gọi khoản bù đắp này là tiền lãi: số tiền trả cho người cho vay phải nhiều hơn tổng số tiền cho vay, tức là tiền gốc. Thương mại quốc tế như cách mà Venice phụ thuộc vào không thể diễn ra nếu những nhà tài chính không được hồi báo cho rủi ro của họ khi bỏ tiền vào ván gỗ và con người. Nhưng tại sao Shylock lại trở thành một kẻ ác như vậy, khi thực sự đòi một pound thịt - nghĩa là Antonio phải chết - nếu như anh ta không thể thực hiện nghĩa vụ của mình? Dĩ nhiên câu trả lời là bởi vì Shylock là một trong số nhiều người cho vay trong lịch sử thuộc một cộng đồng thiểu số. Tới thời của Shakespeare, người Do Thái đã cung cấp tín dụng thương mại ở Venice trong gần một thế kỷ. Họ thực hiện công việc ấy trước cửa một tòa nhà từng được gọi là Banco Rosso, ngồi sau những chiếc bàn - gọi là tavule - và trên những chiếc ghế - gọi là banci. Nhưng Banco Rosso nằm ở một khu ghetto (khu ổ chuột của người Do Thái) chật chội cách xa trung tâm thành phố. Có một lý do xác đáng giải thích tại sao các thương nhân Venice phải tới khu ghetto của người Do Thái nếu họ muốn vay tiền. Với người Kitô giáo, cho vay lấy lãi là một tội. Những người cho vay lấy lãi từng bị Công đồng [47] Lateran thứ Ba phạt vạ tuyệt thông năm 1179. Thậm chí việc tranh cãi rằng cho vay lấy lãi không phải là tội cũng bị Công đồng Vienna lên án là dị giáo vào những năm 1311-12. Những người Kitô giáo cho vay nặng lãi phải bồi hoàn cho Giáo hội thì mới có thể được đem chôn trên đất nhà chung. Họ bị các tu sĩ thuộc dòng Francis và dòng Dominic, thành lập vào năm 1206 và 1216 (ngay sau khi cuốn Liber Abaci của Fibonaccira đời), đặc biệt căm ghét. Không thể đánh giá thấp sức mạnh của việc cấm kỵ này, cho dù nó hẳn đã yếu đi vào thời Shakespeare. [48] Tại Duomo (nhà thờ lớn) ở Florence, có một bức tranh tường của Domenico di Michelino vẽ cảnh nhà thơ vĩ đại người Florence, Dante Alighieri cầm cuốn sách của mình có nhan đề Thần khúc. Như Dante từng tưởng tượng trong khúc XVII của kiệt tác này, có một khu vực đặc biệt trong
vòng tròn thứ bảy của Địa ngục dành riêng cho những kẻ cho vay nặng lãi: Gương mặt họ hiện lên vẻ đau thương Thỉnh thoảng họ lại đưa tay chống đỡ Khi với cát nóng, khi với lửa tàn. Không khác gì trong mùa hè, con chó Dùng mõm, dùng chân để bảo vệ mình Khỏi bị rận hay ruồi trâu cắn xé. Lúc tôi đã nhìn kỹ mặt vài người Trong số đang chịu cơn mưa lửa đó Không nhận ra một ai, nhưng mà tôi Thấy ở cổ mỗi người đeo một túi Chứa đầy tiền, có màu sắc, in hình Và mắt của họ hình như chỉ cúi. [49] Người Do Thái cũng không được phép cho vay lấy lãi. Nhưng có một điều khoản thuận tiện trong sách Đệ nhị luật (hay Phục truyền luật lệ ký) của Cựu Ước: "Với người ngoài thì người có thể cho vay lấy lãi; còn với người anh em của người thì không được cho vay lấy lãi." Nói cách khác, người Do Thái có thể cho vay lấy lãi một cách hợp pháp nếu đi vay là người Kitô giáo, nhưng không thể làm thế với một người Do Thái khác. Cái giá của việc làm như thế sẽ là sự loại trừ về mặt xã hội. Người Do Thái đã bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha năm 1492. Cùng với nhiều người Bồ Đào Nha đã cải đạo (converso) khác, tức là những người Do Thái bị buộc phải chấp nhận đạo Kitô theo một sắc lệnh năm 1497, họ đã tìm chốn tị nạn ở Đế quốc Ottoman. Từ Constantinople và các cảng khác của Đế quốc Ottoman, họ thiết lập các mối quan hệ buôn bán với Venice. Người Do Thái bắt đầu có mặt ở Venice từ năm 1509, khi những người Do Thái sống ở Mestre chạy nạn khỏi cuộc chiến tranh của Hội Cambrai. Ban đầu chính quyền thành phố miễn cưỡng nhận người tị nạn, nhưng ít lâu sau họ thấy rõ người Do Thái có thể là nguồn tiền có ích và nguồn dịch vụ tài chính, mà họ vừa có thể đánh thuế vừa có thể vay tiền. [50] Năm 1516, chính quyền Venice quy định một khu vực đặc biệt trong thành phố dành cho người Do Thái trên địa điểm của một xưởng đúc sắt cũ, dần dần khu vực ấy được gọi là ghetto nuovo ("khu ghetto mới", getto nghĩa đen là đúc). Đêm đến và vào những ngày lễ Kitô giáo, họ phải ở trong khu vực ấy. Những ai đã ở Venice được hơn hai tuần sẽ mang một chữ O màu vàng trên lưng hoặc một cái mũ hay khăn quấn đầu màu vàng (sau này là màu đỏ tươi). [51] Sự cư trú bị hạn chế trong thời hạn được quy định trên cơ sở condotte (giấy chứng nhận), gia hạn
năm năm một lần. [52] Một cuộc thu xếp tương tự đạt được năm 1541, một số người Do Thái từ Romania được ban cho quyền sống ở một khu biệt lập khác, gọi là ghetto vecchio ("khu ghetto cũ"). Đến năm 1590 có khoảng 2.500 người Do Thái ở Venice. Các tòa nhà ở khu ghetto mọc cao đến bảy tầng để lấy chỗ ở cho những người mới đến. Suốt cả thế kỷ 16, vị thế của người Do Thái ở Venice vẫn bị hạn chế và bấp bênh. Năm 1537, khi chiến tranh nổ ra giữa Venice và Đế quốc Ottoman, Thượng viện Venice đã ra lệnh tạm tịch biên tài sản của "người Thổ Nhĩ Kỳ, người Do Thái và các thần dân Thổ Nhĩ Kỳ khác". Một cuộc chiến tranh khác từ năm 1570 đến 1573 đã dẫn đến việc bắt giữ tất cả người Do Thái và thu giữ tài sản của họ, tuy rằng khi hòa bình lập lại họ được trả tự do và trả lại tài sản. [53] Để tránh lặp lại hiện tượng này, người Do Thái đã kiến nghị với chính quyền Venice cho phép họ được tự do trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào trong tương lai. Họ may mắn có được người đại diện là Daniel Rodriga, một thương nhân người Do Thái gốc Tây Ban Nha, ông này đã chứng tỏ là một nhà thương thuyết tài ba. Hiến