chương mà ông đạt được năm 1589 bảo đảm cho mọi người Do Thái vị thế công dân Venice, cho phép họ tham gia buôn bán tận vùng bờ đông Địa Trung Hải - một đặc quyền quý giá - và cho phép họ thực hành tôn giáo của mình một cách công khai. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế quan trọng. Họ không được phép gia nhập phường hội hoặc tham gia bán lẻ, do đó bị hạn chế chỉ được cung cấp các dịch vụ tài chính, và những đặc quyền của họ có thể bị tước bỏ chỉ cần báo trước 18 tháng. Được làm công dân, người Do Thái giờ đây có nhiều co hội thành công hơn gã Shylock khi ra tòa án Venice. Chẳng hạn, năm 1623, Leon Voltera đã kiện Antonio dalla Donna vì anh này bảo đảm cho một hiệp sĩ vay tiền của Voltera rồi biến mất. Tuy nhiên, vào hai năm 1636-37 xảy ra một vụ bê bối liên quan đến việc mua chuộc các thẩm phán, trong đó một số người Do Thái có dính líu, khiến cho một lần nữa nguy cơ bị trục xuất lại hiển hiện. [54] Tuy chỉ là hư cấu, nhưng câu chuyện về Shylock như vậy không hoàn toàn tách biệt khỏi hiện thực Venice. Thực tế là, vở kịch của Shakespeare minh họa hoàn toàn chính xác ba điểm quan trọng về giao dịch vay tiền thời cận đại: quyền lực của kẻ cho vay áp đặt lãi suất cao ngất ngưởng khi thị trường tín dụng đang trong thời kỳ sơ khai; tầm quan trọng của tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp tài chính mà không dùng đến bạo lực; nhưng trên hết là tình trạng dễ bị công kích của những người cho vay thuộc thành phần thiểu số trước thái độ thù địch của những người đi vay thuộc sắc tộc chiếm đa số. Bởi cuối cùng thì Shylock vẫn bị ngăn trở. Mặc dù tòa án thừa nhận quyền của chủ nợ khi đòi thực hiện giao kèo - lấy một pound thịt thuộc về ông ta - luật cũng cấm ông ta làm đổ máu của Antonio. Hơn nữa, bởi vì
Shylock là kẻ ngoại cư, nên luật pháp yêu cầu ông ta phải giao nộp của cải và tính mạng vì âm mưu gây ra cái chết của một người Kitô giáo. Ông ta chỉ thoát tội bằng cách chấp thuận rửa tội. Và sau đấy, tất cả mọi người đều sống vui vẻ, ngoại trừ Shylock. Gã lái buôn thành Venice đặt ra những câu hỏi sâu sắc về kinh tế cũng như về quan điểm bài Do Thái. Tại sao các con nợ không phải lúc nào cũng quỵt nợ, nhất là khi chủ nợ thuộc về một cộng đồng thiểu số không được ưa thích? Tại sao những người như Shylock không phải lúc nào cũng thua cuộc? Những người cho vay nặng lãi, giống như những người nghèo là nạn nhân của họ, luôn luôn tồn tại. Chẳng hạn, họ vẫn giàu lên ở Đông Phi. Nhưng không cần thiết phải đến các nước đang phát triển mới hiểu được những nguyên tắc trong hình thức cho vay thô sơ này. Theo báo cáo năm 2007 của Bộ Công thương Anh, có khoảng 165.000 hộ gia đình tại Anh dùng các khoản cho vay bất hợp pháp, vay mượn số tiền lên tới 40 triệu bảng một năm và trả lại số tiền lớn gấp ba lần số này. Để giải thích tại sao những kẻ cho vay nặng lãi luôn luôn bị ghét, bất kể họ thuộc dân tộc nào, bạn chỉ cần đến thăm Glasgow, thành phố quê hương tôi. Đã từ lâu, các khu nhà ở phía đông thành phố trở thành vùng đất màu mỡ cho những kẻ cho vay nặng lãi. Tại các quận như Shettleston, nơi ông bà tôi từng sống, có những cửa chóp bằng thép trên cửa sổ các khu chung cư cũ nát và những hình vẽ graffiti thù địch tôn giáo tại trạm chờ xe buýt. Đời sống kinh tế của Shettleston từng xoay quanh túi tiền của các công nhân làm việc tại những nhà máy thép của hãng Boyd. Ngày nay, nó xoay quanh các khoản trợ cấp thất nghiệp rót vào tài khoản của những người thất nghiệp tại bưu điện. Tuổi thọ trung bình của đàn ông ở Shettleston vào khoảng 64, thấp hơn mười ba năm so với mức trung bình ở Anh và tương đương với tuổi thọ trung bình ở Pakistan. Điều này có nghĩa là một đứa trẻ sinh ra ở Shettleston thường sẽ sống không đủ lâu để có thể nhận được tiền lương hưu của mình. Những khu vực cùng khốn ở Glasgow là miền đất săn của những kẻ cho vay nặng lãi. Ở quận Hillington, Gerard Law là kẻ cho vay nặng lãi số một suốt hai mươi năm. Hắn lấy quán rượu Argosy tại Paisley Road West làm văn phòng, ở lì đấy hầu hết các ngày làm việc mặc dù hắn là người kiêng rượu. Hệ thống của Law rất đơn giản. Người cần tiền sẽ trao sổ trợ cấp hay thẻ rút tiền bưu điện cho hắn làm tin để vay tiền, thông tin được hắn ghi vào sổ cho vay. Khi một tấm séc trợ cấp thất nghiệp tới hạn, Law sẽ giao trả thẻ cho người nợ tiền hắn và chờ thu lãi. Cuốn sổ cho vay hết sức thô sơ: đó chỉ là một tập hợp các giao dịch được ghi lại một cách lộn xộn, tại đó có khoảng hai mươi hay ba mươi cái tên và bí danh quen thuộc xuất hiện bên cạnh các khoản tiền khác nhau: "Al Râu 15", "Ngựa chứng 100", "Bernadett 150", "Caffy Còi 1210". Mức lãi suất thông thường mà Law áp dụng cho các con
nợ cao đến choáng váng, 25% mỗi tuần. Thông thường, những người như AI Râu vay 10 bảng và trả lại 12,5 bảng (tiền gốc cộng với lãi) một tuần sau đó. Tuy vậy, nhiều khách hàng của Law không thể trả nợ đúng hạn; điều này không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều người trong vùng này phải sống với số tiền ít ỏi chỉ 5,9 bảng một ngày. Vì thế họ phải vay thêm tiền. Không lâu sau, một số khách hàng sẽ nợ của Law số tiền hàng trăm, thậm chí hàng ngàn bảng. Việc họ nhanh chóng bị mắc kẹt trong các khoản nợ của mình không có gì đáng ngạc nhiên. Mức 25% một tuần tương đương với lãi suất kép 11 triệu phần trăm trong một năm. Bắt giữ kẻ cho vay nặng lãi: Gerard Law bị các cảnh sát thuộc đơn vị chống cho vay tiền bất hợp pháp của Glasgow dẫn đi. Về dài hạn, lãi suất ở châu Âu có xu hướng giảm. Vậy tại sao một số người ở Anh ngày nay vẫn trả mức lãi lên tới tám con số cho những khoản nợ vặt vãnh? Và chắc chắn phải là người mất trí mới không quỵt các khoản nợ này. Một số khách hàng của Law quả thực là những người không bình thường lắm về tâm thần. Nhưng có những lý do rõ ràng cho thấy ngay cả những khách hàng bình thường của gã cũng nhận thấy việc bội tín với gã là không khôn ngoan, cho dù mức lãi có cắt cổ đi chăng nữa. Như tờ Scotsman viết: "nhiều nạn nhân của gã quá sợ hãi nguy cơ không trả được nợ do tiếng tăm của gã" - mặc dù người ta vẫn không biết đích xác rằng Law có thực sự
dùng tới bạo lực không. [55] Sau lưng mỗi kẻ cho vay nặng lãi, như trường hợp của Shylock cho thấy, luôn tiềm tàng một mối đe dọa ngầm. Thật dễ dàng lên án những kẻ cho vay nặng lãi là vô đạo đức và phạm tội. Gerard Law đã bị kết án mười tháng tù vì hành vi của mình. Tuy nhiên chúng ta cần cố gắng hiểu lý do kinh tế của việc hắn làm. Trước hết, hắn đã lợi dụng được việc không có tổ chức tài chính chính thức nào có thể cho những người thất nghiệp ở Shettleston vay tiền. Thứ hai, Law phải vừa tham lam vừa tàn nhẫn, bởi vì những khách hàng ít ỏi của hắn rất có thể sẽ quỵt nợ. Khó khăn cơ bản trong việc cho vay nặng lãi là hoạt động kinh doanh này có quy mô quá nhỏ và nhiều rủi ro nên không thể áp dụng các mức lãi suất thấp. Nhưng mức lãi suất cao lại khiến việc không trả được nợ dễ xảy ra hơn và chỉ có sự đe dọa mới khiến người ta tiếp tục trả nợ. Vậy làm thế nào để những người cho vay tiền vượt qua mối màu thuẫn cơ bản: nếu họ quá rộng lượng, họ sẽ không kiếm được tiền; nếu họ quá chặt chẽ, như Gerard Law, người ta rốt cuộc sẽ gọi cảnh sát? Câu trả lời là phải lớn mạnh hơn và quyền lực hơn. Sự ra đời của ngân hàng Shylock còn lâu mới là người cho vay duy nhất nhận ra điểm yếu vốn có của chủ nợ, nhất là khi chủ nợ là người nước ngoài. Vào đầu thế kỷ 14, ngành tài chính ở Italia nằm dưới sự thống trị của ba gia tộc Florence: nhà Bardi, nhà Peruzzi và nhà Acciaiuoli. Cả ba gia tộc này đều bị xóa sổ trong thập niên 1340 do sự vỡ nợ của hai trong số các khách hàng chủ chốt của họ: vua Anh Edward III và vua Robert xứ Napoli. Nhưng nếu điều này minh họa điểm yếu tiềm tàng của những người cho vay thì sự đi lên của nhà Medici lại minh chứng cho điều ngược lại: quyền lực tiềm tàng của họ. Có lẽ không gia đình nào khác có thể tạo được dấu ấn lên cả một thời đại như nhà Medici đã đặt dấu ấn của mình lên thời Phục hưng. Hai người trong dòng họ này trở thành giáo hoàng (Leo X và Clement VII); hai người trở thành hoàng hậu Pháp (Catherine và Marie); ba người trở thành công tước (các xứ Florence, Nemours và Tuscany). Chính lý thuyết gia quan trọng nhất về quyền lực chính trị là Niccolò Machiavelli đã viết về lịch sử của dòng họ này, âu cũng là điều thích đáng. Sự bảo trợ của họ đối với nghệ thuật và văn học đã nuôi dưỡng hàng loạt các thiên tài từ Michelangelo cho tới Galileo. Và những thành tựu kiến trúc đáng kinh ngạc của họ ngày nay vẫn bao quanh du khách khi đến Florence. Chỉ cần nhìn vào tòa biệt thự Cafaggiolo, tu viện San Marco, vương cung thánh đường San Lorenzo và những cung điện nguy nga mà Công tước Cosimo de’ Medici từng ở trong giai đoạn giữa thế kỷ 16: cung điện Pitti trước đây, cung điện Vecchio đã được trang trí lại
và những công sở mới (Uffizi) có các sân trải dài cho tới sông Arno. [56] Nhưng đâu là nguồn gốc của những kỳ quan này? Tiền được lấy ở đâu để trả cho các kiệt tác như bức tranh lộng lẫy Sự ra đời của thần Vệ Nữ của Sandro Botticelli? Câu trả lời đơn giản là nhà Medici buôn bán ngoại tệ: họ là thành viên của Arte de Cambio (Phường hội những người đổi tiền). Họ được gọi là chủ ngân hàng (banchiere) bởi vì, cũng giống như những người Do Thái thành Venice, họ kinh doanh trên những chiếc ghế băng đằng sau bàn trên đường phố. Ngân hàng đầu tiên của nhà Medici (từ "quầy" có lẽ mô tả chính xác hơn) ở gần cung điện Cavalcanti, đoạn cắt giữa phố Porta Rossa và phố Arte della Lana ngày nay, chỉ cách chợ đồ len chính ở Florence một khoảng đi bộ ngắn. Trước thập niên 1390, người ta có thể có lý khi cho rằng nhà Medici là những tay găngxtơ hơn là chủ ngân hàng: đó là một thị tộc nhỏ bé, có tiếng vì những hành động bạo lực thấp hèn hơn là hoạt động tài chính uy tín. Trong khoảng thời gian từ năm 1343 đến 1360, có không dưới năm người trong dòng họ Medici bị xử tử vì đã phạm tội nặng. [57] Thế rồi xuất hiện Giovanni di Bicci de' Medici. Mục tiêu của ông ta là hợp pháp hóa nhà Medici. Và nhờ làm việc chăm chỉ, sống chừng mực và tính toán kỹ lưỡng, ông đã thành công.
Một chủ ngân hàng đang ngồi trên ghế băng của mình: bức tranh Chủ ngân hàng (1514), Quentin Massys. Năm 1385, Giovanni trở thành người quản lý chi nhánh tại Rome của ngân hàng do người bà con của ông là Vieri di Cambio de' Medici điều hành tại Florence. Tại Rome, Giovanni đã gây dựng được tiếng tăm của mình trong công việc buôn tiền. Các giáo hoàng là khách hàng lý tưởng trên nhiều khía cạnh, bởi lẽ có nhiều loại tiền khác nhau chảy ra và chảy vào két bạc của Vatican. Như chúng ta đã thấy, đó là thời kỳ đồng hành của nhiều hệ thống tiền tệ bao gồm cả vàng, bạc và kim loại thường, cho nên việc buôn bán đường dài hay trả thuế trở nên phức tạp bởi nhu cầu chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác. Nhưng Giovanni đã nhìn thấy rõ các cơ hội lớn hơn tại quê hương Florence của mình, ông trở về đó vào năm 1397. Cho tới thời điểm bàn giao cơ nghiệp cho người con trai cả Cosimo vào năm 1420, ông đã thiết lập được chi nhánh ngân hàng ở Venice cũng như ở Rome; sau đấy các chi nhánh được mở ở Geneva, Pisa, London và Avignon. Giovanni
cũng có phần hùn vốn trong hai nhà máy len ở Florence. Đóng vai trò hết sức quan trọng trong công việc kinh doanh ban đầu của nhà Medici là các hối phiếu (cambium per literas), được phát triển trong thời trung đại như là một cách cấp vốn cho thương mại. [58] Nếu một thương nhân nợ một thương nhân khác số tiền không thể trả bằng tiền mặt cho tới khi kết thúc giao dịch sau đó vài tháng, thì chủ nợ có thể lấy hối phiếu của con nợ và sau đó sử dụng làm phương tiện thanh toán hoặc đổi lấy tiền mặt với mức chiết khấu nhất định từ chủ ngân hàng đóng vai trò trung gian môi giới. Trong khi việc lấy lãi bị Giáo hội lên án là cho vay nặng lãi thì không có gì ngăn cản một thương nhân khôn ngoan kiếm lợi từ những giao dịch như vậy. Đó chính là bản chất công việc kinh doanh của nhà Medici. Không cần đến séc; các chỉ dẫn đều bằng miệng và được viết trong sổ sách của ngân hàng. Không cần đến tiền lãi; những người gửi tiền được nhận một khoản discrezione - chiết khấu (tỷ lệ với lợi nhuận hằng năm của hăng) để đền bù cho rủi ro bỏ tiền ra của họ. [59] Chi tiết từ một sổ cái kế toán của ngân hàng Medici Libro segreto - nghĩa đen là sách bí mật [60] - của Giovanni di Bicci de' Medici soi rọi quá trình đi lên của gia đình này. [61] Phần nào, đây chỉ đơn giản là việc ghi sổ sách kế toán kỹ lưỡng. Theo tiêu chuẩn hiện đại, chắc chắn nó có những khiếm khuyết. Nhà Medici không sử dụng phương thức bút toán kép một cách có hệ thống cho dù phương thức này được biết đến ở Genoa từ những năm 1340. [62] Dẫu vậy, một nhà nghiên cứu hiện đại không thể không cảm thấy ấn tượng trước sự mạch lạc và trật tự trong các tài khoản của nhà Medici. Các tài liệu lưu trữ còn có một số bảng cân đối của nhà
Medici thời kỳ đầu, với các khoản dự trữ và tiền gửi được đặt chính xác ở một bên (coi như nợ hay vostro) và các khoản vay cho khách hàng hay các hối phiếu thương mại (commercial bill) ở bên kia (là tài sản hay nostro). Nhà Medici không sáng tạo ra những kỹ thuật này, nhưng họ áp dụng chúng trên quy mô lớn hơn những gì người ta từng biết đến ở Florence. Thế nhưng chìa khóa cho sự thành công của nhà Medici không phải ở quy mô mà ở sự đa dạng hóa. Trong khi các ngân hàng ban đầu của Italia có cấu trúc đơn khối (monolithic) dễ dàng bị phá sản khi có một con nợ không trả nợ thì ngân hàng Medici trên thực tế bao gồm nhiều công ty hợp danh (partnership) có quan hệ với nhau, mỗi công ty hợp danh dựa trên một hợp đồng đặc biệt và được đàm phán lại một cách thường xuyên. Những người quản lý chi nhánh không phải người làm thuê mà là các thành viên hợp danh cấp thấp, được trả công bằng một