phần vì chế độ mới không được sự thừa nhận của tầng lớp giàu có và họ từ chối trả thuế. Trong khi đó, tiền bạc của nhà nước lại được tiêu xài hoang phí, nhất là các khoản thanh toán tiền lương hào phóng cho các công đoàn của khu vực nhà nước. Sự kết hợp giữa thuế khóa không đầy đủ và chi tiêu quá mức đã tạo ra những khoản thâm hụt khổng lồ trong các năm 1919 và 1920 (cao hơn sản phẩm quốc dân ròng 10%), thậm chí trước cả khi những người chiến thắng đưa ra hóa đơn đòi bồi hoàn chiến phí. Thâm hụt năm 1923 khi nước Đức hoãn bồi thường chiến phí còn cao hơn thế. Hơn nữa, những người chịu trách nhiệm về chính sách kinh tế ở Weimar đầu thập niên 1920 cảm thấy không có động cơ ổn định chính sách tài khóa và tiền tệ của Đức, ngay cả khi một cơ hội thực sự đến vào giữa thập niên 1920. [161] Giới tinh hoa tài chính Đức tính toán rằng việc phá giá đồng tiền sẽ buộc các nước phe Đồng minh phải chỉnh sửa lại các điều khoản bồi thường chiến tranh, bởi vì việc phá giá khiến cho hàng xuất khẩu của Đức rẻ hơn tương đối so với sản phẩm trong nước của Mỹ, Anh và Pháp. Đúng là việc đồng mác xuống giá đã thúc đẩy xuất khẩu của nước Đức. Nhưng điều người Đức bỏ qua là sự tăng trưởng kinh tế do lạm phát mang lại vào giai đoạn 1920-1922, thời điểm kinh tế Mỹ và Anh đang ở dưới đáy của một cuộc suy thoái sau chiến tranh, làm cho mức tăng nhập khẩu còn lớn hơn thế, và do đó loại trừ đi áp lực kinh tế mà họ mong muốn tạo ra. Tận gốc rễ của tình trạng siêu lạm phát ở Đức là một tính toán sai lầm. Khi người Pháp nhận ra sự thiếu thành thực trong những hứa hẹn chính thức của Đức về các khoản bồi thường, họ rút ra kết luận là phải thu nợ bằng vũ lực và tiến hành xâm lược vùng sản xuất công nghiệp Ruhr. Người Đức phản ứng bằng cách công bố bãi công toàn diện ("phản kháng thụ động") và tài trợ cho hoạt động này bằng cách in thêm tiền giấy. Lúc bấy giờ tàn cục mang tên siêu lạm phát đã tới. Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ, như Milton Friedman đã nói. Nhưng siêu lạm phát thì luôn luôn là một hiện tượng chính trị ở bất cứ đâu, theo nghĩa nó không thể xảy ra nếu không có sự lệch lạc cơ bản trong nền kinh tế chính trị của một quốc gia. Chắc chắn có những cách thức ít mang tính thảm họa hơn nhằm giải quyết những đòi hỏi mâu thuẫn nhau của các chủ nợ trong và ngoài nước đối với nền thu nhập quốc dân bị giảm sút của nước Đức sau chiến tranh. Nhưng sự kết giữa bế tắc bên trong và phản kháng với bên ngoài - sâu xa là bởi nhiều người Đức từ chối chấp nhận rằng đế chế của họ đã bị đánh bại một cách công bằng - dẫn tới những hậu quả tồi tệ nhất có thể: sự sụp đổ hoàn toàn của đồng tiền và nền kinh tế. Tới cuối năm 1923 đã có khoảng 4,97.10 20 mác được lưu hành. Đồng bạc hai mươi tỷ mác được sử dụng hằng ngày. Tỷ lệ lạm phát hằng năm lên tới đỉnh là 182 tỷ phần trăm. Giá cả bình quân cao hơn 1,26 nghìn tỷ lần so với năm 1913. Thực tế là cũng có những lợi ích ngắn hạn. Bằng cách không khuyến khích tiết kiệm mà
khuyến khích tiêu dùng, lạm phát gia tăng đã kích thích sản lượng và việc làm cho tới quý cuối cùng của năm 1922. Đồng mác bị mất giá đúng là đã thúc đẩy lượng xuất khẩu của Đức. Tuy nhiên sự sụp đổ năm 1923 gây ra hậu quả còn nặng nề hơn do thời gian trì hoãn. Sản xuất công nghiệp sụt giảm xuống bằng một nửa mức năm 1913. Tại thời điểm cao nhất, thất nghiệp tăng lên tới một phần tư số thành viên công đoàn, và một phần tư khác làm việc với thời gian ngắn. Tồi tệ hơn cả là những chấn thương về mặt xã hội và tâm lý do khủng hoảng gây ra. "Lạm phát là hiện tượng đám đông theo nghĩa chặt chẽ nhất và cụ thể nhất của từ này," Elias Canetti sau này viết về những gì ông trải qua thời trẻ tại thành phố Frankfurt, nơi lạm phát leo thang. "[Đó là] một ngày hội phá giá của bọn phù thủy khi con người và đơn vị tiền tệ của họ ảnh hưởng lẫn nhau mạnh mẽ nhất. Cái này đại diện cho cái kia, con người cảm thấy mình cũng 'tồi tệ' như tiền của họ; và điều này càng ngày càng tệ hơn. Cả hai bên đều phụ thuộc vào nhau và đều cảm thấy vô giá trị như nhau." [162] Vô giá trị là sản phẩm chủ yếu của siêu lạm phát. Không chỉ tiền trở nên vô giá trị mà tất cả các hình thức của cải và thu nhập cố định dựa theo đồng tiền ấy đều trở nên như vậy. Cả trái phiếu cũng vậy. Siêu lạm phát không thể xóa sổ nợ nước ngoài của Đức, được cố định theo đồng tiền trước chiến tranh. Nhưng nó có thể và trên thực tế đã xóa hết tất cả khoản nợ trong nước được tích lũy trong và sau chiến tranh, san phẳng núi nợ như một cơn địa chấn kinh tế khủng khiếp. Tác động của nó tương tự như thuế: một khoản thuế không chỉ đánh vào các chủ trái phiếu mà tất cả những ai sống dựa vào thu nhập tiền mặt cố định. Tác động này có sức san bằng to lớn, bởi vì nó ảnh hưởng chủ yếu tới tầng lớp trung lưu bậc trên: những rentier, các viên chức cấp cao, những nhà chuyên môn. Chỉ có các doanh nhân là có thể tự bảo vệ mình bằng cách đẩy giá tăng, tích trữ đô la, đầu tư vào các "bất động sản" (như nhà cửa hay nhà máy) và trả nợ bằng tiền giấy bị phá giá. Di sản kinh tế lâu dài của siêu lạm phát rất tồi tệ: đó là các ngân hàng bị yếu đi và
lãi suất cao kinh niên, bởi lẽ phải gộp vào đó một tỷ lệ đáng kể bù đắp cho rủi ro lạm phát. Nhưng chính những hậu quả xã hội và chính trị của siêu lạm phát ở Đức mới thực sự đáng buồn. Nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes từng lý luận vào năm 1923 rằng "cái chết êm dịu của giới rentier" do lạm phát gây nên vẫn là kết quả đáng mong muốn hơn so với tình trạng thất nghiệp lan tràn do giảm phát - "bởi vì trong một thế giới nghèo đói, gây ra thất nghiệp còn tệ hơn làm giới rentier thất vọng". [163] Tuy nhiên bốn năm trước đó, chính ông đã mô tả sinh động những hậu quả tiêu cực của lạm phát: Bằng cách tiếp tục quá trình lạm phát, các chính phủ có thể tịch thu, một cách bí mật và khó quan sát, một phần quan trọng tài sản của các công dân. Bằng cách đó, họ không chỉ tịch thu mà còn tịch thu một cách tùy ý; và trong khi quá trình này khiến nhiều người trở nên nghèo đói thì nó lại làm giàu cho một số người. Quá trình tái phân phối của cải tùy ý này không chỉ đánh vào sự an toàn mà còn vào lòng tin ở tính công bằng trong việc phân phối của cải hiện tại. Những người mà hệ thống mang lại lợi ích... trở thành "những người trục lợi", đối tượng thù ghét của giai cấp tư sản, vốn đã bị lạm phát làm bần cùng không kém giai cấp vô sản. Khi lạm phát vẫn tiếp tục... tất cả các mối quan hệ lâu dài giữa chủ nợ và con nợ, vốn là nền tảng cao nhất của chủ nghĩa tư bản, trở nên hoàn toàn mất trật tự tới mức gần như là vô nghĩa... [164] Theo Keynes, chính Lenin đã nhìn ra rằng, "Để lật đổ nền tảng có sẵn của xã hội, không có biện pháp nào tinh tế hơn, chắc chắn hơn là phá giá đồng tiền." Không có ghi chép nào để lại cho thấy Lenin đã nói như vậy, nhưng người đồng chí của ông là Yevgeni Preobrazhensky [165] quả thật đã mô tả việc in tiền giấy là "khẩu súng máy của Bộ trưởng Tài chính nã đạn vào hậu phương của hệ thống tư bản". [166] Ví dụ về nước Nga nhắc nhở rằng Đức không phải là nước thất trận duy nhất phải hứng chịu siêu lạm phát sau Thế chiến thứ nhất. Cũng như các nước Hungary và Ba Lan mới được độc lập, nước Áo cũng phải hứng chịu các cuộc sụp đổ tiền tệ tồi tệ không kém trong khoảng thời gian từ năm 1917 tới 1924. Trong trường hợp của Nga, siêu lạm phát xảy ra sau khi những người Bolshevik từ chối thẳng thừng việc trả nợ đối với toàn bộ nợ của chính quyền Sa hoàng. Những người giữ trái phiếu cũng gánh chịu số phận tương tự sau Thế chiến thứ hai, khi Đức, Hungary và Hy Lạp chứng kiến đồng tiền và các thị trường trái phiếu của mình sụp đổ. [167] Nếu siêu lạm phát chỉ gắn liền với các phí tổn từ thất bại trong các cuộc chiến tranh thế giới thì hiểu được nó cũng tương đối dễ dàng. Nhưng nó còn hóc búa hơn thế. Trong thời gian gần đây, một số quốc gia đã vỡ nợ - hoặc trực tiếp bằng cách hoãn trả tiền lãi, hoặc gián tiếp bằng cách phá giá đồng
tiền làm căn cứ xác định nợ - trước những thảm họa ít nghiêm trọng hơn nhiều. Tại sao bóng ma của siêu lạm phát lại không biến mất cùng với bóng ma của xung đột toàn cầu? Ông chủ PIMCO Bill Gross bắt đầu sự nghiệp kiếm tiền bằng cách chơi bài blackjack ở Las Vegas. Trong mắt ông ta, mỗi khi nhà đầu tư mua trái phiếu đều có yếu tố may rủi ở trong đó. Một