phần lớn việc lao động và chi trả, sống và chết trong cộng đồng này. Vậy thì, có gì quá đáng khi để họ lao động và chi trả, sống và chết trong một vài căn phòng tươm tất cùng một nhà tắm?
Cuộc sống tuyệt vời của Frank Capra ca ngợi những ưu điểm của tổ chức "tiết kiệm" ở địa phương, tức là Tiết kiệm và Cho vay, trong đó Jimmy Stewart đóng vai người cho vay thế chấp mua nhà đáng mến Lời khẳng định mạnh mẽ này đối với ưu điểm của quyền sở hữu nhà là một điều mới. Song chính Cơ quan Nhà ở Liên bang (FHA) mới là nơi đã thực sự tạo ra sự khác biệt cho những người mua nhà ở Mỹ. Bằng cách cung cấp bảo hiểm được chính phủ liên bang hỗ trợ cho những người cho vay tiền mua nhà, FHA đã tìm cách khuyến khích các khoản cho vay lớn (tới 80% giá mua), dài hạn (hai mươi năm), được trả dần toàn bộ và với lãi suất thấp. Điều này không chỉ làm sống lại thị trường cho vay mua nhà; nó đã phát kiến lại thị trường này. Bằng cách tiêu chuẩn hóa việc cho vay mua nhà dài hạn và lập ra một hệ thống quốc gia để chính thức thanh tra và định giá, FHA đã đặt nền móng cho một thị trường thứ cấp trên cả nước. Thị trường này đi vào hoạt động năm 1938, khi Hiệp hội Cho vay Thế chấp Quốc gia Liên bang (FNMA) mới ra đời - có tên lóng là Fannie Mae - được quyền phát hành trái phiếu và dùng số tiền thu được mua các khoản vay thế chấp từ các tổ chức Tiết kiệm và Cho vay ở địa phương, vốn theo quy định mới bị giới hạn cả về mặt địa lý (không được cho những người sống ngoài 80 km tính từ văn phòng của họ vay) và về mặt lãi suất mà họ có quyền đưa ra cho những người gửi tiền (gọi là Quy định Q, áp đặt trần lãi suất thấp). Do các
thay đổi này thường giảm mức chi trả trung bình hằng tháng đối với vay thế chấp mua nhà, nên FHA đã biến việc sở hữu nhà trở thành khả thi đối với nhiều người Mỹ hơn bất kỳ lúc nào. Thực tế, không phải quá đáng khi nói rằng nước Mỹ hiện đại, với những khu ngoại ô đầy quyến rũ na ná giống nhau của nó, đã được sinh ra từ đây. Vì thế, từ thập niên 1930 trở đi, chính phủ Mỹ thực sự đã bảo lãnh thị trường vay thế chấp mua nhà và nhờ đó khuyến khích người cho vay và người đi vay hợp tác với nhau. Điều này đã khiến sở hữu bất động sản - và nợ vay mua nhà - tăng vọt từ sau Thế chiến thứ hai, đẩy tỷ lệ sở hữu nhà ở từ 40% lên 60% vào năm 1960. Duy chỉ có một cái bẫy ở đây. Không phải bất kỳ ai trong xã hội Mỹ cũng được tham dự bữa tiệc sở hữu nhà ở. Năm 1941, một nhà xây dựng địa ốc đã cho xây bức tường cao một mét tám tại quận 8 Mile của Detroit. Ông buộc phải xây bức tường này để đạt đủ điều kiện nhận các khoản vay ưu đãi từ Cơ quan Nhà ở Liên bang. Các khoản vay đó chỉ được cấp cho việc xây dựng ở một phía bức tường mà