phần của hệ thống đã chia rẽ cả thành phố, về lý thuyết là bằng sự đánh giá độ tin cậy về tín dụng, nhưng trên thực tế là bằng màu da. Nói cách khác, sự phân biệt chủng tộc về địa lý không phải điều ngẫu nhiên, mà do hệ quả trực tiếp từ chính sách của chính phủ. Bản đồ của Hội đồng Cho vay Mua nhà Liên bang đã cho thấy các khu vực mà người da đen chiếm đa số ở Detroit - khu Lower East Side, cộng một vài chỗ gọi là khu lao động ở West Side và 8 Mile - được đánh dấu chữ D và được tô màu đỏ. Các khu vực được đánh dấu chữ A, B hoặc C hầu hết là người da trắng ở. Sự phân biệt này đã giải thích vì sao sau này người ta gọi việc cho toàn bộ một số khu vực nào đó mức độ xếp hạng tín dụng âm là gạch đỏ [441] . [442] Kết quả là khi những người sống ở khu vực D muốn được vay tiền mua nhà, họ sẽ phải chịu lãi suất cao hơn đáng kể so với những người sống ở các khu vực từ A đến C. Trong thập niên 1950, cứ trong số năm người da đen vay tiền mua nhà thì một phải chịu lãi suất từ 8% trở lên, trong khi đó hầu như không có người da trắng nào phải chịu lãi suất trên 7%. [443] Đây chính là khía cạnh tài chính ẩn giấu trong cuộc đấu tranh đòi Quyền Công dân [444] . Detroit là quê hương của các doanh nhân da đen thành đạt như Berry Gordy, người sáng lập ra nhãn hiệu thu âm Motown lần đầu nổi tiếng năm 1960 với đĩa nhạc rất hợp cảnh 'Tiền chính là thứ tôi muốn" (Money, That's What I Want) của Barrett Strong. Các ngôi sao khác của Motown như Aretha Franklin và Marvin Gaye hiện đang sống tại thành phố này. Vậy mà suốt cả thập niên 1960 vẫn tồn tại định kiến cho rằng những khu vực của người da
đen có mức độ rủi ro về tín dụng cao. Nỗi tức giận đối với việc phân biệt đối xử về kinh tế đó chính là nguyên nhân đằng sau cuộc bạo động nổ ra tại Phố 12 của Detroit ngày 23/7/1967. Trong năm ngày xảy ra hỗn loạn sau khi cảnh sát đột kích vào một "con lợn mù" (tức quán rượu lậu không được cấp phép), 43 người đã bị giết chết, 467 người bị thương, trên 7.200 người bị bắt và gần 3.000 tòa nhà bị cướp bóc hoặc đốt phá - một biểu tượng có sức thuyết phục mạnh mẽ về sự phản đối của người da đen đối với nền dân chủ sở hữu nhà ở hiện vẫn còn đối xử với họ như những công dân hạng hai. [445] Thậm chí đến hôm nay, bạn vẫn có thể nhìn thấy những lô đất trống mà cuộc bạo động đã để lại sau lưng. Người ta đã phải sử dụng quân đội thường trực với xe tăng và súng máy để dập tắt cái đã được chính thức thừa nhận là một cuộc nổi dậy. Cũng như trong thập niên 1930, sự thách thức bằng bạo lực đã dẫn đến phản ứng về chính trị. Tiếp theo Đạo luật Quyền Công dân trong thập niên 1960, các bước đi mới đã được thực hiện để cho người dân tiếp cận nhiều hơn với quyền sở hữu nhà ở. Năm 1968, Fannie Mae được chia làm hai: Hiệp hội Vay mua nhà Quốc gia của Chính phủ (GNMA hay Ginnie Mae) là tổ chức phục vụ những người vay tiền nghèo khổ như các cựu chiến binh, và một Fannie Mae mới được thay đổi chức năng thành một doanh nghiệp do tư nhân sở hữu song được chính phủ tài trợ (GSE), được phép mua các trái phiếu thế chấp thông thường cũng như các món vay mua nhà thế chấp do chính phủ bảo lãnh. Hai năm sau đó, để tạo ra cạnh tranh trên thị trường thứ cấp, Tập đoàn Cho vay Mua nhà Liên bang (FHLMC hay Freddie Mac) được thành lập. Một lần nữa, hiệu quả là đã mở rộng thị trường thứ cấp cho vay mua nhà, và ít nhất về lý thuyết đã hạ thấp mức lãi suất cho vay mua nhà. Đương nhiên, gạch đỏ trên cơ sở phân biệt chủng tộc không biến mất sau một đêm; song nó đã trở thành một tội ở cấp liên bang. [446] Thực vậy, với Đạo luật Tái đầu tư Cộng đồng năm 1977, các ngân hàng của Mỹ đã chịu sức ép pháp luật phải cho các cộng đồng thiểu số nghèo hơn được vay tiền. Với việc thị trường nhà ở Mỹ lúc này được bảo hiểm bởi những thứ mang tên giống như phiên bản tài chính của các Ông Bố và Bà Mẹ - Fannie, Ginnie và Freddie - luồng gió chính trị đã được thiết lập lại cho phù hợp với nền dân chủ sở hữu nhà. Những người đang vận hành các tổ chức Tiết kiệm và Cho vay giờ đây có thể hoạt động theo quy tắc 3-6-3 rất dễ chịu: chi 3% cho các khoản tiền gửi, cho vay tiền với lãi suất 6% và có mặt ở sân chơi golf vào lúc 3 giờ chiều mỗi ngày. Phía bờ bên kia Đại Tây Dương, tỷ lệ sở hữu nhà ở mãi không bắt kịp quyền lợi chính trị của người dân. Ở Anh sau chiến tranh, các chính trị gia của cả đảng Bảo thủ và đảng Lao động thường vẫn cho rằng nhà nước cần phải cung cấp hoặc ít nhất là trợ cấp về nhà ở cho các tầng lớp lao động. Quả
thực, Harold Macmillan còn tìm cách vượt qua đảng Lao động, với mục tiêu xây mới 300.000 (sau đó là 400.000) ngôi nhà một năm. Từ năm 1959 đến 1964, khoảng một phần ba số nhà mới ở Anh là do các hội đồng địa phương xây dựng, rồi tăng lên một phần hai trong sáu năm cầm quyền sau đó của đảng Lao động. Những khối nhà cao tầng xấu xí và vận hành tồi về mặt xã hội, và những khu nhà ở mà ngày nay đang làm hỏng bộ mặt của hầu hết các thành phố nước Anh, là tội của cả hai đảng. Khác biệt thực sự duy nhất giữa phe hữu và phe tả là phía Bảo thủ sẵn sàng bỏ điều tiết thị trường cho thuê tư nhân nhằm khuyến khích các chủ nhà đất tư nhân, còn đảng Lao động quyết tâm cũng mạnh mẽ không kém về hướng ngược lại hòng áp đặt lại việc kiểm soát giá thuê nhà và loại bỏ "chủ nghĩa Rachman" (hành vi bóc lột của các chủ nhà đất) theo kiểu Peter Rachman, người đã dùng cách đe dọa để đuổi người đang ở những căn nhà khống chế tiền thuê và thay thế họ bằng những người nhập cư từ Tây Ấn phải trả tiền thuê theo giá thị trường. [447] Cho đến tận năm 1971, chỉ có chưa đến một nửa số nhà của Anh là do những người sở hữu chúng cư ngụ. Ở nước Mỹ, nơi mà nhà ở công chưa bao giờ có vai trò quan trọng, các khoản trả lãi vay mua nhà luôn được giảm mức chịu thuế kể từ khi bắt đầu có hệ thống thuế thu nhập liên bang năm 1913. [448] Như Ronald Reagan đã nói khi có người chất vấn về nguyên do của việc miễn thuế này, việc khấu trừ thuế lợi tức là "một