phần của thực tại tương tức. Nhờ chánh niệm đời sống trở nên thực sự có mặt. Chánh niệm giúp ta thực sự sống, có mặt ở đây và bây giờ. Chánh niệm cũng giúp ta tiếp xúc được với những gì tươi mát và mầu nhiệm trong ta và chung quanh ta. Thực tập như vậy, chúng ta tưới tẩm hạt giống an lạc, hiểu biết trong ta. Những hạt giống này có năng lực chuyển hóa các khổ đau trong ta. Khổ đau được chuyển hóa do sự có mặt của những hạt giống an lành mà ta đã vun trồng và tưới tẩm trong đời sống hàng ngày bằng sự thực tập sống chánh niệm. Trong kinh tạng Pali, danh từ dittha dhamma sukha vihari thường được dùng, nó có nghĩa là an trú trong giây phút hiện tại. Nếu không có hỷ lạc trong sự thực tập thì chúng ta sẽ yếu. Hỷ lạc nuôi dưỡng ta, nhờ đó ta có nhiều năng lượng hơn. Có người tụng kinh, niệm Bụt, ngồi thiền khá nhiều nhưng cách nhìn của họ về cuộc đời không thay đổi, cũng như nhân cách và hành động của họ không thay đổi. Đó là vì họ chỉ hành trì theo sự tướng mà không thực sự thực tập quán chiếu trong đời sống hàng ngày. Nếu sự thực tập của chúng ta không chuyển hóa được đời sống của chính chúng ta và đem tới hỷ lạc cho ta thì ta sẽ không có khả năng đem an lạc tới cho người khác, và như vậy là ta đã thực tập không đúng cách. Pháp môn Tiếp Hiện đưa thiền quán từ thiền đường ra đến mọi động tác của đời sống hàng ngày. Công trình này phải đưa tới định, tuệ và sự chuyển hóa trong đời sống hàng ngày của ta. Chúng ta phải thấy rằng nếu khả năng hiểu biết, thương yêu, an lạc và hạnh phúc của ta tăng triển thì ta mới thực là đang đi trên con đường hành đạo.
32 | Chương Hai: Giới Tướng Những mầu nhiệm của vũ trụ được phô bày ra nhờ sự tập thiền quán về tính tương tức của vạn pháp: "cái này có vì cái kia có". Ta thấy được rằng để cho một vật có thể hiện hữu, các vật khác cũng phải cần có mặt. Giới thứ năm nhằm đối trị tham, giới thứ sáu nhằm đối trị sân, giới thứ bảy nhằm đối trị si; tức là sự mê mờ, thất niệm. Các giới Tiếp Hiện bổ túc cho nhau và theo nhau như một chuỗi hạt minh châu vậy. Giới thứ tám: Ái ngữ và hòa giải Ý thức được rằng những khó khăn trong việc truyền thông giữa người với người luôn luôn đưa tới ngăn cách và khổ đau, con nguyện thực tập lắng nghe bằng tâm từ bi và nói năng bằng lời ái ngữ. Con nguyện học hạnh lắng nghe chăm chú mà không phán xét và chỉ trích và không nói ra bất cứ một lời nào có thể tạo nên sự bất hòa trong đoàn thể và có thể làm tan vỡ đoàn thể. Con nguyện tu tập để tái lập sự truyền thông giữa con và mọi người khác, và để giúp giải quyết mọi vụ bất hòa, dù lớn dù nhỏ. Giới thứ tám và giới thứ chín thuộc về nghiệp nói năng, tức là khẩu nghiệp. Trọng tâm của giới thứ tám là ý niệm hòa. Hòa là bản chất của đời sống tập thể. Chữ sangha mà ta phiên âm là tăng già chỉ có nghĩa là đoàn thể, hoặc cọng đồng, chứ không phải là tiếng để chỉ riêng những người xuất gia. Ta có danh từ chúng và danh từ đại chúng là những từ ngữ tương đương với sangha. Tiếng Pháp là communauté. Ngày xưa đoàn thể của những vị xuất gia lấy lục hòa làm căn bản: cư trú chung (thân hòa đồng trú), sử dụng chung những tài vật hiện có (lợi hòa đồng quân), cùng hành trì chung một giới luật (giới hòa đồng tu), cùng chia xẻ với nhau những kiến thức về Phật pháp và kinh nghiệm tu tập (kiến hòa đồng giải), cùng dung hợp những ý kiến khác biệt nhau để sự sống chung được vui vẻ (ý hòa đồng duyệt) và nói năng ôn hòa để tránh việc cãi cọ (khẩu hòa vô tránh). Sáu nguyên tắc sống chung hòa hợp này đã có từ ngày Bụt còn tại thế, và cho đến nay vẫn còn giữ được tính cách hợp thời của chúng. Giới
33 | Chương Hai: Giới Tướng thứ tám tuy nói về ngữ nghiệp, tức là nguyên tắc khẩu hòa vô tránh, nhưng kỳ thực có liên hệ mật thiết tới năm nguyên tắc sống chung khác trong lục hòa. Nếu thực hiện được năm nguyên tắc, thì sự thực hiện nguyên tắc "khẩu hòa vô tránh" sẽ trở thành dễ dàng gấp bội. Khi mọi người biết dung hòa ý kiến, biết cùng tuân theo những quy giới và luật lệ, cùng hưởng thụ đồng đều những điều kiện vật chất ; nói tóm lại, khi không có sự xung đột về ý kiến, địa vị và quyền lợi thì những lời nói năng có thể gây nứt rạn và tan vỡ đoàn thể sẽ ít xảy ra. Ái ngữ, lời nói ôn hòa, phát xuất từ sự hiểu biết và nhẫn nại. Thực tập giới thứ sáu, ta đã thấy sự trách cứ không đưa lại kết quả nào mà còn gây thêm hố chia cách. Ở giới thứ tám, ta thấy chỉ có lời nói ôn hòa và thái độ lân mẫn phát xuất từ sự hiểu biết mới có thể đóng góp vào công cuộc hòa giải để giải quyết những vụ bất hòa. Hòa giải là một nghệ thuật lớn mà căn bản là khả năng hiểu biết của ta về cả hai phía chống đối. Thiên hẳn về một phía thì không thể gọi là hòa giải. Thường thường trong lẽ phải có cả người lẫn ta, như thi sĩ Nguyễn Du đã nói ("Mà trong lẽ phải có người có ta" - Truyện Kiều). Không những cả hai bên chống đối đều chịu một phần trách nhiệm, mà chính ta, những kẻ đứng bên ngoài cũng phải chịu trách nhiệm một phần nào về những gì đang xảy ra. Nếu chúng ta sống ý thức, thực tập chánh niệm, thì chắc đã thấy được vấn đề từ lúc manh nha rồi. Nếu ta biết giải quyết vấn đề khi nó còn chưa trở nên trầm trọng thì công tác hòa giải sẽ dễ dàng hơn nhiều. Người đứng ra hòa giải không phải là một người xét xử, một vị quan tòa, mà trái lại là một người trong cuộc, biết nhận phần trách nhiệm của mình. Phần trách nhiệm ấy là đã thiếu ý thức chánh niệm trong quá khứ. Người ấy phải biết vượt lên trên sự tranh chấp, và trong những cuộc tiếp xúc riêng với mỗi phía, phải tìm cách cho biết nỗi khổ của phía bên kia. Giải pháp được đề nghị ra phải được hình thành bởi chất liệu lý tưởng mà cả hai phía đều cùng chấp nhận: mục đích của chúng ta không phải là đạt tới danh lợi mà là để xây dựng sự nghiệp trí tuệ và từ bi. Người đứng ra hòa giải, do đó, ngoài khả năng sử dụng ngôn ngữ hòa ái, còn phải là một người biểu trưng được cho tinh thần cởi
34 | Chương Hai: Giới Tướng mở, hiểu biết và từ bi. Trong trường hợp chính mình là một trong hai phía tranh chấp, con người hòa giải là phần tỉnh thức và hiểu biết của chính bản thân mình. Công tác hòa giải này có phần khó khăn hơn, nhưng cũng đẹp đẽ hơn gấp bội. Ý thức về nhu cầu và trách nhiệm trong công việc hòa giải đem đến cho chúng ta năng lượng để hành động và sự thành công ở đây chính là sự thành công của từ bi và trí tuệ; từ bi và trí tuệ không những đối với kẻ kia mà còn là đối với chính mình. Mỗi đoàn thể là một hòa hợp tăng. Đoàn thể là gia tộc thì đó là gia tộc tăng, là học đường thì đó là học đường tăng, là quốc dân thì đó là một quốc dân tăng, một thiền viện thì đó là một thiền môn tăng, một hiệp hội thì là một hội đoàn tăng. Hòa hợp là bí quyết của thành công. Trong thiền môn, mỗi khi bắt đầu một cuộc hội họp, vị chủ tọa luôn luôn bắt đầu bằng hai câu hỏi: - Đại chúng đã tập họp đủ chưa? Trả lời: "Đại chúng đã tập họp đầy đủ". - Có sự hòa hợp không? Trả lời: "Có sự hòa hợp". Hai câu hỏi ấy được trả lời thỏa đáng, buổi họp mới được bắt đầu. Nếu câu trả lời là "không" thì buổi họp sẽ không được tiến hành. Phải hòa giải cho xong trước khi triệu tập một buổi họp mới. Đó là nghi thức Tác Pháp Yết Ma có từ thời Bụt còn tại thế và cọng đồng của các vị xuất gia đã tiếp tục hành trì như vậy trong 25 thế kỷ qua. Giới thứ chín: Thực tập chánh ngữ Ý thức được rằng lời nói có thể tạo ra khổ đau hay hạnh phúc, con xin nguyện luyện tập để chỉ nói những lời nói chân thật có tác dụng hòa giải, gây niềm tin tưởng và hy vọng. Con nguyện không nói dối để mưu cầu tài lợi và sự kính phục, không nói những lời gây chia rẻ và căm thù, không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những gì con không biết rõ. Con
35 | Chương Hai: Giới Tướng nguyện can đảm nói ra sự thật về những tình trạng bất công, dù hành động này có thể đem lại những đe dọa cho sự an thân của mình. Đây là giới thứ hai về ngữ nghiệp. Giới tướng rất rõ ràng, không có gì là khó hiểu. Lời nói có thể xây dựng một thế giới tin yêu và hạnh phúc mà cũng có thể tạo thành địa ngục trần gian. Ta phải hết sức cẩn thận khi nói năng. Nếu ta có thói quen nói nhiều thì ta phải tập nói ít trở lại, và tập ý thức về những lời mình nói và hậu quả của chúng. Chúng ta nói chuyện thị phi nhiều quá, cho đến nỗi đến chùa hay đến nhà thờ rồi mà vẫn tiếp tục chuyện thị phi. Chúng ta đã từng sống trong địa ngục trần gian tạo ra vì lời nói thị phi. Chúng ta loan truyền những tin mà chính chúng ta không hề thấy và biết, chúng ta nói những lời gây chia rẻ và căm thù, hoặc phê bình, lên án. Trong những ngày quán niệm hay tĩnh tu, nếu ta không thực tập tịnh khẩu, thì cũng nên bớt sự nói năng lại còn một