Hành Tinh Của Một Kẻ Nghĩ Nhiều

phần của

phần của

phần của những dòng suy nghĩ rất con người. bản chất chân thật giúp chúng ta thừa nhận những ý nghĩ xấu xa của chính mình. Thừa nhận những dòng suy nghĩ tiêu cực này cũng chính là thừa nhận những mặt tối bên trong chúng ta, để xóa bỏ nó, tha thứ cho bản thân và cuối cùng là thực hiện những hành vi đúng với con người của chúng ta, như biết chịu thiệt khi bị phản bội và mặc nhiên bước tiếp hay nhận ra việc ghen tị có thể giúp chúng ta học hỏi được nhiều hơn từ người đó thay vì hạ bệ họ. Ngoài ra, nghiên cứu của Gino và Kouchaki (2020) còn cho thấy sự chân thật có thể giúp giảm nhẹ cảm giác tổn thương khi bị khước từ bởi hội nhóm hoặc trong giao tiếp xã hội hằng ngày. Thông qua những thí nghiệm kinh điển như cho người tham gia chơi trò chơi chuyền bóng và không nhận được bóng từ những người chơi khác hoặc trong trường hợp giả định khi họ bị từ chối tình cảm bởi người khác, kết quả nghiên cứu cho thấy những người

33 | T r an g thành thật với bản thân sẽ có ít cảm giác ê chề và tổn thương hơn. Điều này giúp cho họ hiểu rõ giá trị của bản thân đồng thời không bị thôi thúc phải làm hài lòng người khác. Do đó khi bị khước từ, những người chân thật ít có xu hướng nghi ngờ chính mình hoặc cảm thấy việc bị khước từ là lỗi của họ, từ đó dễ dàng tự chữa lành hơn khi chuyện tương tự xảy ra. Trong giao tiếp xã hội, nhiều nghiên cứu khác cho thấy lợi ích của sự chân thành trong những mối quan hệ lãng mạn và ở nơi làm việc. Nghiên cứu của Wickham (2013) (xem thêm nghiên cứu của Brunell và các cộng sự, 2010) cho thấy rằng những người nhìn nhận bạn đời của họ là những người chân thật sẽ có cảm giác kết nối cao hơn trong những mối quan hệ và mong muốn xây dựng một mối quan hệ lâu dài hơn. Những người chân thành cũng ít nghi ngờ người yêu hơn và thường nhìn nhận những mặt tích cực trong mối quan hệ. Thông qua việc nhìn nhận người khác là chân thật và tự thành thật với bản thân, chúng ta sẽ có xu hướng xây dựng những mối quan hệ lãng mạn lành mạnh bên cạnh mối quan hệ lành mạnh với chính bản thân. Trong môi trường công việc, nhiều nghiên cứu (Oc và các cộng sự, 2020; Yagil và Medler-Liraz, 2014) cũng cho thấy khi có cấp trên là người chân thành, biểu hiện ở việc họ thường có những biểu

34 | T r an g hiện và thái độ "con người" và không phải lúc nào cũng chăm chỉ giữ hình tượng hoàn hảo, nhân viên sẽ có tinh thần làm việc thoải mái hơn và cảm thấy dễ dàng chấp nhận sự yếu đuối của bản thân hơn trong công việc. Những nghiên cứu này cũng cho rằng thông qua việc học hỏi đức tính từ cấp trên, nhân viên có sức khỏe tinh thần tốt hơn từ đó làm việc hiệu quả hơn. Sự chân thật và yếu đuối chia sẻ rất nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều phô bày một con người không có áo giáp, Trần trụi và chỉ đơn giản là chờ đợi được chấp nhận mà không phải quá cố gắng để trở thành bất kỳ ai khác. Trong cuốn sách Sử liều lĩnh vĩ đại«tên gốc: Daring Greatly» (2012), Brené Brown có đề cập tới cách chúng ta nhìn nhận lỗi sai ở bản thân tàn nhẫn hơn với người khác. Brown cho rằng chúng ta thích nhìn thấy sự thật trần trụi và cởi mở ở người khác nhưng lại sợ hãi việc để người khác nhìn thấy sự yếu đuối của chính chúng ta. "Tôi muốn trải nghiệm cảm giác yếu đuối nhưng không muốn trở nên mềm yếu. Sự yếu đuối ở bạn là lòng dũng cảm nhưng ở tôi thì lại là sự kém cỏi. Tôi bị thu hút bởi vẻ mong manh của bạn nhưng lại chổi bỏ sự yếu đuối của chính bản thân." Truyền thông nói rằng bạn không được ghen tị với những cô gái xinh đẹp hơn, rằng bạn phải luôn mong ước những điều đẹp

35 | T r an g cái nhất đến với người khác, rằng để là một người tốt, bạn phải là một người hoàn mỹ trong suy nghĩ và nhân phẩm. Vậy nhưng trong mỗi chúng ta đều tồn tại những "con quỷ" cần được công nhận, kiểm soát và cảm thông cho. Nếu bạn đã từng tự dày vò cảm xúc của bản thân, đó không phải do đạo đức của bạn chưa tốt, mà bởi bạn cũng chỉ là con người thôi. Cả bạn và mình, chúng ta đều là những cái tôi không hoàn hảo, và điều đó không sao cả. Chúng ta đều chỉ cần là những cái tôi cố gắng chân thật nhất học cách để trở thành những cái tôi đỡ xấu xí hơn mỗi ngày. "CÓ LẼ BỞI CHÚNG TA CÒN TRẺ, CHƯA THỂ NHÌN NHẬN RÕ GIÁ TRỊ SỐNG VÀ MỤC ĐÍCH SỐNG CỦA BẢN THÂN, CHÚNG TA THƯỜNG DỄ DÀNG BIẾN ĐỔI MÌNH ĐỂ NƯƠNG THEO NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ MỤC TIÊU SỐNG CỦA NGƯỜI KHÁC." 07. Những điều cơ bản về mối gắn kết giữa đứa trẻ trong bạn và cha mẹ Là một kẻ dành hết mọi thời gian, tâm huyết và năng lượng trí tuệ trong dòng dã 3 năm tuổi trẻ theo học tâm lý ở trường đại học, mình có một "nguyên tắc vàng" mỗi khi hẹn hò ở tuổi 20. Mình luôn lựa thời điểm trong buổi nói chuyện và hỏi câu: "Cậu có thân thiết với gia đình của cậu không?" Bước vào thế giới của người lớn khiến mình nhận thấy một điều thú vị, đó là chẳng còn mấy ai

36 | T r an g quan tâm đến gia đình của chúng ta nữa. Ít có ai hỏi bố mẹ chúng ta làm nghề gì hay chúng ta có quan hệ tốt với bố mẹ hay không. Có lẽ bởi rất nhiều người có chung một niềm tin được ngầm hiểu về chuyện trưởng thành, khi đã là người lớn, chúng ta trở thành những sinh vật độc lập về cá tính, về các mối quan hệ xã hội, về tài chính và về tất cả mọi thứ khỏi cha mẹ. Việc đánh giá một người dựa trên da cảnh dần trở nên lỗi thời và phiến diện vì chúng ta thật sự không muốn hạ thấp giá trị của ai đó chỉ đơn giản vì họ không có "đặc quyền" được lớn lên trong một gia đình "truyền thống". Và mình đồng ý rằng việc lớn lên trong một gia đình "tốt" hay "xấu" theo thước đo xã hội không thể phản ánh phẩm cách của một cá nhân. Vậy nhưng có một sự thật rằng, mối quan hệ của cha mẹ và đứa trẻ bên trong bạn quyết định một phần rất lớn để xu hướng tương tác xã hội của mỗi chúng ta. Và bạn nên nhớ, bởi chúng ta là những động vật xã hội, những mối quan hệ xã hội định hình một phần rất lớn nhân dạng của mỗi chúng ta. Một học thuyết rất phổ biến trong tâm lý học phát triển ở trẻ em và đã dần được mở rộng để ứng dụng vào tâm lý học xã hội - hành vi trong giao tiếp xã hội của người trưởng thành là học thuyết gắn kết được phát triển bởi hai nhà tâm lý học Mary Ainsworh và

37 | T r an g John Bowlby. Sự gắn kết được định nghĩa là một dạng thức gắn bó với người chăm sóc (thường là người mẹ, nhưng không phải lúc nào cũng là người mẹ) quyết định khả năng điều chỉnh cảm xúc của đứa trẻ được phát triển trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 4 tuổi (Mitchel và Ziegler, 2013). Nghiên cứu của Ainsworh và cộng sự (1972) cho các em bé 9 tháng tuổi bước vào một căn phòng với mẹ. Mẹ và bé sẽ chơi với nhau cho đến khi người làm thí nghiệm ra tín hiệu, mẹ sẽ rời khỏi phòng và để bé lại hoặc một mình, hoặc ở với người quan sát phản ứng của các em bé khi mẹ rời đi, Ainsworh tìm thấy bốn xu hướng hành vi phản ánh tính chất của mối quan hệ hay dạng thức gắn bó giữa mẹ và bé. Ở dạng thức thứ nhất mà dạng thức gắn bó an toàn (thường chiếm 50-64%, các bé trong thí nghiệm được thực hiện với các trẻ em phương Tây), em bé có xu hướng trở nên hoảng sợ và bật khóc khi mẹ biến mất, một phản ứng rất bình thường. Khi mẹ quay lại, em bé chào đón mẹ một cách vui vẻ và tiếp tục chơi đùa, khám phá cùng mẹ. Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là một phản ứng lành mạnh, thể hiện sự gắn bó cảm xúc khi trẻ tin tưởng mẹ và thoải mái khám phá với sự có mặt của mẹ. Điều này chứng tỏ trẻ có ý thức về nền móng vững chắc và cảm thấy yên tâm khi được bảo vệ bởi mẹ.

38 | T r an g Ở dạng thức thứ hai là dạng thức gắn bó lo âu (thường chiếm 10%), em bé cũng có phản ứng hoảng sợ và khóc khi mẹ biến mất. Tuy nhiên, khi mẹ trở lại phòng, em bé này ngừng khóc nhưng lại có thái độ kháng cự và lạnh lùng với mẹ, thể hiện sự giận dỗi và tổn thương. Phản ứng này là phản ánh sự thiếu niềm tin ở mẹ, nhạy cảm thái quá với sự biến mất của mẹ và việc không cảm thấy an toàn trong gắn bó cảm xúc với mẹ. Nguyên nhân của mùa gắn kết này được cho rằng, do mẹ thường có những phản ứng không đồng nhất với cảm xúc của trẻ, lúc nóng lúc lạnh, khiến trẻ bối rối và không biết phải phản ứng như thế nào để làm hài lòng mẹ, dẫn tới xu hướng rối loạn trong hành vi. Đây là một trong những dạng thức gắn bó không an toàn cùng với dạng thức gắn bó né tránh và dạng thức gắn bó rối loạn. Ở dạng thức thứ ba là dạng thức gắn bó né tránh (thường chiếm 15%), em bé có tương tác rất xa cách với mẹ ngay từ khi mẹ còn ở trong phòng. Em bé này cũng không có phản ứng hay thậm chí nhận thức được việc mẹ đã rời khỏi phòng. Đến khi mẹ quay lại, em bé cũng không có nhiều thay đổi trong hành vi. Nói cách khác, em bé này hoàn toàn lãnh cảm với sự tồn tại của mẹ. Nguyên nhân của dạng thức gắn kết này nằm ở chỗ từ ngay những tương tác hàng ngày giữa mẹ và bé đã không có sự gắn kết, mẹ thường

39 | T r an g sao lãng trẻ, dẫn đến việc sẽ không thể hình thành mối gắn kết cảm xúc lành mạnh với mẹ. Bé không có niềm tin cũng không có nhu cầu dựa dẫm vào sự hiện diện của mẹ. Ở dạng thức cuối cùng là dạng thức gắn bó rối loạn (thường chiếm 15%), xu hướng hành vi của em bé rất khó để đoán định. Khi mẹ rời đi, em bé này có thể giúp bạn thân bình tĩnh như dạng thức cần bò né tránh trong một khoảng thời gian ngắn rồi đột nhiên khóc lớn, rơi vào trạng thái hoảng sợ, loay hoay lo lắng. Khi mẹ quay lại, em bé tiếp cận mẹ như muốn được bồng lên nhưng khi người mẹ chuẩn bị bồng bé lên, em lại có thái độ lo lắng và kháng cự như dạng thức gắn bó lo âu. Woolf và Ijzemdoorn (1997) nhấn mạnh sự nhạy cảm trong quá trình tương tác giữa mẹ với bé trong giai đoạn trẻ hình thành gắn kết cảm xúc. Sự nhạy cảm này được thể hiện qua bốn yếu tố sau. Thứ nhất là khả năng mẹ đọc vị cảm xúc ở bé và cách mẹ phản ứng với các tín hiệu cảm xúc mà bé phát ra. Thứ hai là sự đồng nhất và liên tiếp trong việc mẹ trả lời bé. Thứ ba là số lượng và chất lượng của những cử chỉ thân mật mẹ dành cho bé. Cuối cùng là cách mẹ can thiệp vào các hành vi của bé có mang tính kiểm soát thái quá hay không. Anisfeld và các cộng sự (1990) chỉ ra rằng những trẻ em được mẹ bồng,nựng và ôm ấp vào lòng nhiều trong

40 | T r an g giai đoạn sơ sinh thường có khả năng hình thành xu hướng gắn kết an toàn cao hơn. Những em bé có dạng thức gắn bó an toàn thường sẽ tự tin hơn khi bước vào xã hội, việc kết bạn với các em cũng trở nên dễ dàng hơn. Điều này được lý giải do niềm tin ở gia đình đã được chuyển hóa vào các mối quan hệ xã hội. Các em cũng vâng lời và thân thiết với bố mẹ hơn, trải nghiệm nhiều cảm xúc tích cực hơn và có nhiều bạn bè hơn. Trẻ thuộc dạng thức gắn kết cảm xúc an toàn thường thấu hiểu cảm xúc và đồng cảm với người khác hơn. Ngược lại, những trẻ thuộc kiểu gắn bó không lành mạnh được nhập nhiều chướng ngại trong việc gắn kết cảm xúc với người tình và bạn đời khi trưởng thành (những trở ngại này sẽ được nhắc đến cụ thể hơn trong

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 14

Đang tải bình luận...