Harry Potter

chương cuối cùng

chương cuối cùng

chương cuối cùng mà ông biết chắc là bọn học trò chưa thể học tới. Ông nói tiếp: “Về người sói.” Hermione dường như không thể tự kiềm chế mình nữa, lên tiếng: “Nhưng thưa thầy, theo chương trình thì chúng con chưa học tới người sói đâu ạ, chúng con chỉ mới bắt đầu về Hinkypunk.” Bằng một giọng trầm chết người, thầy Snape bảo: “Trò Granger, tôi có cảm giác là tôi đang dạy lớp học này chứ không phải trò. Và tôi đang bảo tất cả các trò mở sách ra trang ba trăm chín mươi bốn.” Thầy đưa mắt nhìn quanh lớp, lặp lại: “Tất cả các trò! Mở sách ra ngay bây giờ!” Cả lớp bắt đầu mở sách ra trong tiếng càu nhàu rầu rĩ và

những cái liếc ngang cay đắng. Thầy Snape hỏi: “Ai trong các trò có thể nói cho tôi biết làm thế nào để phân biệt người sói với chó sói thật?” Mọi người ngồi im bất động; mọi người, ngoại trừ Hermione. Như mọi khi, tay cô bé giơ thẳng lên không trung. Nhưng thầy Snape không đếm xỉa gì tới Hermione. Nụ cười nham hiểm lại hiện ra trên gương mặt thầy: “Có ai nói được không? Chẳng lẽ các trò sẽ nói với tôi là giáo sư Lupin chưa từng dạy các trò sự khác biệt căn bản giữa…” Parvati đột ngột nói: “Tụi con đã nói với thầy rồi, là tụi con chưa học tới chương người sói, tụi con mới học tới…” Thầy Snape gầm lên: “Im lặng! Được, được, được thôi. Ta chưa bao giờ nghĩ là lại có chuyện một học sinh năm thứ ba mà lại không thể nhận ra người sói nếu vô tình gặp một con. Ta sẽ ghi nhận điều này để báo cáo với giáo sư Dumbledore biết tất cả các trò tụt hậu như thế nào…” Hermione nói, cánh tay vẫn còn giơ cao trên không trung: “Thưa thầy, người sói khác với chó sói thật ở nhiều điểm nhỏ. Cái mõm của người sói…” Thầy Snape nói giọng lạnh nhạt: “Đây là lần thứ hai trò phát biểu khi chưa được hỏi tới, trò Granger à. Trừ năm điểm nhà Gryffindor về cái vẻ ta-đây-biết-

hết không thể chịu đựng được đó.” Hermione đỏ bừng mặt, hạ tay xuống, đôi mắt ứa đầy lệ ngó đăm đăm xuống sàn nhà. Cả lớp nhìn thầy Snape trừng trừng: một dấu hiệu bọn học trò ghét thầy Snape đến hết cỡ, bởi vì ai trong lớp học này cũng từng ít nhứt một lần gọi Hermione là kẻ ta-đây-biết-hết, và Ron là đứa gọi Hermione là kẻ ta-đây-biết-hết ít nhứt hai lần một tuần. Ron nói lớn: “Thầy nêu ra một câu hỏi và bạn ấy biết câu trả lời! Thầy hỏi để làm gì nếu thầy không muốn được trả lời?” Cả lớp biết ngay là Ron đã đi quá đà. Thầy Snape từ từ tiến tới trước mặt Ron, mọi người trong phòng đều nín thở. Thầy Snape đưa mặt thầy sát mặt Ron, tuyên án êm ái một cách đe dọa: “Cấm túc, trò Weasley! Và nếu ta mà còn nghe trò phê bình cách dạy của ta nữa, thì trò sẽ phải thực sự hối hận đó.” Suốt buổi học còn lại, không ai dám gây ra một âm thanh gì khác nữa. Cả lũ ngồi im re ghi chép về người sói từ sách giáo khoa, trong khi thầy Snape lảng vảng đi lên đi xuống giữa các dãy bàn, kiểm tra bài tập bọn học trò đã làm với thầy Lupin. “Giải thích hết sức kém cỏi… cái này sai rồi, ma da Kappa thông thường được tìm thấy nhiều hơn ở Mông Cổ… Giáo sư cho bài này tám trên mười điểm à? Ta thì chỉ cho đến ba điểm là cùng…” Cuối cùng khi chuông reo, thầy Snape vẫn còn giữ chúng lại: “Các trò mỗi người viết một bài văn, nộp cho tôi, về những

cách thức mà trò nhận ra và tiêu diệt được người sói. Tôi yêu cầu bài văn đề tài này dài hai cuộn giấy da, và nộp cho tôi vào sáng thứ hai. Đã đến lúc phải có người chấn chỉnh lại lớp này. Trò Weasley ở lại, chúng ta cần sắp xếp hình phạt cấm túc cho trò.” Harry và Hermione cùng những học sinh khác ra khỏi phòng học. Tụi nó chờ đến khi đi đủ xa để khỏi bị thầy nghe mới bùng lên một trận đả kích thầy Snape kịch liệt. Harry nói với Hermione: “Thầy Snape chưa bao giờ xử sự như vầy đối với bất kỳ một giáo viên Phòng chống Nghệ thuật Hắc ám nào khác, cho dù ổng có muốn giành công việc này đi nữa. Tại sao ổng cứ chĩa mũi dùi vô thầy Lupin chứ? Bồ có cho là tất cả những chuyện này là chỉ tại cái vụ Ông Kẹ mà ra không?” Hermione trầm ngâm nghĩ ngợi: “Mình không biết. Nhưng mình thực tình mong cho giáo sư Lupin sớm bình phục…” Năm phút sau Ron chạy theo kịp hai bạn trong trạng thái tức giận tột cùng: “Mấy bồ có biết cái lão… (Nó gọi thầy Snape bằng một tiếng gì đó mà Hermione phải quát lên: Ron!) bắt mình làm không? Mình phải cọ rửa mấy cái bô tiêu tiểu trong bệnh thất. Mà không được dùng pháp thuật!” Ron hít sâu một hơi dài, hai bàn tay nắm chặt lại. “Ê, tại sao Sirius Black lại không thể trốn trong văn phòng lão Snape hả? Hắn có thể giúp tụi mình thanh toán lão cho

rồi!” Sáng hôm sau, Harry thức dậy rất sớm, sớm đến nỗi trời vẫn còn tối. Trong một thoáng nó nghĩ là tiếng gió hú đã đánh thức nó dậy, nhưng rồi nó cảm thấy một luồng gió lạnh ở sau gáy, nó ngồi bật dậy ngay. Con yêu Peeves đang lơ lửng cạnh Harry, thổi mạnh vô lỗ tai nó. Harry tức giận hỏi: “Làm thế để làm chi vậy?” Peeves phồng má, rồi thổi thiệt mạnh và vừa phóng lùi lại để ra khỏi phòng, vừa cười khúc khích. Harry sờ soạng cầm lấy cái đồng hồ báo thức và coi giờ. Chỉ mới bốn giờ rưỡi sáng. Vừa rủa xả Peeves, Harry vừa cuộn mình lại trong chăn cố gắng tìm lại giấc ngủ. Nhưng bây giờ nó thức rồi thì thật là khó mà không nghe tiếng sấm rền ầm ầm ngay trên đầu, tiếng gió giộng ình ình vào cửa sổ và vách tường của tòa lâu đài, và tiếng cây gãy ngã xa xa trong khu Rừng Cấm. Vài giờ nữa nó sẽ ra sân đấu Quidditch, vật lộn với cơn cuồng phong đó. Cuối cùng nó đành từ bỏ cái nỗ lực ngủ thêm một chút mà thức dậy, mặc quần áo, cầm cây chổi thần Nimbus 2000 và bước êm ru ra khỏi phòng ngủ. Khi Harry vừa mở cửa ra thì có vật gì đó cào vô chân nó. Harry cúi xuống vừa kịp lúc chụp được cái đuôi xù của con Crookshanks, kéo con mèo ra ngoài. Harry nói với con Crookshanks một cách ngờ vực: “Mày liệu hồn, tao cho là Ron nói đúng về mày đấy. Chung quanh đây thiếu gì chuột, đi mà bắt chúng đi. Đi đi.” Harry lấy chân đẩy nhẹ con Crookshanks xuống cầu thang

xoắn, nói thêm: “Hãy để cho con Scrabbers yên!” Trong phòng sinh hoạt chung, âm thanh cơn bão dội vào nghe càng to rõ hơn. Harry biết là đừng hòng trông mong gì cuộc đấu bị hủy bỏ. Những trận đấu Quidditch không đời nào bị hủy vì những lý do vớ vẩn như bão bùng sấm sét. Tuy vậy, Harry bắt đầu thấy sợ. Wood đã chỉ cho Harry thấy Cedric Diggory trong hành lang. Diggory là một học sinh năm thứ năm, to con hơn Harry rất nhiều. Thường thường Tầm thủ phải nhẹ nhàng nhanh nhẹn. Nhưng trong thời tiết như vầy thì trọng lượng của Diggory là một ưu thế, bởi vì nó sẽ ít có triển vọng bị cuồng phong thổi giạt ra khỏi trường đấu. Harry ngồi trước lò sưởi giết thì giờ chờ bình minh lên, thỉnh thoảng nó đứng dậy để ngăn con mèo Crookshanks lẻn lên cầu thang dẫn lên phòng ngủ của nam sinh. Cuối cùng, sau khi ngồi chờ dài cả người ra, Harry cho là có lẽ đã tới giờ ăn điểm tâm. Nó bèn một mình chui đầu qua cái lỗ chân dung để ra ngoài. Ngài Cadogan quát: “Hãy đứng lại và chiến đấu, hỡi con chó ghẻ kia!” Harry ngáp: “Thôi, dẹp đi.” Sau khi ăn xong một tô cháo, Harry sảng khoái tỉnh táo ra; và khi nó bắt đầu ăn tới món bánh mì nướng thì những người còn lại trong đội cũng xuất hiện. Wood không ăn uống gì cả, nói: “Trận đấu này sẽ vất vả đây.”

Alicia dịu dàng bảo: “Đừng lo lắng nữa, anh Oliver. Tụi em đâu có ngán một chút gió mưa.” Nhưng thời tiết hôm nay đáng bận tâm hơn một chút gió mưa. Quidditch được yêu thích đến nỗi cả trường vẫn kéo đi xem trận đấu như thường, cả bọn chạy xuống bãi cỏ về phía sân đấu Quidditch, đầu cúi xuống tránh ngọn gió cuồng nộ hung bạo, mấy cây dù bị gió quật vuột khỏi tay trên đường đến đấu trường. Ngay trước khi Harry bước vào phòng thay đồ, nó nhìn thấy Malfoy, Crabbe và Goyle đang cười cợt chỉ trỏ nó. Ba đứa đó che chung một cây dù khổng lồ trên đường đi ra sân đấu. Các cầu thủ của đội tuyển đã thay áo chùng tía và chờ đợi bài diễn văn thường lệ trước trận đấu của Wood, nhưng bài đít￾cua đó không hề được thốt ra. Wood cố gắng mở miệng nhiều lần, phát ra những tiếng nuốt nước miếng ực ực khó nghe, rồi lắc đầu một cách vô vọng, và rồi bảo các cầu thủ đi theo anh. Gió vẫn còn mạnh đến nỗi tụi nó bị thổi giạt vô lề, đi lảo đảo vô sân đấu. Nếu đám đông có hoan hô thì tụi nó cũng không nghe được gì ngoài tiếng một tràng sấm mới rền vang. Mưa làm nhòe cả tròng mắt kiếng của Harry. Làm cách nào mà nó có thể nhìn thấy trái banh Snitch trong mưa gió như vầy chứ? Đội tuyển của nhà Hufflepuff đang tiến ra từ phía đối diện của sân đấu, mặc áo chùng màu vàng hoàng yến. Hai đội trưởng tiến về phía nhau để bắt tay; Diggory mỉm cười với Wood, nhưng Wood bây giờ trông như thể đã bị khóa hàm

cứng họng rồi, chỉ gật đầu đáp lễ mà thôi. Harry nhìn thấy miệng bà Hooch ra dấu mấy tiếng này: “Trèo lên chổi!” Harry nhấc chân phải của nó ra khỏi lớp sình kêu một cái ọp rồi thót lên cán chổi thần Nimbus 2000. Bà Hooch đưa còi lên miệng và thổi mạnh một hơi, còi ré lên chói lói và vang xa…, các cầu thủ phóng vút lên không trung. Harry lên cao rất nhanh, nhưng chiếc Nimbus của nó hơi bị chao đảo vì gió. Nó cố hết sức nắm cán chổi thật chặt, xoay trở, nhìn xuyên thấu màn mưa. Trong vòng năm phút, Harry ướt như chuột lột và lạnh cóng, đến nhìn đồng đội còn không thấy nữa là, nói chi đến trái banh Snitch bé tí. Harry bay dọc bang ngang, bay lui bay tới trong không gian sân đấu, ngang qua những hình dạng màu vàng màu đỏ lờ mờ, mà không có được chút xíu ý niệm về những gì đang xảy ra trong trận đấu này. Nó không thể nghe được lời bình luận gió thổi bạt đi. Đám đông khán giả thì núp dưới một biển áo trùm và những tán dù tả tơi. Hai lần Harry suýt bị trái banh Bludger tống văng khỏi cán chổi, tầm nhìn của Harry bị mưa làm cho mờ mịt đến nỗi nó không thấy mấy trái Bludger bay đến gần. Nó cũng không còn ý niệm về thời gian nữa. Càng lúc càng khó nắm vững cán chổi thần của nó. Bầu trời trở nên u tối hơn, như thể bóng đêm quyết định phủ xuống thật sớm. Hai lần Harry suýt tông phải cầu thủ khác mà không biết đó là đồng đội hay đối thủ. Người nào bây giờ cũng ướt sũng, và mưa to đến nỗi Harry không thể nào phân biệt được ai với ai…

Cùng với một tia chớp nhá lên là tiếng còi bà Hooch ré lên. Harry chỉ có thể nhìn thấy bóng Wood trong màn mưa dày, đang ra dấu gọi nó xuống mặt đất. Cả đội đáp xuống làm văng tóe lên bùn sình. Wood rống lên cho cả đội nghe: “Anh xin tạm nghỉ hội ý. Tất cả lại đây, dưới này…” Cả đội chúm chụm lại bên rìa sân đấu, dưới một tán dù rộng, Harry gỡ kiếng ra chùi vội chùi vàng vào tấm áo chùng của nó. “Điểm số ra sao rồi?” Wood nói: “Chúng ta trên được năm chục điểm. Nhưng mà nếu chúng ta không sớm bắt được trái banh Snitch, thì chúng ta sẽ phải chơi tới khuya luôn.” Harry bực tức vẫy cặp kiếng của nó: “Với cặp kiếng này em không thể có một cơ hội nào hết.” Đúng ngay lúc đó, Hermione xuất hiện kề bên vai của Harry. Cô bé che tấm áo khoác bên trên đầu và mặt rạng rỡ một cách không thể hiểu được. “Harry, mình có một ý kiến! Đưa cặp kiếng của bồ đây, mau lên!” Harry đưa kiếng cho Hermione và, trước những đôi mắt ngạc nhiên của cả đội, Hermione gõ cây đũa phép lên cặp kiếng và hô: “Impervius!” *

Cô bé đưa trả kiếng cho Harry, nói: “Đây! Chúng sẽ gạt nước ra cho mà xem!” Trông Wood có vẻ như muốn hun chụt cô bé. Anh ta khàn khàn gọi với theo Hermione khi cô bé mất hút vào đám đông: “Xuất chúng! Được rồi, toàn đội, tiếp tục chiến đấu!” Bùa chú của Hermione quả là linh nghiệm. Harry vẫn còn tê cóng vì lạnh, vẫn ướt nhèm nhẹp hơn bao giờ hết, nhưng nó đã có thể nhìn thấy. Đầy tràn lòng quyết tâm mới, Harry thúc cây chổi thần của nó phóng xuyên qua không gian hỗn loạn bão tố, trợn mắt nhìn ngó mọi hướng để tìm trái banh Snitch, né tránh trái Bludger, chuồi xuống phía dưới Diggory khi anh chàng này lao về hướng ngược lại… Lại vang lên một chuỗi sấm rền nữa, theo sau đó là tia chớp hình chĩa ba. Trận đấu này càng lúc càng trở nên nguy hiểm. Harry phải mau chóng bắt cho được trái banh Snitch… Harry xoay cán chổi, định quay đầu lại hướng về phía trung tâm sân đấu, nhưng ngay lúc đó, một tia chớp nhá lên rọi sáng khán đài, và Harry nhìn thấy một cái gì đó làm cho nó hoàn toàn tản thần bạt hồn vía: bóng của một con chó đen lông xù bự chảng in rõ trên nền trời, bất động ở tuốt trên hàng ghế trống trên cao nhứt. Bàn tay tê cóng của Harry vuột khỏi cán chổi và chiếc Nimbus chúc xuống cả thước. Lắc đầu gạt đi mớ tóc trán ướt đẫm, Harry liếc nhìn lại khán đài. Con chó đã biến mất. Tiếng gào giận dữ của Wood vang lên từ cột gôn của đội Gryffindor:

“Harry! Harry! Ở đằng sau em đó!” Harry ngơ ngác nhìn quanh. Cedric Diggory đang phóng vọt lên sân đấu, một trái banh vàng nhỏ xíu đang sáng lấp lánh trong khoảng không đầy mưa gió giữa anh ta và Harry… Với một cái thót tim hoảng loạn, Harry ép sát mình vô cán chổi và lao về phía trái banh Snitch. Mưa quất vào mặt Harry khi nó gầm gừ với chiếc Nimbus 2000: “Cố lên! Nhanh hơn!” Nhưng có một cái gì đó bất thường xảy ra. Một sự im lặng kỳ quái vừa phủ chụp xuống vận động trường. Gió, dường như mạnh hơn bao giờ hết, cũng thôi gào thét. Làm như thể ai đó vừa vặn tắt âm thanh, như thể Harry bỗng nhiên điếc đặc… Cái gì đang xảy ra vậy? Và rồi một đợt sóng lạnh quen thuộc khủng khiếp tràn qua nó, thấu vào bên trong nó, ngay khi nó nhận ra cái gì đang chuyển động trên sân đấu bên dưới. Trước khi nó có thì giờ để suy nghĩ, Harry đã rời mắt khỏi trái banh Snitch để nhìn xuống. Ít nhứt một trăm viên giám ngục Azkaban đang đứng phía dưới, bộ mặt dấu kín của họ đều hướng lên nhắm vào Harry. Như thể nước băng đang dâng ngập trong lồng ngực Harry, cắt nội tạng nó thành từng lát. Và rồi nó lại nghe thấy lần nữa điều đó… tiếng ai đó đang gào thét, gào thét bên trong đầu Harry… tiếng một người đàn bà… “Đừng giết Harry! Đừng giết Harry! Xin đừng giết Harry!”

“Tránh ra, con ả ngốc tránh ra ngay.” “Đừng giết Harry! Xin làm ơn giết tôi đi, tôi xin thế mạng.” Sương mù trắng xóa, xoáy tít và lạnh cóng đang tràn ngập đầu Harry. Nó đang làm gì đây? Tại sao nó bay? Nó cần giúp đỡ người đàn bà đó… bà sắp chết… bà sắp bị giết… Harry té nhào xuống, nhào xuống xuyên qua màn sương mù băng giá. “Đừng giết Harry! Làm ơn rủ lòng từ bi, xin mở lòng từ bi.” Một giọng cười vang lên chói lói, tiếng người đàn bà gào thét, và Harry không còn biết gì nữa. “May mà mặt đất rất êm.” “Tôi tưởng nó chết là cái chắc.” “Vậy mà đến mắt kiếng của nó cũng không bị gãy.” Harry có thể nghe được những giọng nói thì thầm, nhưng chẳng thể hiểu được gì cả. Nó không có một chút manh mối gì về việc nó đang ở đâu, hay làm cách nào mà nó đến được nơi đó, hay nó đã làm gì trước khi nó đến đó. Tất cả những gì nó biết được là mỗi chút mỗi phân của cơ thể nó đều đang đau đớn như thể bị dần nhừ. “Đó là cảnh tượng dễ sợ nhứt mà tôi từng nhìn thấy trong đời.” Dễ sợ nhứt… Cảnh tượng dễ sợ nhứt… những hình bóng đen hù trùm nón… lạnh buốt… tiếng gào thét… Mắt Harry chợt mở ra. Nó đang nằm trong bệnh thất. Các

cầu thủ đội Quidditch của nhà Gryffindor lấm lem bùn sình từ đầu đến chân đang xúm xít quanh giường của Harry. Ron và Hermione cũng có mặt ở đó, trông ướt lướt thướt như vừa mới ra khỏi hồ bơi. “Harry! Em thấy sao rồi?” Đó là tiếng reo của Fred, anh chàng có vẻ cực kỳ trắng xác dưới lớp sình đen. Trí nhớ của Harry dường như được phục hồi nhanh chóng. Tia chớp… Hung tinh… trái banh Snitch… và những viên giám ngục Azkaban… Harry hỏi: “Chuyện gì đã xảy ra vậy?” Nó bật ngồi dậy đột ngột đến nỗi mọi người há hốc mồm ra. Fred nói: “Em té xuống từ… để coi… ắt phải từ độ cao mười sáu thước.” Alicia vẫn còn run: “Tụi này tưởng bạn chết rồi.” Hermione thốt ra một tiếng thút thít nho nhỏ, hai mắt cô bé đỏ ngầu. Harry hỏi: “Nhưng còn trận đấu. Chuyện gì đã xảy ra? Chúng ta có đấu lại không?” Không ai nói gì cả. Sự thật khủng khiếp chìm sâu trong Harry như một hòn đá chìm xuống đáy ao.

“Chúng ta đâu có… thua hả?” George nói: “Diggory bắt được trái banh Snitch. Ngay sau khi em té xuống. Lúc đó anh ta không nhận thấy điều gì đang xảy ra. Khi anh ta nhìn lại và thấy em nằm trên mặt đất, ảnh tìm cách hủy bỏ kết quả. Ảnh muốn thi đấu lại. Nhưng họ đã chiến thắng một cách sòng phẳng trung thực… Ngay cả anh Wood cũng phải công nhận.” Harry bỗng nhận ra Wood không có mặt ở trong đám người đứng chung. “Anh Wood đâu rồi?” Fred đáp: “Ảnh còn ở trong buồng tắm. Coi bộ ảnh muốn tự dìm mình cho chết đuối luôn.” Harry gục mặt vào đầu gối của nó, hai bàn tay nó ghị chặt mớ tóc rối. Fred ôm vai nó lay một cách thô bạo: “Không sao đâu, Harry, trước đây em chưa bao giờ bỏ lỡ một trái banh Snitch nào mà.” Geroge nói: “Phải có một lần em bắt hụt nó chứ!” Fred lại nói: “Cũng chưa kết thúc hẳn. Chúng ta chỉ thua một trăm điểm, đúng không? Cho nên nếu Hufflepuff thua Ravenclaw, và chúng ta thắng Ravenclaw và Slytherin…” George nói:

“Hufflepuff sẽ phải thua ít nhứt hai trăm điểm.” “Nhưng nếu họ đánh bại Ravenclaw…” “Không đời nào. Ravenclaw giỏi lắm. Nhưng nếu Slytherin thua Hufflepuff…” “Tất cả tùy thuộc vào điểm số mà thôi… đằng nào cũng cách biệt nhau một trăm điểm…” Harry nằm đó, không nói một lời. Tụi nó đã thua… lần đầu tiên, kể từ khi Harry tham gia đội bóng, nó đã thua một trận đấu Quidditch. Mười phút sau hay khoảng đó, bà Pomfrey đến bảo đội banh ra ngoài để cho Harry được yên tịnh. Fred nói: “Lát nữa tụi này sẽ lại thăm em. Đừng tự dằn vặt mình, Harry à. Em vẫn là Tầm thủ giỏi nhứt mà đội mình từng có từ trước tới nay.” Đội bóng kéo nhau đi ra ngoài, để lại dấu sình đằng sau. Bà Pomfrey đóng cánh cửa sau lưng chúng, vẻ mặt không hài lòng chút nào. Ron và Hermione đi tới gần giường Harry. Hermione nói giọng run rẩy: “Thầy Dumbledore giận hết sức. Mình chưa từng thấy thầy giận như thế bao giờ. Thầy chạy vô sân đấu khi bồ té ngã, thầy giơ đũa phép lên nên bồ chỉ đáp là đà xuống khi chạm mặt đất. Sau đó thầy quay đầu đũa phép chĩa vào những viên giám ngục Azkaban, bắn vô họ cái gì đó trắng lóa như bạc. Họ rời khỏi sân vận động ngay… Thầy rất giận chuyện họ vượt vô sân trường, tụi mình từng nghe thầy nói…” Ron tiếp lời:

“Thầy Dumbledore làm bùa phép đặt bồ lên một cái băng ca rồi đi về trường với cái băng ca đó lơ lửng bay theo thầy. Ai cũng tưởng bồ đã…” Giọng Ron nhỏ đi, bỏ lửng câu nói, nhưng Harry không để ý. Nó đang mải suy nghĩ về điều mà những viên giám ngục Azkaban đã làm đối với nó… về tiếng gào thét. Nó ngước lên thấy Ron và Hermione nhìn nó lo lắng đến nỗi nó phải nhìn quanh tìm một đề tài cụ thể nào đó để nói: “Có ai lượm lại chiếc Nimbus của mình không?” Ron và Hermione liếc nhau một cái thật nhanh. “Ơ…” Harry hết nhìn đứa này tới đứa khác: “Chuyện gì?” Hermione ngập ngừng nói: “Ờ… khi bồ té xuống, chiếc Nimbus bay đi.” “Rồi sao?” “Và nó đụng… nó tông vô… Ôi, Harry ơi… nó tông vô cây Liễu Roi.” Ruột gan Harry cồn cào. Cây Liễu Roi là một cổ thụ hung bạo vô cùng, đứng chơ vơ một mình giữa sân trường. “Rồi sao?” Nó hỏi mà sợ điếng người cái câu trả lời. Ron nói: “Ờ, bồ biết cây Liễu Roi mà… Nó… Nó đâu có ưa bị tông!”

Hermione nói giọng lí nhí: “Giáo sư Flitwick vừa thu gom cây chổi về trước khi bồ tỉnh dậy.” Một cách chậm rãi, cô bé cầm lấy một cái túi xách đặt cạnh chân, trút hết bên trong ra hàng tá que gỗ vụn với những cành nhánh con con trên giường. Đó là những gì còn lại của cây chổi thần trung thành của Harry giờ rốt cuộc đã bị hạ gục.

B 10 BẢN ĐỒ CỦA ĐẠO TẶC à Pomfrey khăng khăng bảo là Harry phải nghỉ ngơi trong bệnh thất cho đến hết cuối tuần. Harry không phàn nàn hay tranh cãi gì, nhưng nó nhứt định không chịu để cho bà Pomfrey quẳng đi mớ tàn tích của chiếc Nimbus 2000. Nó biết nó làm vậy là ngu ngốc, biết là không trông mong gì sửa chữa vá víu gì được chiếc Nimbus 2000 nữa, nhưng nó vẫn không thể không giữ những tàn tích đó lại; nó có cảm giác như nó vừa mất người bạn thân thiết nhứt. Khách khứa đến thăm Harry nườm nượp, ai cũng cố làm cho nó phấn khởi lên. Lão Hagrid gởi tặng nó một bó bông sâu tai giống như những cái bắp cải vàng khè. Và Ginny, đỏ mặt thẹn thùng, đến thăm với một tấm thiệp chúc “mau bình phục” mà cô bé tự làm lấy. Tấm thiệp ấy cứ hát lên eo éo trừ khi Harry nhét dưới tô trái cây. Đội Gryffindor trở lại thăm Harry vào sáng chủ nhật, lần này có Wood đi cùng. Wood nói với Harry bằng một giọng trống rỗng ơ hờ rằng anh không hề chê trách Harry một mảy may nào hết. Ron và Hermione chỉ rời khỏi giường của Harry vào ban đêm. Nhưng không có bất cứ

ai nói hay làm điều gì có thể khiến cho Harry cảm thấy khá lên được, bởi vì họ chỉ biết một nửa cái điều đã làm nó điêu đứng. Nó không nói cho ai nghe về Hung tinh, ngay cả Ron và Hermione, bởi vì nếu biết thì Ron sẽ sợ phát điên lên, còn Hermione thì sẽ chế giễu. Tuy nhiên, thực tế tồn tại là Hung tinh xuất hiện hai lần, và cả hai lần xuất hiện đó đều kèm theo những tai nạn suýt chết; lần đầu, Harry suýt bị chiếc xe đò Hiệp sĩ cán ngang; lần thứ hai, nó té từ trên cây chổi xuống từ độ cao mười sáu thước. Liệu Hung tinh có theo ám nó cho đến khi nó thực sự chết mới thôi? Chẳng lẽ nó cứ sống cho đến hết đời trong nỗi lo ngay ngáy về con ác thú đó? Và còn những viên giám ngục Azkaban nữa. Cứ mỗi lần nghĩ đến họ là Harry thấy xấu hổ và muốn bệnh. Mọi người đều nói những viên giám ngục Azkaban thật kinh dị, nhưng đâu có ai té nhào mỗi khi đến gần một viên giám ngục… cũng đâu có ai nghe vọng âm trong đầu mình tiếng cha mẹ mình đang hấp hối. Bởi vì giờ đây Harry đã biết tiếng gào thét mà nó nghe trong đầu là tiếng của ai. Nó đã nghe đi nghe lại những lời ấy, những lời của người đàn bà ấy, trong suốt những đêm nó nằm trong bệnh thất, thao thức nhìn những vệt trăng hắt bóng lên trần nhà. Khi những viên giám ngục Azkaban đến gần Harry, nó đã nghe những giây phút cuối cùng của má nó, sự cố gắng của bà để bảo vệ nó, Harry, khỏi bàn tay của Trùm Hắc ám Voldemort, và tiếng cười của Trùm Hắc ám Voldemort trước khi hạ sát bà… Harry ngủ lơ mơ chập chờn, chìm vào những giấc mơ đầy những bàn tay thối rữa nhớp nháp và sự van lạy như tế sao, để rồi vùng thức dậy và lại quay quắt với tiếng gào

thét van xin của người mẹ. Đến ngày thứ hai, Harry đã nguôi ngoai nỗi buồn trong tim khi trở về với sự ồn ào và rộn ràng của ngôi trường, nơi mà khiến cái đầu nó phải nghĩ đến những thứ khác, cho dù có phải chịu đựng sự châm chọc của Malfoy. Chiến bại của Gryffindor làm cho Malfoy vui mừng hí hửng ra mặt. Nó cởi bỏ băng quấn tay, ăn mừng việc được sử dụng cả hai tay bằng cách nhái một cách sinh động cuộc ngã chổi của Harry. Malfoy dành hầu hết thì giờ của buổi học Độc Dược tiếp theo bắt chước những viên giám ngục Azkaban đi ngang đi dọc khắp căn hầm; cuối cùng, quá sức chịu đựng, Ron liệng một trái tim cá sấu nhớt nhợt to tướng vào Malfoy, trúng ngay giữa mặt nó, khiến cho giáo sư Snape trừ mất năm chục điểm của nhà Gryffindor. Khi đi đến lớp học Phòng chống Nghệ thuật Hắc ám sau bữa ăn trưa, Ron nói: “Nếu thầy Snape lại dạy lớp Phòng chống Nghệ thuật Hắc ám nữa thì mình sẽ nghỉ bệnh cho coi. Hermione, bồ ngó thử xem ai ở trỏng?” Hermione đi tới cửa lớp, nhìn vào: “Tốt rồi!” Giáo sư Lupin đã trở lại bục giảng. Nhìn cũng thấy rõ thầy Lupin đã bị bệnh nặng. Tấm áo chùng cũ kỹ của thầy rõ ràng trở nên rộng hơn, khoác lỏng khỏng trên thân hình thầy, và dưới mắt thầy là những quầng thâm đậm. Tuy vậy, thầy vẫn mỉm cười với cả lớp khi bọn học trò vô lớp ngồi xuống. Bọn chúng lập tức bùng ra một trận tố khổ về cách đối xử của thầy

Snape khi dạy thế thầy Lupin bị bệnh. “Không công bằng gì hết, chỉ dạy thế tạm thôi mà sao thầy Snape lại bắt tụi con làm bài tập nộp cho thầy ấy?” “Tụi con đâu có biết gì về người sói đâu?” “Dài tới hai cuộn giấy da lận!” Thầy Lupin hơi nghiêm lại, hỏi: “Các con có nói với thầy Snape là các con chưa học tới chương đó không?” Trận bép xép lại rộ lên nhặng xị: “Có chứ, nhưng mà thầy Snape nói tụi con tụt hậu…” “… thầy ấy chẳng thèm nghe…” “… những hai cuộn giấy da!” Giáo sư Lupin mỉm cười trước vẻ phẫn nộ trên gương mặt của lũ học trò. “Các con đừng lo lắng quá. Thầy sẽ nói chuyện với giáo sư Snape. Các con khỏi phải viết bài luận.” “Ôi! Khỏi ư?” Tiếng kêu đầy thất vọng đó là của Hermione. Cô bé nói: “Nhưng con đã làm xong hết rồi!” Hôm đó tụi nó lại được một buổi học thú vị. Giáo sư Lupin mang theo một cái bồn kiếng đựng con Hinkypunk, một sinh vật nhỏ xíu có một chân luôn làm ra vẻ như mình được chế tạo bằng những lọn khói, chứ không chỉ mong manh và vô hại. Giáo sư Lupin giảng giải trong khi lũ học trò hí hoáy ghi

chép: “Nọ dụ dỗ lữ khách vô đầm lầy. Các con có để ý cái lồng đèn đung đưa trong tay nó không? Nó nhảy tới - người ta đi theo ánh đèn - và rồi…” Con Hinkypunk ré lên một tiếng kinh dị dội vào lớp kiếng chắn bồn để đáp lời thầy Lupin. Khi chuông reo hết tiết, mọi người lo thu dọn đồ đạc của mình rồi kéo nhau ra cửa, Harry cũng vậy, chen lẫn trong đám bạn, nhưng giáo sư Lupin gọi: “Chờ thầy một chút Harry, thầy có điều muốn nói với con.” Harry quay trở lui, nhìn giáo sư đang dùng một tấm vải trùm cái bồn kiếng đựng con Hinkypunk lại. Xong, thầy trở lại bàn giấy, bắt đầu chất cuốn sách vô cái cặp của mình: “Thầy có nghe nói về trận đấu và rất tiếc cây chổi thần của con. Có thể còn sửa chữa nó lại được không?” Harry đáp: “Dạ, không ạ. Cây Liễu Roi đã đánh nó tan thành trăm mảnh vụn rồi.” Thầy Lupin thở dài: “Người ta trồng cây Liễu Roi đó vào đúng cái năm mà thầy đến học ở trường Hogwarts này. Hồi đó học trò thường chơi đùa dưới tán cây, thậm chí còn thử đến gần chạm vào thân nó nữa. Nhưng mà rốt cuộc khi có một thằng nhóc tên là Davey Gudgeon, suýt chột mắt vì giỡn mặt với cây, thì bọn thầy bị cấm đến gần cây đó. Chổi thần cũng không được nương nhẹ

hơn là bao.” Harry khó khăn lắm mới mở được lời: “Thưa thầy, thầy có nghe nói về những viên giám ngục Azkaban không ạ?” Thầy Lupin ngó nhanh Harry một cái. “Có, thầy có nghe nói. Thầy tin là chưa hề có ai trong chúng ta từng thấy cụ Dumbledore nổi giận đến như vậy. Đôi khi những viên giám ngục Azkaban đó phát sốt ruột… chúng nổi giận vì bị từ chối cho vô sân trường… Thầy đoán rằng họ là nguyên nhân khiến con té ngã?” “Dạ.” Harry đáp. Nó ngập ngừng, rồi cái câu hỏi mà nó phải hỏi tự nhiên vuột ra khỏi miệng trước khi nó có thể tự mình kềm chế được. “Thưa thầy tại sao như vậy? Tại sao họ có thể ảnh hưởng đến con như vậy? Chẳng lẽ con…” Thầy Lupin nói ngay, như thể thầy đọc được ý nghĩ trong đầu Harry: “Chuyện đó không liên quan gì tới sự yếu đuối cả. Những viên giám ngục Azkaban ảnh hưởng đến con tồi tệ hơn đối với những người khác là vì con có những nỗi kinh hoàng trong quá khứ mà những người khác không có.” Một tia nắng mùa đông xuyên qua phòng học, rọi sáng mái tóc muối tiêu trên đầu thầy Lupin và những đường nét vẫn còn trẻ trên gương mặt thầy.

“Giám ngục Azkaban thuộc về những sinh vật ghê tởm nhứt có mặt trên thế gian này. Chúng tràn vào những nơi bẩn thỉu nhứt, tăm tối nhứt, chúng vinh danh sự thối rữa và nỗi tuyệt vọng, chúng rút cạn sự yên lành, niềm hy vọng và hạnh phúc trong không khí chung quanh. Ngay cả dân Muggle cũng cảm thấy sự hiện hữu của chúng, mặc dù họ không thể nhìn thấy chúng. Người nào quá gần gũi với những viên giám ngục Azkaban thì mọi cảm xúc tốt đẹp, mọi ký ức vui vẻ đều sẽ bị chúng hút kiệt khỏi con người đó. Nếu có thể, những viên giám ngục Azkaban sẽ gặm nhấm kẻ đó cho đến khi chúng thu tóm kẻ đó và biến kẻ đó thành một thứ tương tự như chúng - vô hồn và ác độc. Trong lòng kẻ đó sẽ không còn gì khác hơn là những gì trải qua tồi tệ nhứt trong đời. Và Harry à, điều tồi tệ nhứt đã từng xảy ra cho con đã ám ảnh con khiến con té khỏi cây chổi thần. Con không việc gì phải xấu hổ về chuyện đó…” Harry nhìn đăm đăm cái bàn giấy của giáo sư Lupin, cổ họng nó khô ran cứng đờ: “Khi chúng đến gần con… con nghe Voldemort giết mẹ con.” Thầy Lupin làm một động tác bất chợt như thể ông muốn đưa tay ôm lấy Harry, nắm chặt vai nó vỗ về, nhưng nghĩ lại không nên. Hai thầy trò yên lặng một lát, rồi Harry cay đắng nói: “Tại sao chúng lại kéo đến sân thi đấu chứ?” Thầy Lupin đóng cặp lại, bình thản nói: “Chúng đang trở nên háu đói. Cụ Dumbledore không cho

chúng vô trường nên nguồn cung cấp nạn nhân người của chúng đang trở nên cạn dần… Thầy cho là chúng không thể kháng cự được sức hút của đám đông lớn tụ tập ở sân đấu Quidditch. Tất cả sự khích động đó… những cảm xúc dâng cao ngất đó… chính là ý tưởng một bữa tiệc dành cho chúng.” Harry lẩm bẩm: “Ngục Azkaban ắt là kinh khủng lắm.” Thầy Lupin gật đầu ngay. “Pháo đài đó được xây trên một hòn đảo nhỏ ở ngoài khơi giữa biển cả, nhưng thực ra họ cũng không cần đến tường cao hay nước sâu để giam giữ tù nhân. Không cần, một khi những tù nhân đều đã bị mắc bẫy ở ngay trong chính đầu óc của họ, không còn khả năng nghĩ đến một ý tưởng vui tươi phấn khởi nào hết. Chỉ trong vòng vài tuần, hầu hết những tù nhân này đều hóa điên.” Harry chậm rãi nói từng tiếng: “Nhưng Sirius Black thoát được chúng. Hắn đã đào thoát…” Cái cặp của thầy Lupin trượt khỏi bàn giấy, thầy phải vội vàng cúi người xuống để chụp lại nó. Thầy nói khi đã đứng thẳng lại: “Ừ, chắc là Black đã tìm được cách nào đó chống đỡ bọn giám ngục Azkaban. Thầy không thể tin là điều đó lại có thể… Những viên giám ngục Azkaban thế nào cũng rút cạn sức mạnh của một phù thủy một khi đã bị chúng cận kề kềm cặp quá lâu…”

Bỗng nhiên Harry hỏi: “Chính thầy đã buộc viên giám ngục Azkaban trên xe lửa phải thối lui, phải không thầy?” Giáo sư Lupin nói: “Có những… cách tự vệ nhứt định mà người ta có thể dùng. Nhưng mà lúc đó chỉ có một viên giám ngục trên xe lửa. Chúng càng đông thì càng khó khăn hơn trong việc xua đuổi chúng.” Harry hỏi ngay: “Cách tự vệ như thế nào, thầy dạy con được không ạ?” “Thầy không muốn làm ra vẻ là chuyên gia chống viên giám ngục, Harry à… ngược lại…” “Nhưng nếu mấy viên giám ngục lại kéo tới một trận đấu Quidditch khác nữa thì con cần có khả năng chống đỡ bọn chúng…” Thầy Lupin nhìn vào gương mặt lộ rõ quyết tâm của Harry, thầy ngập ngừng một thoáng rồi nói: “Thôi… được. Thầy sẽ cố gắng giúp con. Nhưng mà thầy e là phải đợi qua học kỳ tới. Thầy có nhiều chuyện phải làm trước kỳ lễ. Nhè đúng lúc bất tiện nhứt mà thầy lại ngã bệnh.” Tinh thần Harry phấn chấn lên thấy rõ nhờ lời hứa hẹn của thầy Lupin sẽ dạy nó cách chống đỡ bọn giám ngục Azkaban, việc này khiến nó tin là nó sẽ không còn phải nghe lại cái chết của má nó nữa; mặt khác, tinh thần nó còn phấn chấn nhờ vào kết quả trận đấu Quidditch vào cuối tháng mười một: đội

Ravenclaw đã đè bẹp đội Hufflepuff. Vậy là nhà Gryffindor không đến nỗi mất hết hy vọng, mặc dù tình thế của họ hiện nay là không thể để thua thêm một trận nào nữa. Wood đã lấy lại được sinh lực điên cuồng của anh và bắt đội nhà Gryffindor luyện tập đến khốn đốn như xưa nay ngay cả trong những cơn mưa mù mịt lạnh cóng lì lợm kéo dài đến tận tháng mười hai. Harry cũng nhận thấy không còn dấu hiệu gì của bọn giám ngục Azkaban trong sân trường nữa. Cơn giận của thầy Dumbledore dường như đã tống chúng trở lại trạm gác của chúng ở lối ra vào trường. Hai tuần lễ trước khi học kỳ kết thúc, bầu trời bỗng nhiên sáng lên một màu trắng sữa lóa cả mắt, và khoảng sân lầy lội một buổi sáng nọ hiện ra với lớp sương giá lóng lánh phủ kín. Bên trong tòa lâu đài không khí mừng đón Giáng sinh đã khá chộn rộn. Giáo sư Flitwick, thầy giáo dạy môn Bùa chú, đã trang trí xong lớp học của ông với những bóng đèn lung linh nhấp nháy có thể hóa ra những nàng tiên thật sự bay chấp chới. Tất cả lũ học trò đều hớn hở bàn tính kế hoạch nghỉ lễ của chúng. Cả Ron và Hermione đều quyết định ở lại trường Hogwarts, và mặc dù Ron nói là quyết định ở lại trường của nó là do nó không thể nào chịu nổi Percy đến hai tuần lễ, và Hermione thì nhấn mạnh là cô bé ở lại trường vì cần phải vào thư viện trường nghiên cứu; nhưng những điều đó khó mà lừa được Harry, nó biết tỏng là hai người đó ở lại trường là để cho mình có bạn, cho nên Harry cảm động và biết ơn lắm. Vào cuối tuần của tuần lễ cuối học kỳ, mọi người lại được dịp vui sướng, ngoại trừ Harry, vì có một chuyến đi chơi ở làng Hogsmeade nữa. Hermione reo:

“Tụi mình có thể mua sắm tất cả quà Giáng sinh ở đó! Ba má mình sẽ rất thích mấy món kẹo Dây-xỉa-răng-vị-bạc-hà của tiệm Công tước Mật!” Cam chịu cái thực tế nó lại là đứa học sinh duy nhứt của năm thứ ba bị ở lại trường một lần nữa khi mọi người đều được đi Hogsmeade chơi, Harry mượn của Wood một cuốn sách tựa là Chọn Chổi Thần, quyết định dành trọn ngày để đọc cho hết về sự khác nhau giữa các nhãn hiệu chổi thần. Trong những buổi luyện tập với đồng đội hôm nay, Harry xài đỡ cây chổi thần của trường, một cây Sao Xẹt cổ lỗ sĩ, vừa chậm rề rề vừa ưa cà giựt. Harry đương nhiên là đang rất cần có một cây chổi thần mới cho riêng mình. Vào buổi sáng thứ bảy đi thăm làng Hogsmeade, Ron và Hermione tạm biệt Harry xong, quấn mình trong lớp áo trùm kín người và quàng khăn quanh cổ mà ra đi. Harry quay trở lại một mình trèo lên cầu thang cẩm thạch, hướng trở về tháp Gryffindor. Tuyết đã bắt đầu rơi bên ngoài cửa sổ, và lâu đài hết sức yên tĩnh vắng lặng. “Harry! Suỵt!” Đang đi qua được nửa hành lang ở tầng lầu ba, Harry nghe tiếng kêu, quay đầu lại, thấy Fred và George đang thò đầu ra gọi nó từ sau bức tượng của mụ phù thủy một mắt gù lưng. Harry tò mò: “Mấy anh làm gì ở đây? Bộ mấy anh không đi thăm làng Hogsmeade sao?” Fred nói với một cái nháy mắt bí hiểm:

“Tụi anh tới đây để lên dây cót tinh thần cho em một tý trước khi tụi anh đi. Vô đây…” Fred gật đầu ra dấu bảo Harry đi về phía một phòng học trống ở bên trái của bức tượng gù một mắt. Harry đi theo Fred và George vào bên trong. George nhẹ nhàng đóng cửa lại rồi quay ra nhìn Harry tươi cười rạng rỡ. Nó nói: “Một món quà Giáng sinh sớm dành cho em đây nè Harry!” Fred rút cái gì đó ra từ dưới tấm áo trùm của nó với điệu bộ rất ư màu mè. Nó đặt cái đó lên bàn. Đó chỉ là một miếng giấy da lớn, vuông vức và nhàu nát, và tuyệt không có chữ nào trong đó cả. Harry ngờ vực ngó tấm giấy da, cảnh giác là Fred và George đang chơi mình một vố gì đây. “Cái đó là cái gì vậy?” George vỗ nhè nhẹ lên tấm giấy da một cách trìu mến: “Harry à, cái này là bí quyết thành công của tụi anh đây.” Fred nói: “Đem cho em thì tụi anh cũng xót ruột lắm. Nhưng mà tụi anh đã quyết định vào tối hôm qua là em cần nó hơn tụi anh.” George nói thêm: “Với lại, tụi anh đã thuộc nó nằm lòng rồi. Nay tụi anh truyền nó lại cho em. Tụi anh không còn cần đến nó nữa.” Harry thắc mắc: “Nhưng mà em cần một miếng giấy da cũ xì để làm gì cơ chứ?” “Một miếng giấy da cũ xì!”

Fred thốt kêu, nhắm mắt lại với một vẻ mặt đau đớn như thể Harry vừa xúc phạm nó một cách ghê gớm cực kỳ. Nó bảo: “George, giải thích đi!” “Ờ… Hồi tụi anh mới vô năm thứ nhứt đó, Harry - cũng trẻ dại, vô tư lự, ngây thơ…” Harry cười khịch khịch. Nó nghi Fred và George chưa từng ngây thơ ngày nào trong đời. “Ý là ngây thơ hơn bây giờ - Tụi anh bị rắc rối với thầy Filch.” “… Tụi anh cho nổ một trái Bom-phân trong hành lang và vì một lý lẽ gì đó mà chuyện này khiến ổng vô cùng tức giận…” “Thành ra ổng tóm cả hai anh lên văn phòng của ổng và hù dọa tụi anh bằng mấy ngón nghề thông thường của ổng như…” “… cấm túc…” “… mổ bụng…” “… và tụi anh không thể nào không nhận thấy có một cái ngăn kéo của một trong mấy cái tủ đựng hồ sơ của ổng được đánh dấu Bị tịch thu và Rất nguy hiểm.” Harry bắt đầu nhe răng cười: “Mấy anh đừng nói với em là…” Fred nói: “Ừ, nếu là em thì em làm gì? George đánh lạc hướng thầy Filch bằng cách làm rớt một trái Bom-phân khác, còn anh thì

hé cái ngăn kéo ra và tóm được cái này.” George nói: “Em biết đó, cũng đâu đến nỗi tệ tới vậy. Tụi anh đoán thầy Filch không đời nào khám phá được cách xài cái này. Tuy nhiên, có lẽ ổng cũng nghi ngờ nó là cái gì đó hữu ích, chứ nếu không thì đời nào ổng lại tịch thu.” “Và mấy anh biết cách xài nó à?” Fred cười hinh hích: “Ôi, biết chứ. Cái vật xinh xinh nho nhỏ này đã dạy cho tụi anh nhiều hơn tất cả những ông thầy bà cô ở trường này đó.” Harry ngó cái miếng giấy da cũ xì nhàu nát, nói: “Mấy anh làm em hồi hộp quá.” George kêu: “Ủa, vậy sao?” Nó rút cây đũa phép ra, chạm nhẹ miếng giấy da và đọc thần chú: “Tôi trang trọng thề rằng tôi là đồ vô tích sự.” Lập tức những đường kẻ bằng mực bắt đầu hiện rõ và lan ra dần dần như một mạng nhện từ cái điểm mà George chạm đầu đũa phép vào. Những đường kẻ này nối kết với nhau, cắt lẫn nhau, và xòe ra như nan quạt ở mỗi góc của tấm giấy da; và rồi chữ bắt đầu nở ra như hoa vắt ngang phía trên tấm giấy da; mấy chữ màu xanh lá cây to tướng cong quèo tuyên bố rằng: Quý ông Mơ Mộng Ngớ Ngẩn, Đuôi Trùn, Chân Nhồi Bông và Gạc Nai

Công ty cung cấp trợ thiết bị cho những kẻ phá phách pháp thuật Hân hạnh trình bày BẢN ĐỒ CỦA ĐẠO TẶC Đó là một tấm bản đồ chỉ ra mọi ngóc ngách của lâu đài Hogwarts và sân bãi quanh trường. Nhưng điều thực sự đáng chú ý là những chấm mực nhỏ xíu di chuyển loanh quanh trong bản đồ, mỗi chấm đều mang một cái nhãn tên viết bằng nét chữ li ti. Kinh ngạc quá, Harry cúi xuống nhìn mấy cái chấm đó. Một cái chấm đeo nhãn tên ở góc trái trên cùng cho thấy cụ Dumbledore đang đi qua đi lại trong phòng Hiệu trưởng; một chấm khác cho thấy Bà Norris - con mèo của thầy giám thị Filch - đang rình mò ở tầng lầu hai, và ở trong phòng truyền thống, con yêu siêu quậy Peeves đang vút qua vút lại. Và khi Harry đưa mắt dò lên rà xuống những hành lang quen thuộc thì nó nhận ra một điều: Cái bản đồ này phơi bày ra một hệ thống lối đi mà nó chưa bao giờ đặt chân tới. Mà nhiều hành lang đó dường như dẫn… “Thẳng tới làng Hogsmeade.” Fred dùng một ngón tay dò theo một trong những lối đi đó, nói: “Có tất cả bảy lối đi, hiện giờ thì thầy Filch biết được bốn lối.” Nó chỉ ra những lối đi bí mật đã bị thầy Filch phát hiện, nói tiếp: “Nhưng còn những lối đi này thì chắc chắn là chỉ có chúng

ta biết mà thôi. Đừng mất thì giờ mò vô lối đi đằng sau tấm gương trên tầng lầu bốn. Tụi anh xài lối đó cho đến mùa đông năm ngoái thì thôi luôn, thành hang cụt rồi, hoàn toàn bị bít lối. Còn lối đi này thì tụi anh chắc là chưa ai từng xài tới, bởi vì cây Liễu Roi đứng áng ngay cửa ra vào. Nhưng còn lối đi này đây, lối này dẫn thẳng tới hầm chứa đồ của tiệm Công tước Mật. Tụi anh dùng lối đi này cả tỷ lần rồi. Và có lẽ em cũng nên để ý, cửa vào lối đi này ở ngay bên phải căn phòng này, thông qua bức tượng mụ phù thủy gù một mắt.” George vuốt ve hàng chữ ở đầu bản đồ, thở dài: “Mơ Mộng Ngớ Ngẩn, Đuôi Trùn, Chân Nhồi Bông và Gạc Nai. Tụi mình nợ nần họ nhiều lắm.” Fred trang trọng nói: “Những con người cao quý, làm việc không mệt mỏi để giúp đỡ một tân thế hệ những kẻ phá luật.” George nhanh nhẩu tiếp lời: “Đúng. Khi nào xài xong thì nhớ lau sạch sẽ đi nhé.” “Nếu không thì bất kỳ ai cũng có thể coi được đó!” Fred nói giọng cảnh cáo. “Chỉ cần khỏ nó một cái nữa và đọc thần chú “Phá luật xong!”, thì tấm bản đồ lại trống trơn như ban đầu.” Fred nhái điệu bộ trịnh trọng của Percy, nói: “Cho nên, chú em Harry này, hãy liệu mà xử sự đấy nhé!” George nháy mắt: “Hẹn gặp lại em ở tiệm Công tước Mật!”

Cả Fred và George cùng bước ra khỏi phòng học, cười điệu đàng với một vẻ vô cùng mãn nguyện. Harry vẫn còn đứng đó, nhìn chằm chằm tấm bản đồ mầu nhiệm. Nó ngó cái chấm mực tí hon Bà Norris quẹo trái rồi dừng lại hửi hửi cái gì đó trên sàn. Nếu thầy Filch thực sự không biết…, nó sẽ chẳng phải đi ngang qua những viên giám ngục Azkaban nữa… Nhưng ngay cả khi còn đứng đó, máu chảy rạo rực niềm phấn khích trong người, Harry vẫn nghe văng vẳng từ trong đầu những lời ông Weasley đã có lần nói: “Đừng bao giờ tin bất cứ thứ gì có thể tự suy nghĩ nếu mà mình không thể thấy bộ óc nó nằm ở đâu.” Tấm bản đồ này là một trong những đồ vật pháp thuật nguy hiểm mà ông Weasley cảnh cáo là phải coi chừng… Trợ thiết bị cho những kẻ phá phách pháp thuật… Nhưng rồi Harry biện lý rằng nó chỉ muốn xài tấm bản đồ để đi tới làng Hogsmeade mà thôi, chứ nó có ăn cắp cái gì hay tấn công ai đâu… với lại anh Fred và anh George cũng từng xài nó bao nhiêu năm rồi mà có chuyện khủng khiếp gì xảy ra đâu… Harry dùng ngón tay dò theo lối đi dẫn đến hầm chứa đồ của tiệm Công tước Mật. Thế rồi, đột nhiên như thể tuân theo một mệnh lệnh nào đó, Harry cuộn tấm bản đồ lại, nhét nó vô trong áo chùng đang mặc, vội vã đi ra cửa phòng học. Nó hé mở cánh cửa vài phân. Không có ai ở bên ngoài hết. Nó lẻn ra khỏi phòng một cách hết sức cẩn thận, rồi lách ra sau bức tượng mụ phù thủy một mắt.

Phải làm gì nữa đây? Harry lại rút tấm bản đồ ra và kinh ngạc nhận thấy trên bản đồ xuất hiện một chấm mực mới có nhãn tên là “Harry Potter”. Cái chấm này ở vị trí ngay bóc cái chỗ mà Harry đang đứng, khoảng giữa hành lang trên tầng lầu ba. Harry cẩn thận quan sát. Chấm mực tí xíu của nó dường như gõ nhẹ lên mụ phù thủy bằng cây đũa phép tí hon. Harry nhanh chóng rút cây đũa phép của mình ra và gõ lên bức tượng. Không có gì xảy ra cả. Nó lại nhìn vào bản đồ. Trong đó hiện ra câu thần chú: “Dissendium!*” Harry bèn gõ lên tượng đá một lần nữa và thì thầm: “Dissendium!” Ngay tức thì cái bướu trên lưng bức tượng mở ra, đủ rộng cho một người đủ ốm để chui vào. Harry liếc nhanh đầu trên đầu dưới của hành lang, rồi nhét lại bản đồ vô áo, đu mình lên bức tượng, đút đầu vô cái lỗ trên cái lưng gù trước, rồi sau đó thót mình trườn vô bên trong. Nó trượt xuống một khoảng khá dài, có vẻ như trên một cầu tuột bằng đá, đáp xuống một nền đất ẩm, lạnh. Harry đứng dậy, nhìn quanh. Tối như hũ nút. Nó bèn giơ cây đũa phép lên, thì thầm: “Lumos!” Nó nhận thấy mình đang ở trong một lối đi bằng đất rất hẹp và thấp. Nó lại rút bản đồ ra giơ lên, gõ đầu cây đũa phép lên tấm bản đồ, lầm rầm đọc tiếp: “Phá luật xong!”

Tấm bản đồ tức thì lại trống trơn. Harry xếp tấm bản đồ lại cẩn thận, giấu kỹ vô trong áo chùng, rồi với trái tim đập bừng bừng trong ngực, vừa hồi hộp vừa lo sợ, nó bắt đầu đi. Lối đi quanh co khúc khuỷu, giống hang của một con thỏ bự, bự Nhất. Harry hấp tấp đi, thỉnh thoảng vấp té xuống nền đất lồi lõm, tay vẫn nắm chặt cây đũa phép giơ ra phía trước. Đường đi lâu ơi là lâu, nhưng nghĩ tới tiệm Công tước Mật là Harry lại hăng hái cắm cúi bước. Sau một hồi tưởng như đã đi cả giờ đồng hồ rồi, lối đi bắt đầu chếch dần lên cao. Tim đập thình thình, Harry bước nhanh lên, mặt thì nóng bừng còn chân cẳng lại lạnh ngắt. Mười phút sau, Harry đi tới chân của mấy bậc thềm bằng đá đã mòn, dựng lên cao ngất, mất hút phía trên đầu nó. Cẩn thận không gây ra một tiếng động nào, Harry bắt đầu trèo lên. Một trăm bậc, hai trăm bậc, nó hết đếm nổi luôn khi vừa leo vừa ngó chừng dưới chân… Rồi bỗng dưng đầu nó đụng vô cái gì đó cứng lắm. Có vẻ như đó là một cái cửa sập. Harry đứng lại, tay xoa đỉnh đầu, lắng tai nghe. Nhưng nó không thể nghe được một âm thanh nào phía bên trên hết. Nó bèn hé cửa sập, từ từ, rất chậm rãi, rồi dòm qua kẽ hở. Nó đang ở trong một cái hầm chứa đồ chất đầy những thùng và sọt gỗ thưa. Harry trèo qua khỏi cái cửa sập, rồi đậy sập lại - cái cửa lập tức nhòa vào với lớp bụi sàn một cách hoàn hảo đến nỗi không thể nào mà nói được ở chỗ đó vừa có một cánh cửa. Harry bò chầm chậm về phía cái cầu thang gỗ dẫn lên tầng trên. Bây giờ thì nó chắc chắn là nghe rõ các âm

thanh, kể cả tiếng chuông leng keng và tiếng cánh cửa đóng lại. Đang tự hỏi xem nó nên làm gì nữa, Harry bỗng giật mình nghe tiếng một cánh cửa mở ra, gần như sát bên mình. Có ai đó sắp sửa đi xuống cầu thang. Và giọng một người đàn bà vang lên: “Lấy thêm một thùng Sên Mứt khác nữa, anh ơi, tụi nhỏ làm gần sạch hết món này rồi.” Một đôi chân bước xuống cầu thang. Harry nhảy ra sau một cái sọt gỗ thưa bự tổ chảng, núp ở đó chờ cho tiếng bước chân đi qua. Nó nghe tiếng người đàn ông xê dịch mấy cái thùng vô sát bức tường đối diện. Không thể để lỡ cơ hội này… Nhanh nhẹn và lặng lẽ, Harry lách mình ra khỏi chỗ đang ẩn náu, trèo ngay lên cầu thang. Ngoái đầu nhìn lại, nó còn nhìn thấy tấm lưng to bè và một cái đầu hói bóng lưỡng đang vùi vô một cái hộp. Harry lên được tới cánh cửa ở đầu cầu thang, lách qua, và thấy mình đứng ngay sau quầy của cửa tiệm Công tước Mật. Nó hụp đầu xuống, bò vòng ra ngoài, rồi đứng thẳng lên. Tiệm Công tước Mật đông đúc học sinh trường Hogwarts đến nỗi không ai buồn để mắt tới Harry đến hai lần. Nó chen lách giữa đám trẻ, nhìn quanh, cố nhịn cười khi tưởng tượng ra cái vẻ trên gương mặt phì nộn như heo của Dudley, phải chi thằng ấy được thấy Harry đang ở đây, vào lúc này, giữa hàng hàng dãy dãy kệ chất đầy các thứ kẹo trông ngon bổ bắt thèm. Những khúc kẹo nu-ga đầy kem, những tấm bánh đúc vừa vuông vức màu hồng lung linh, những viên kẹo cứng màu mật

mập ú, rồi hàng trăm loại sôcôla khác nhau sắp thành hàng ngay ngắn, lại có cả một thùng tô nô đựng đầy các viên kẹo dẻo Đủ vị, và một thùng to tướng khác đựng Ong Xì Xèo, một loại banh bơm hơi bay lên được mà Ron đã từng nhắc đến. Bày dọc một bức tường khác là kẹo “Hiệu Quả Đặc Biệt” như: Kẹo cao su Thổi Tuyệt Nhứt (những cái kẹo này làm cho căn phòng đầy ắp những cái bong bóng màu xanh hoa chuông không chịu nổ nhiều ngày rồi); Kẹo Dây-xỉa-răng-vị-bạc-hà, Bé Hạt Tiêu tí nị (thở ra lửa dùm bạn!), Chuột Băng (nghe tiếng răng của mình đánh bọ cạp và rít lên!), kem bạc hà có hình dạng như những con cóc (thực sự nhảy lóc chóc trong bao tử!), những cây viết lông ngỗng làm bằng đường xay và những viên kẹo nổ bụp bụp. Harry chen lấn qua một đám đông những học sinh năm thứ sáu và nhìn thấy ở một góc xa nhứt trong tiệm có treo một cái bảng: “Khẩu vị Khác thường”. Ron và Hermione đứng dưới cái bảng hiệu đó, đang săm soi một cái khay đầy những que kẹo có hương vị máu. Harry lẻn đến sau lưng hai đứa bạn. Hermione nói: “Ghê quá, đừng mua, Harry không thèm thứ nào trong mớ này đâu, mình đồ chừng mấy thứ đó dành cho ma cà rồng.” Ron xốc xốc một hũ Chùm Gián dưới mũi Hermione: “Còn thứ này thì sao?” “Dứt khoát là không thèm!” Nghe tiếng Harry, Ron suýt làm rớt hũ kẹo. Hermione ré lên:

“Harry! Bồ làm gì ở đây? Làm sao… Làm sao mà bồ…?” Ron tỏ ra xúc động mạnh: “Ái chà! Bồ học được cách độn thổ rồi hả?” Harry nói: “Dĩ nhiên là không rồi.” Nó hạ giọng xuống để không ai trong đám học sinh năm thứ sáu túm tụm đằng kia nghe lọt tai câu chuyện. Harry kể cho hai đứa bạn nghe về tấm Bản đồ của Đạo tặc. Ron giận điên lên: “Làm sao mà anh Fred và anh George lại chưa bao giờ đưa cho mình tấm bản đồ đó chớ? Mình là em trai của hai ảnh mà!” Hermione nói như thể ý tưởng đó hết sức lố bịch: “Nhưng Harry cũng sẽ không giữ tấm bản đồ đó, mà sẽ đem nó nộp lại cho giáo sư McGonagall, đúng không Harry?” Harry nói: “Không, mình không nộp đâu!” Ron trợn tròn mắt ngó Hermione: “Bồ có điên không? Một thứ hay như vậy mà đem nộp?” “Nếu mình đem nộp nó, mình sẽ phải giải thích là mình lấy nó ở đâu ra! Và thầy Filch sẽ biết là Fred và George đã chôm nó!” Hermione rít lên: “Nhưng còn Sirius Black thì sao? Hắn có thể lần theo một

trong những lối đi bí mật để vào trong lâu đài! Các thầy cô của mình phải được biết chuyện này chớ!” Harry nói nhanh: “Hắn không thể nào đột nhập lâu đài bằng một lối đi bí mật được! Trên bản đồ có bảy lối đi bí mật, đúng không? Anh Fred và anh George cho là thầy Filch đã biết được bốn lối rồi, và ba cái còn lại thì một cái đã bị bít lối, nên không ai có thể đi xuyên qua được, một cái lại bị cây Liễu Roi móc ngay lối ra vào, cho nên cũng không ai có thể thoát được, và lối đi mà mình vừa đi qua… thì… rất khó mà phát hiện được lối ra vào ở tuốt dưới đáy hầm chứa đồ… thành ra, trừ khi hắn biết đích xác cửa ra vào ở tại đây…” Harry ngập ngừng. Ừ, nếu Sirius Black biết có lối đi bí mật để đột nhập vào lâu đài thì sao? Tuy nhiên Ron tằng hắng thật to và chỉ cái thông báo dán bên trong cánh cửa của tiệm kẹo: THEO LỆNH CỦA BỘ PHÁP THUẬT Khách hàng được nhắc nhở rằng, cho đến khi có thông báo mới, thì các viên giám ngục Azkaban sẽ tuần hành trên đường phố làng Hogsmeade mỗi tối sau khi mặt trời lặn. Biện pháp này được đặt ra vì sự an toàn của cư dân Hogsmeade và sẽ được bãi bỏ khi bắt được Sirius Black. Vì vậy xin khuyến cáo quý khách nên hoàn tất chuyện mua sắm trước khi trời sụp tối. Chúc quý khách Giáng sinh hạnh phúc. Ron nói nhỏ: “Thấy không? Mình muốn xem coi Sirius Black gan cỡ nào mà dám xông vô tiệm Công tước Mật trong khi bọn giám ngục

Azkaban đang đi lềnh khềnh khắp làng. Với lại, Hermione à, chủ tiệm Công tước Mật thể nào cũng phải biết nếu có vụ đột nhập chứ? Họ sống ngay ở trong tiệm mà!” Hermione dường như đang cố gắng tìm ra một vấn đề khác: “Ừ, nhưng mà… nhưng mà… bồ nghĩ xem, Harry không nên đi thăm làng Hogsmeade, bạn ấy đâu có giấy cho phép! Nếu có người nào phát hiện ra, bạn ấy chỉ tổ rước thêm rắc rối mà thôi. Mà bây giờ trời cũng chưa tối, nếu Sirius Black bỗng xuất hiện vào hôm nay thì sao? Hay ngay lúc này thì sao?” “Hắn sẽ phải vất vả lần theo dấu vết của Harry trong thời tiết này!” Ron nói, hất đầu về phía những khung cửa sổ có chấn song: bên ngoài tuyết đang rơi dày nghịt và xoáy mạnh trong gió. “Thôi đi, Hermione, sắp lễ Giáng sinh rồi, Harry đáng được xả hơi lắm chứ!” Hermione cắn môi, dáng vẻ cực kỳ lo âu. Harry nhe răng cười, nói với cô bé: “Bồ có đi méc chuyện mình không đó?” “Ôi… dĩ nhiên là không rồi… Nhưng mà Harry nè…” Ron túm lấy Harry lôi nó đi về phía mấy thùng kẹo bành ki nái: “Thấy Ong Xì Xèo chưa, Harry? Với lại mấy con Sên Mứt nữa? Còn món Giải khát A-xit?

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 64

Đang tải bình luận...