CHƯƠNG II MÀN ĐEN ẤU DÂM “Con người luôn tự đặt mình vào rắc rối một cách hợp pháp, và nhờ đó họ sẽ được cứu rỗi một cách hợp pháp.” —ROBERT FROST
—— HỒI THỨ 6 —— MẤT TÍCH LIÊN HOÀN Buổi họp vào sáng ngày hôm sau. Ban Chuyên án chỉ dành thời gian để thảo luận báo cáo phân tích của Hàn Ấn. Bởi lần này xác định tính chất cuối cùng cho vụ án nên lãnh đạo thành phố gồm cả giám đốc Sở công an Vũ Thành Cường cũng tới tham dự cuộc họp. Không có gì đáng ngạc nhiên, chỉ sau nửa báo cáo, người phe Hồ Trí Quốc và Phó Trường Lâm đã không thể nén nổi bình tĩnh, cắt ngang lời Hàn Ấn và đặt ra rất nhiều chất vấn về tính khách quan của báo cáo. Diệp Hi nhẫn nhịn đề nghị mọi người chờ cho Hàn Ấn đọc xong báo cáo. Còn Hàn Ấn thì kiên nhẫn giải thích từng câu hỏi chất vấn của mọi người. Nhưng do bị cảm xúc chi phối đến mức cự tuyệt chấp nhận, Hồ Trí Quốc và những người khác không thể bình tĩnh thêm, bầu không khí của cuộc họp bế tắc. Lúc này, bất ngờ một sĩ quan cảnh sát lao vào phòng họp và tới thẳng chỗ giám đốc Sở, thì thầm vào tai ông một lúc. Nghe báo cáo của viên cảnh sát vốn là thư kí của mình, giám đốc Sở nhíu mày, vẻ mặt càng lúc càng tỏ ra nghiêm trọng. Cuối cùng, ông nắm chặt tay, gõ lên bàn hai tiếng “Bộp, bộp!” nói như gắt, “Tất cả im lặng, tôi có việc muốn nói. Sáng sớm hôm nay, hơn một
chục người lao động ngoại tỉnh sống xung quanh đường Hồng Kì, quận Nam Lăng đã tụ tập trước Chính phủ Nhân dân thành phố, kiện Sở Công an chúng ta vì phân biệt đối xử với người lao động nhập cư và xử lí án một cách thụ động. Cụ thể, kể từ tháng Ba năm ngoái, đã có nhiều vụ mất tích trẻ em ở đường Hồng Kì, Đồn Công an đường Hồng Kì và đội Cảnh sát hình sự Công an quận Nam Lăng sau khi nhận được báo án đã không tập trung vào vụ án, dẫn đến việc tới nay đã có sáu trường hợp trẻ em mất tích. Trẻ nhỏ nhất chỉ mới 9 tuổi, lớn nhất 16 tuổi. Vụ mất tích sớm nhất là vào tháng Ba năm ngoái, còn trường hợp gần đây nhất là vào chiều hôm qua. Thành ủy đã đề nghị Sở chúng ta ngay lập tức tìm kiếm và giải cứu người mất tích. Anh Hồ, Diệp Hi và thầy Hàn Ấn, cùng tôi tới Sở Công an để tìm hiểu vụ việc, các đồng chí còn lại ngay lập tức đến quận Nam Lăng đợi lệnh, chờ triển khai nhiệm vụ tiếp theo!” Trước đó khoảng mười mấy tiếng, khoảng 7 giờ tối ngày hôm qua, vợ chồng Vương Thành và Tống Quyên, vốn mở một sạp trái cây ở chợ rau củ trên đường Tây Hồng Kì, bắt đầu dọn hàng, mệt mỏi lê bước về nhà trọ. Vương Thành cứ nghĩ tới bữa tối nóng hổi, ngon lành trong gian nhà ấm áp của mình, nghĩ tới nụ cười đáng yêu của con gái, thì mọi mệt mỏi đều tan biến đi đâu hết. Nhưng khi về tới nơi thì thấy cửa nhà bị khóa và ngôi nhà tối om. Vương Thành rút chìa khóa ra mở cửa, trong nhà chỉ thấy lạnh lẽo vắng teo. Không có dấu vết nhóm lửa, bếp núc lạnh tanh,
cũng không thấy cặp sách của con gái ở nhà. Trong lòng anh bỗng có một dự cảm chẳng lành. Anh và vợ rối rít đến nhà hàng xóm để hỏi thăm, nhưng hàng xóm nói rằng không nhìn thấy cô bé và khuyên họ đến trường tìm con. Hai vợ chồng lại chạy đến trường con gái học. Cả trường đã vắng hoe, lớp học trống hoác. Họ xin nhân viên trực ban số điện thoại của giáo viên chủ nhiệm lớp và gọi ngay. Giáo viên chủ nhiệm lớp nói rằng bọn trẻ đã tan lớp từ lúc 4 giờ hơn và con họ đã về một mình rồi. Cô giáo còn nói rằng con gái họ không thích giao lưu với các bạn cùng lớp, luôn thích ở một mình. Con vừa mới chuyển từ nông thôn lên đây hơn một tháng, tính con lại chậm hòa đồng. Ít giao lưu với bạn bè cũng là điều khó tránh khỏi, lâu dần tự nhiên sẽ gần gũi với bạn bè hơn thôi. Hai vợ chồng trước đó cũng nghĩ rằng sẽ chẳng sao. Con bé tan lớp xong có thể tự về nhà, nó sẽ không lêu lổng chơi bời ở bên ngoài. Nhưng giờ con đi đâu mất rồi nhỉ? Hai vợ chồng Vương Thành tá hỏa lên, vừa đi dọc theo trục đường chính Hồng Kì từ Tây sang Đông, vừa hét gọi tên con gái, vài người hàng xóm tốt bụng cũng đi tìm hộ. Nhưng tìm cả một khoảng rộng mà không thấy bóng dáng con gái đâu, vạn bất đắc dĩ, họ đành tới Đồn Công an trình báo xin giúp tìm con. Cảnh sát nghe họ nói con gái đã 16 tuổi và mới chỉ vài giờ không thấy nên khuyên hai người nên đến nhà họ hàng, bạn bè hay bạn cùng lớp để tìm lại xem. Có lẽ con bé chỉ là ham chơi nên chưa về nhà. Vương Thành cầu xin van nài, nhưng cảnh sát từ chối tìm kiếm. Hai vợ chồng cuống quýt không biết sao, bèn quỳ
xuống dưới chân dập đầu lạy lục cảnh sát. Trưởng đồn đêm đó trực ban bắt gặp cảnh tượng này. Đều là phụ huynh cả, ông rất hiểu tâm trạng sốt ruột vì mất con của họ nên cử toàn bộ cảnh sát đang trực ban đi tìm kiếm khu vực đường Hồng Kì. Mãi tới nửa đêm mà vẫn không tìm thấy, họ đành bó tay, khuyên vợ chồng Vương Thành về nhà trước đợi xem sao. Có lẽ con gái ở lại nhà người bạn nào đó cùng lớp, biết đâu sẽ về vào sáng mai. Hai vợ chồng Vương Thành làm sao có thể yên tâm về nhà đợi. Từ lâu, họ đã nghe nói đường Hồng Kì gần đây liên tục mất tích mấy đứa trẻ, nên lo lắng liệu con gái có như bọn trẻ, biến mất một cách khó hiểu. Họ sợ Đồn Công an sẽ không tìm kiếm tiếp, nên nhờ cậy bà con lối xóm đi tìm các phụ huynh có con mất tích trước đó bất chấp đêm khuya, rồi mấy nhà cùng liên kết lại, tới Chính phủ Nhân dân thành phố khiếu nại Sở Công an. Ngay sáng sớm hôm sau, một đoàn người đã đến trước tòa nhà Chính phủ Nhân dân thành phố và gào thét đòi gặp thị trưởng. Bảo vệ nói với họ rằng có chuyện gì có thể tới ban Tiếp Công dân để phản ánh nhưng họ không nghe, cứ đòi xông vào trong, vì thế gây xung đột với bảo vệ. Đúng lúc đó, xe của thị trưởng đi ngang qua, ông xuống xe tìm hiểu tình hình cụ thể, và ngay lập tức chỉ thị thư kí gọi điện cho Sở Công an thành phố, yêu cầu Sở Công an tiếp nhận vụ việc ngay lập tức. Tính mạng con trẻ là việc lớn, thị trưởng nhấn mạnh rằng bất kể đang bận điều tra án nào cũng đều phải tạm ngừng lại, tập trung lực lượng cảnh sát để tìm kiếm lũ trẻ. Thành phố gọi điện đến văn phòng của giám đốc Sở Công an.
Giám đốc đang đi họp tại Trụ sở Công an quận, thư kí nghe máy. Đây là lí do tại sao mà thư kí vội vã lao vào phòng họp. Sau lệnh của giám đốc Sở, mọi người nhanh chóng tỏa ra khỏi phòng họp, chỉ có Diệp Hi, Hàn Ấn và Hồ Trí Quốc theo gót giám đốc. Vài phút sau, họ vội vã từ Trụ sở Công an quận đến Sở Công an thành phố, hơn một chục phụ huynh có con mất tích đang chờ trong phòng họp. Giám đốc Sở xuất thân từ cảnh sát điều tra hình sự. Ông biết rõ rằng các vụ mất tích liên hoàn với đối tượng là trẻ em trong độ tuổi từ 9 đến 16 không chỉ đơn giản là vụ lừa bắt buôn bán đơn thuần. Rất có khả năng vụ án bắt cóc trên đường Hồng Kì còn ẩn chứa sát thủ hàng loạt chuyên ngược đãi và giết chóc trẻ con. Từ vụ bắt cóc đầu tiên đến nay, khoảng thời gian đã gần một năm, những đứa trẻ trước đó có thể đã gặp chuyện chẳng lành. Việc trước mắt là tranh thủ thời gian để phá án gấp. Nếu kịp thời thì đứa trẻ mất tích chiều qua vẫn có cơ hội sống sót. Khi tới phòng họp, không kịp hỏi han gì thêm, giám đốc Sở đã nhanh chóng yêu cầu phụ huynh của đám trẻ từng người một thuật lại chi tiết vụ mất tích của con mình. Tất cả lũ trẻ mất tích là con của người dân ngoại tỉnh. Cô bé mất tích đầu tiên tên là Lưu Tiểu Hoa, 9 tuổi, học lớp hai trường Tiểu học Số 3. Cô bé rời trường vào khoảng 15 giờ ngày 16 tháng 3 năm 2011 và mất tích. Cha mẹ cô bé làm việc trong một xưởng sản xuất đồ gia dụng, gia đình ba người thuê nhà tại khu
lao động nghèo ở phía Bắc bến xe buýt số 2, đường Đông Hồng Kì. Đứa trẻ mất tích thứ hai, là một cậu bé 12 tuổi, học tại trường Tiểu học Đông Nhai. Cậu bé rời khỏi nhà vào khoảng 12 giờ trưa ngày 22 tháng 10 năm 2011. Khi mất tích, cậu bé đi một đôi dép lê. Cha mẹ cậu làm việc trong xưởng gỗ, gia đình ba người thuê nhà tại khu lao động nghèo ở phía Nam đường Đông Hồng Kì. Đứa trẻ thứ ba, là một cậu bé 10 tuổi, học lớp ba của trường Tiểu học Số 2. Cậu bé sau khi đưa em trai tới trường mẫu giáo vào khoảng 9 giờ sáng ngày 11 tháng 12 năm 2011 thì không thấy về nữa. Cha mẹ cậu là thợ sơn, cả gia đình thuê trọ tại khu lao động nghèo ở phía Nam đường Đông Hồng Kì. Đứa trẻ mất tích thứ tư là một cậu bé 16 tuổi, học lớp chín trường Trung học Đông Nhai. Vào khoảng 13 giờ ngày 31 tháng 12 năm 2011, sau khi nói với gia đình, “Con ra ngoài chơi một lúc” thì không về nhà nữa. Cậu cùng mẹ sống nhờ nhà họ hàng ở thành phố này, gần một quán internet có tên “Bạn bè” ở phía Nam bến xe buýt số 2 đường Đông Hồng Kì. Đứa trẻ mất tích thứ năm là một cậu bé, 10 tuổi, học lớp ba của trường Tiểu học Số 2. Vào khoảng 7 giờ sáng ngày 7 tháng 1 năm 2012, cậu rời khỏi nhà và đến quán internet gần đó để chơi, sau không thấy về. Anh và bố mẹ cậu cũng thuê nhà ở khu lao động nghèo ở phía Nam đường Đông Hồng Kì. Đứa trẻ mất tích cuối cùng là Vương Hồng, 16 tuổi, học lớp tám trường Trung học Tây Nhai, biến mất sau khi tan trường lúc 4 giờ chiều ngày hôm qua. Theo lời kể của cha mẹ cô bé, vợ chồng họ đã buôn bán ở đường Tây Hồng Kì rất nhiều năm, thuê trọ ở khu lao
động nghèo gần chợ. Trước đây họ gửi con chỗ nhà bà ngoại ở quê cho đến khi bà ngoại qua đời vào đầu năm, họ mới đón con lên sống cùng. Cô bé sống ở vùng nông thôn hẻo lánh nhiều năm, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng nên cơ thể gầy guộc, trông nhỏ hơn so với tuổi thật hai, ba tuổi. Hơn nữa mới lên thành phố lớn, cô bé suy nghĩ còn non nớt, sợ con học không theo được nên bố mẹ cho con học lùi xuống, nên giờ mới có lớp tám. Phụ huynh giận dữ phản ánh: Từ đứa trẻ đầu tiên bị mất tích, Đồn Công an đường Hồng Kì đã nhận được phản ánh, nhưng sau một loạt các cuộc tìm kiếm không thu được kết quả, vụ án vẫn treo đó mà không có lời giải thích nào cho gia đình. Trong trường hợp trẻ mất tích thứ hai, ba, tư và năm, theo tìm hiểu thì lũ trẻ đều thích lên mạng và chơi game. Do đó, cả Đồn Công an đường Hồng Kì lẫn Đội Hình sự Công an quận đều nhận định rằng chúng tự bỏ đi vì nghiện internet hoặc ra ngoài thành phố để hẹn hò với bạn trên mạng, nên chỉ đơn giản là bảo lưu để xem xét, yêu cầu phụ huynh về nhà đợi tin. Cuối cùng là vụ mất tích của Vương Hồng, do mất tích chưa đến 24 tiếng nên chưa thể lập án. Đây rõ ràng là hành động tắc trách, sau khi các gia đình trình bày xong, giám đốc Sở đã đại diện Sở thành thật xin lỗi các gia đình, bày tỏ sẽ xử lí nghiêm, đúng những cá nhân và các bộ phận liên quan, hứa sẽ triển khai ngay lực lượng để điều tra vụ việc. Sau khi động viên, an ủi, giám đốc đã sắp xếp một chiếc xe đặc biệt đưa phụ huynh trở về nhà để chờ đợi tin tức. Hàn Ấn muốn đề nghị cha mẹ cô bé Vương Hồng ở lại thêm để hỏi, nhưng anh sợ các bậc cha mẹ còn lại sẽ suy nghĩ khác nên tạm thôi.
Đúng lúc này, bộ phận khoa học hình sự gửi tới bản đồ của khu vực đường Hồng Kì, đánh dấu rõ các hướng và vị trí có liên quan đến vụ án. Ngoài ra, đội trưởng đội Cảnh sát hình sự quận Nam Lăng và trưởng Đồn Công an đường Hồng Kì đã được lệnh cấp tốc đến Sở Công an thành phố. Sau khi phụ huynh có con mất tích đi khỏi không lâu, hai người chịu trách nhiệm chính đã đến. Lúc này, họ mới thấy sự việc nghiêm trọng đến thế nào. Cả hai đều cúi đầu, thở hổn hển, khúm núm đứng ở cửa phòng họp chờ sếp phê bình một trận. Giám đốc Sở nổi giận lôi đình, chỉ vào ghi chép án trên bàn, tức giận quát tháo, “Đáng nhẽ những điều này là các anh phải báo cáo với tôi, kết quả là để cho gia đình người mất tích tìm đến tận đây, còn đến cả Thành ủy. Các anh còn mặt mũi nào nữa không?” “Thực ra, tất cả những gì nên làm, chúng tôi đều đã làm rồi thưa sếp!” Trưởng đồn cố lên tiếng bảo vệ đồn mình. “Mỗi khi nhận được tin báo án, đồn luôn huy động số lượng anh em cảnh sát nhất định để hỗ trợ tìm kiếm. Như vụ việc hôm qua chẳng hạn, tuy chưa đủ để lập án, nhưng đồn đã huy động tất cả anh em trực ban tìm đến nửa đêm.” “Vâng, vâng, tôi biết tình hình của đường Hồng Kì. Hầu hết là nơi tập trung người ngoại tỉnh, dân cư biến động lớn, tình hình các hộ gia đình cũng khá phức tạp, trẻ con bỏ nhà đi chơi dăm ba ngày rồi về không hề hiếm, nên chúng tôi chưa từng nghĩ tới khả năng nguy hiểm đến vậy.” Người phụ trách hình sự quận tiếp lời
trưởng đồn hòng tự bào chữa, giải vây cho mình. “Các anh chưa từng nghĩ tới hả? Kết quả thế nào? Là các anh không nghĩ tới hay là không buồn nghĩ tới, không đếm xỉa hả? Đừng nói những câu vớ vẩn ấy, bao giờ vụ án kết thúc, tôi sẽ xử lí các anh sau.” Giám đốc Sở trừng mắt gằn từng tiếng, “Nói xem, các anh nắm được những gì rồi?” Trưởng đồn lau mồ hôi lạnh trên trán và thở hắt ra. “Theo chúng tôi được biết, ngoại trừ đứa trẻ mất tích đầu tiên và vừa xong, còn lại bọn trẻ thường xuyên đến hai quán internet và quán game gần bến xe buýt số 2 đường Đông Hồng Kì. Chúng tôi đã đến đó để điều tra. Một số người có chút ấn tượng với chúng. Họ nói rằng chúng thường tới chơi một mình, không thấy ai đi cùng cả. Còn trong ngày mất tích, không ai để ý chúng có đến quán internet hay quán game không.” Trưởng đồn dừng lại rồi tiếp tục, “Những nơi khuất nẻo ở khu vực đường Hồng Kì, như rừng cây, hồ nước và công viên, tối qua chúng tôi đều đã tìm kiếm, nhưng không tìm thấy xác của cô bé mới mất tích gần đây. Sáng nay cũng không có tin báo án nào như vậy cả!” “Anh có chắc chắn cô bé biến mất đêm qua không bao giờ lên mạng và chơi game không?” Hàn Ấn đột nhiên xen vào. Trưởng đồn không biết Hàn Ấn là ai. Anh ta liếc nhìn giám đốc Sở và tia sang Hàn Ấn, có vẻ như anh ta không đếm xỉa tới một kẻ có khuôn mặt lạ hoắc chẳng biết từ đâu chui ra. Diệp Hi hiểu ý nên vội vàng giới thiệu danh tính của Hàn Ấn. Lúc này, trưởng đồn mới trả lời với thái độ nghiêm túc, “Đúng thế. Bố mẹ cô bé nói rằng cô bé chưa bao giờ lên mạng. Hơn nữa tối qua chúng tôi
cũng đưa ảnh cô bé tới tất cả các quán internet, quán game ở Đông và Tây Hồng Kì, các chủ quán và khách quen trong quán đều nói chưa nhìn thấy cô bé nào như thế qua đó.” “Trong khu vực đó có báo án nào về hành vi chòng ghẹo, nhìn trộm hoặc quấy rối tình dục không?” “Đã có một vài trường hợp, nhưng không đến mức trầm trọng nên các đối tượng chỉ bị giam giữ một vài ngày để giáo dục, còn hành vi đồi bại với trẻ con thì chưa từng có.” Trưởng đồn trả lời câu hỏi của Hàn Ấn, nói thêm vài câu với giám đốc Sở, “Đúng rồi, còn một trường hợp nữa. Vào ngày thứ ba sau khi đứa trẻ thứ hai mất tích, bố mẹ cậu bé có nhận một cuộc điện thoại, người gọi điện nói là hắn bắt cóc đứa trẻ và đòi họ chuẩn bị tiền chuộc 10 nghìn tệ, chiều tối hôm đó phải đặt vào thùng rác trước cổng trường đứa trẻ theo học. Khi nhận được thông tin, chúng tôi đã bố trí lực lượng cảnh sát ở địa điểm giao tiền chuộc, nhưng không ai đến lấy tiền. Còn cú điện thoại đó, chúng tôi đã tra ra là từ một bốt điện thoại công cộng ở ga tàu.” Sau khi nghe trưởng đồn trình bày, Hàn Ấn cúi đầu, nhìn xuống một lúc rồi nói với anh ta, “Có thể làm phiền anh liệt kê cho tôi danh sách các đối tượng tình nghi trong các vụ quấy rối tình dục ở khu vực, và cả danh tính những người từng có tiền án nữa, được không?” “Không thành vấn đề, tôi sẽ bố trí người lên danh sách.” Trưởng đồn còn nhấn mạnh thêm một câu, “Có điều danh sách người từng có tiền án thì chưa được đầy đủ, dân ngoại tỉnh ở đường Hồng Kì luôn biến động, thông tin về những người có tiền
án tiền sự rất khó nắm bắt.” “Vậy hãy cố gắng hết mức có thể!” Giám đốc Sở nín thở, ghìm hơi nói. Sau khi tìm hiểu đầy đủ thông tin của các bên, giám đốc Sở tập hợp kiến nghị của người dự họp, rồi đưa ra một số chỉ thị: 1. Ngay lập tức tiến hành điều tra trong khu vực hoạt động hằng ngày của cô bé, để cố gắng xác định nơi cô bé bị mất tích. 2. Tìm kiếm các nhân chứng chứng kiến. 3. Tiến hành điều tra sàng lọc cuốn chiếu quanh quận, tập trung vào nơi nhà trọ và cư dân sống một mình. 4. Sàng lọc từng đối tượng tình nghi và người có tiền án trong danh sách quấy rối tình dục của khu vực.
—— HỒI THỨ 7 —— KẺ CƯỠNG HIẾP THIẾU NỮ Theo chỉ thị của giám đốc, lực lượng cảnh sát đã nhanh chóng tiến hành triển khai hành động. Diệp Hi lái xe chở Hàn Ấn kiểm tra một số địa điểm được đề cập trong vụ án rồi đến nhà cô bé bị mất tích cuối cùng. Tất nhiên, đây là yêu cầu của Hàn Ấn, anh cần biết nhiều hơn về Vương Hồng, bởi vì phân tích của anh nghiêng về vụ mất tích cuối cùng là trường hợp riêng biệt, không liên quan gì đến năm trường hợp trước. Diệp Hi gặng hỏi cơ sở phán đoán của anh thì Hàn Ấn giải thích: Thứ nhất, theo như các hồ sơ án hiện tại, những đứa trẻ biến mất trong vụ thứ hai đến thứ năm có khả năng bị bắt cóc trong các quán internet và quán game gần bến xe buýt số 2 của đường Đông Hồng Kì. Điều đó cho thấy hung thủ quen thuộc khu vực này, là địa bàn mà hắn có thể tự do tung hoành. Nó cũng chứng tỏ mục tiêu bắt cóc của hắn chủ yếu tập trung vào những đứa trẻ nghiện mạng và chơi game. Có thể hắn dễ lân la làm quen, dụ dỗ chúng hơn. Còn cô bé bị mất tích cuối cùng thì không lên mạng hay chơi game. Khu vực sinh hoạt hằng ngày chủ yếu là giữa trường học và nơi cô bé sinh sống, trên đường Tây Hồng Kì. Trên bản đồ, khu vực này cách khu vực gây án tự do của hung thủ khoảng một ki-lô-mét. Hung thủ phạm tội trong địa bàn quen thuộc của mình, nhưng chưa bao giờ bị cảnh sát bắt giữ, vì vậy
hắn sẽ không dễ dàng rời khỏi địa bàn phạm tội. Thứ hai, trong các vụ án từ số 2 đến số 5, thời gian phạm tội tập trung vào thứ Bảy và Chủ Nhật. Có lẽ đây là khoảng thời gian hắn có nhiều không gian hơn để lựa chọn, và dễ dàng tìm những con mồi phù hợp tiêu chuẩn. Hôm qua là thứ Năm, nó không trùng với thời gian gây án quen thuộc của hắn. Thứ ba, giới tính của nạn nhân không phù hợp. Các nạn nhân được thủ phạm lựa chọn trong bốn vụ liên tiếp từ thứ 2 đến thứ 5 là con trai, tức trẻ em nam là thứ hắn muốn. Khi Hàn Ấn giải thích đến đây, Diệp Hi ngay lập tức chất vấn rằng mục tiêu đầu tiên thủ phạm chọn cũng là một cô bé. Làm thế nào giải thích đây? Trên thực tế, điều này không khó giải thích. Trong một số vụ giết người hàng loạt, mục tiêu tội ác đầu tiên của hung thủ chủ yếu là những mục tiêu “ngẫu nhiên” và thiếu sự chuẩn bị tâm lí đầy đủ. Trong trường hợp này, rất có khả năng kẻ phạm tội không biết hắn muốn gì vào lúc đó. Khi hắn thử thực hiện hành vi bạo lực với cô bé, hắn thấy rằng cảm giác đó không hoàn hảo như hắn nghĩ, vì vậy hắn hành động theo cảm xúc nội tâm và chuyển mục tiêu sang các cậu bé. Sự thật cũng cho thấy hắn hoàn toàn trút bỏ và giải phóng được cảm xúc, nên không còn tìm mục tiêu nữ nữa. Giống như một con nghiện ma túy, hắn ta đã thử thuốc lắc, cần sa, ma túy đá và heroin tinh khiết, sau khi hắn sử dụng heroin tinh khiết, thì những thứ trước đó không còn có thể thỏa mãn cơn nghiện của hắn. Việc hung thủ đi ngược lại với một thói quen là có, còn xác suất cùng lúc đảo lộn ba thói quen là rất hi hữu, vì vậy Hàn Ấn tin rằng
cô bé cuối cùng mất tích không liên quan đến năm trường hợp đầu tiên. Điều này đòi hỏi Hàn Ấn phải hiểu về Vương Hồng và bố mẹ cô bé càng nhiều càng tốt, để tìm ra động cơ mất tích của cô bé cũng như định ra phương hướng điều tra tương ứng. Thời gian còn lại quá eo hẹp. Theo thống kê thì trong số trẻ bị sát hại sau khi bị bắt cóc, thì 44% bị giết trong vòng 1 giờ, 74% bị giết trong vòng 3 giờ, còn trong gần 24 giờ thì khả năng bị giết chiếm tới 91%. Điều đó có nghĩa là 24 giờ sau khi vụ bắt cóc xảy ra, gần như tất cả trẻ em đã bị sát hại. Bây giờ đã là 10 giờ sáng và thời gian dành cho Hàn Ấn chỉ còn 6 đến 7 tiếng. Tình thế rất cấp bách. Đường Hồng Kì là vùng ngoại ô phía Nam của thành phố J, nơi giao cắt giữa thành thị và nông thôn. Đây là nơi tập trung rất nhiều lao động ngoại tỉnh. Con đường huyết mạch chính chia nơi này thành hai khu vực theo hướng từ Đông sang Tây. Có một ngã ba ở giữa con đường huyết mạch. Giao lộ về phía Đông được gọi là đường Đông Hồng Kì và phía Tây là đường Tây Hồng Kì. Xung quanh trục đường chính này, hầu như đều là các tòa nhà thấp tầng cũ nát và nhiều khu nhà tạm bợ, cũng là khu vực phân bố nhà tạm bợ dày đặc nhất trong thành phố. Diệp Hi lái xe từ đường cao tốc Đông Hồng Kì qua ngã ba tới Tây Hồng Kì. Sau năm phút, cô quẹo phải tại một ngã rẽ và chạy thêm chút nữa rồi quẹo vào một con hẻm. Đây là khu vực tập trung những ngôi nhà cấp bốn, nơi có nhà trọ của gia đình Vương
Hồng. Hàn Ấn và Diệp Hi đi đến trước cửa nhà của Vương Hồng, Họ thấy mẹ của Vương Hồng, Tống Quyên đang chạy đến ôm chồng Vương Thành. Chị nước mắt lã chã và hỏi dồn, “Anh có tìm thấy con không?” Vương Thành có lẽ vừa đi ra ngoài một vòng để tìm con gái. Khi đối diện với ánh mắt mong chờ mòn mỏi của vợ, anh ta cố cầm nước mắt và lặng lẽ lắc đầu. Tống Quyên lập tức ngã lăn xuống đất, bật khóc nức nở. Hàn Ấn và Diệp Hi vội vã chạy tới, giúp Vương Thành đỡ vợ ngồi xuống bên giường. Cha mẹ của cô bé là người miền Bắc, đều là những người chất phác quê mùa. Bởi vì con gái họ mất tích muộn nhất nên so với các bậc cha mẹ khác, tâm lí của họ dễ bị kích động hơn nhiều. Thấy vợ khóc lóc thảm thiết mãi không thôi, Vương Thành cũng như bị ảnh hưởng, ngồi thụp xuống đất, tay ôm mặt đau xót, khóc không thành tiếng. Hàn Ấn cúi người xuống và kéo anh ta lên, giữ chặt tay anh ta, nói chân thành, “Tôi có thể hiểu tâm trạng của anh chị, nhưng bây giờ không phải là lúc đau buồn, anh chị phải tin cảnh sát chúng tôi, nhất định chúng tôi sẽ giúp anh chị tìm ra con gái. Muốn vậy, đòi hỏi sự hợp tác của hai người. Tôi mong anh chị hãy bình tĩnh lại và tập trung lắng nghe câu hỏi của tôi.” Cha mẹ Vương Hồng bặm môi, cố cầm nước mắt, rồi gật đầu. Hàn Ấn nắm lấy thời cơ gặng hỏi, “Cô bé thường có tính cảnh giác đề phòng không?”
“Có chứ, ngày nào chúng tôi cũng kêu con gái không được nói chuyện với người lạ, cẩn thận những kẻ buôn người.” “Gần đây anh chị có gây thù kết oán với ai không?” “Chúng tôi đều là những người mộc mạc, lại là dân ngoại tỉnh. Chúng tôi nào dám gây rắc rối, luôn đối xử tốt với người cùng chợ và hàng xóm láng giềng.” “Anh chị chắc chắn chứ?” “Chắc chắn!” “Anh chị có người thân ở đây không?” “Không.” “Có hàng xóm nào xung quanh hay đối xử thân thiện với trẻ em, luôn thích đưa trẻ con đi chơi không?” “Tất cả hàng xóm đều quý cháu. Cháu là đứa bé ngoan ngoãn hiểu chuyện, thường dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng. Tôi và mẹ cháu buôn bán cả ngày, buổi tối thu hàng về rất muộn, cháu luôn chuẩn bị cơm nước đợi chúng tôi về. Tối qua, chúng tôi về nhà mà không thấy cháu đâu, chúng tôi đã có dự cảm chẳng lành, nhưng không thể nghĩ rằng cháu…” “Hàng xóm có người đàn ông nào tuổi tác lớn một chút và sống một mình không?” “Có một ông già sống một mình ở đầu gian nhà phía Đông kia, làm nghề bán khoai lang nướng ở chợ. Nhưng chiều qua, ông ấy ở chợ suốt, còn cùng chúng tôi dọn hàng về.” “Không còn ai nữa à? Hãy nghĩ kĩ xem, độc thân, trẻ hơn một chút?”
“Quả thực là không có. Hầu hết chúng tôi sống ở đây đều là các cặp vợ chồng hoặc anh chị em cùng buôn bán, rất ít người độc thân.” “Gần khu vực trường học? Cô bé có bao giờ nói quen biết ai không?” “Con tôi vừa từ nông thôn lên, còn chưa quen hết bạn cùng học, cũng chưa từng nhắc tới gần đây quen biết người nào khác. … Hàn Ấn hỏi một loạt câu liền mạch, cha của cô bé trả lời hầu hết các câu hỏi, thỉnh thoảng người mẹ thêm hai ba câu bổ sung, nhưng không mang lại thông tin nào mà Hàn Ấn muốn. “Mặc dù cô bé 16 tuổi, nhưng dáng người nhỏ thó như trẻ chỉ mới 13 hoặc 14 tuổi, lần đầu tiên lên thành phố lớn. Suy nghĩ thuần khiết, ngây thơ, thiếu bạn bè cùng tuổi!” Hàn Ấn hít một hơi lạnh, điều anh hơi lo lắng là một vụ lạm dụng thể xác và bạo hành trẻ em. Từ cha mẹ của cô bé, Hàn Ấn không có được nhiều thông tin hữu ích. Anh chỉ có thể dựa vào chính mình. Anh bắt đầu nhìn quanh ngôi nhà nhỏ chỉ rộng mười mấy mét vuông. Ngôi nhà cấp bốn bé xíu được chia thành hai gian: gian ngoài và gian trong. Gian ngoài là một lối đi, rất hẹp, đặt một bếp lò và dụng cụ nấu ăn đơn giản, chắc là chỗ đun nấu. Gian trong có một cái giường lớn và một cái giường nhỏ. Trên đầu giường nhỏ có một chiếc tủ con con đổ nát, chắc là bàn để cô bé viết và làm bài tập về nhà. Bên trên đã được lau dọn sạch sẽ, một số quyển truyện tranh được đặt ngay ngắn trên bàn.
Hàn Ấn loanh quanh bên chiếc giường nhỏ, và lẩm bẩm đọc, “Nhất định là người mà bạn biết… Anh ấy quan tâm đến bạn… đưa bạn đi chơi cùng… Mua cho bạn đồ ăn ngon… Gửi quà cho bạn… Bạn gọi anh ấy là chú… hoặc ông… Đôi khi anh ấy kéo tay bạn… vỗ vai bạn… anh ấy ôm bạn khi vui… bạn cảm thấy rất gần gũi… rất ấm áp…” Hàn Ấn ngồi xuống giường và lật cuốn truyện tranh. Cuốn sách rất cũ, có những trang bị lem nhem vết đen, có chỗ bị gạch xóa lung tung. Một đứa trẻ sắp xếp gọn gàng sách theo mã sách, sẽ không có chuyện làm bẩn sách. Đây rõ ràng không phải là sách của cô bé. “Cuốn sách này ở đâu ra?” Hàn Ấn giơ cuốn truyện trong tay lên hỏi. Cả hai vợ chồng đều lắc đầu. “Chúng tôi không biết, có thể con gái tôi mượn của các bạn cùng lớp? Con gái tôi quý sách này như vàng ấy, xem đi xem lại rất nhiều lần.” “Mượn ư?” Hàn Ấn đặt cuốn sách xuống, đôi mắt vẫn nhìn vào cuốn sách và suy tư. Anh đứng dậy, thấy gót chân như va vào thứ gì đó dưới gầm giường, phát ra tiếng kêu binh boong. Anh nhanh chóng cúi xuống, vạch tấm ga phủ giường lên thì thấy một vài vỏ lon nằm lộn xộn trong một chiếc túi. “Đúng là con gái ngoan. Nhặt được lon nước bên đường cũng mang về nhà, chờ tích lũy được nhiều sẽ mang tới trạm thu mua phế liệu để bán.” Vương Thành giải thích. Truyện tranh đầy những vết lem nhem, lon nước giải khát và
trạm thu mua phế liệu… Đầu Hàn Ấn bỗng lóe lên một ý nghĩ, anh hỏi dồn, “Trạm thu mua phế liệu ở đâu? Chủ ở đó bao nhiêu tuổi? Có sống một mình không?” Thấy bộ dạng của Hàn Ấn, Vương Thành căng thẳng, môi run run nói, “Cách nhà chúng tôi ba con phố là một ông lão. Ông ấy sống trong căn nhà cấp bốn ở ngay trạm thu mua, hình như sống một mình. Tôi, tôi vừa mới qua đấy hỏi ông ấy, ông ấy nói rằng không nhìn thấy con bé.” “Chết thật! Mong là hắn không giật mình!” Hàn Ấn tim bỗng thót lại và kêu lên. “Nhanh lên! Mau dẫn đường…” Trạm thu mua phế liệu. Chiếc xe cảnh sát lao như bay tới nơi. Xe vừa dừng lại, Hàn Ấn và Diệp Hi cùng cha đứa bé lao ra khỏi xe và đi thẳng vào căn nhà cấp bốn trong sân nhỏ. Đáp lại tiếng gõ cửa gấp gáp, một ông lão khoảng 60 tuổi mở cửa. Người đàn ông có vẻ hòa nhã, quần áo giản dị và gọn gàng, trông giống như một ông lão hàng xóm tốt bụng. Nhìn thấy nhiều người, ông ta từ tốn hỏi, “Các anh chị tìm ai? Có phế liệu cần bán à?” Vừa giáp mặt, Diệp Hi bất giác dừng lại, dáng vẻ có đôi chút ngập ngừng. Giống như cô, cha của cô bé cũng không thể tin rằng một ông lão như vậy lại là con yêu râu xanh mặt người dạ thú. Nhưng ngược lại, trước ba người điệu bộ sừng sộ đứng ngay ngưỡng cửa, ông ta sao lại bình tĩnh ung dung như thế, điều này
có gì đó bất thường? Hàn Ấn không do dự như hai người kia, và cũng chẳng cần giữ thái độ tôn trọng – một lão già như vậy không đáng được tôn trọng. Anh đẩy ông ta sang một bên và lao vào nhà. Bố cục của căn nhà giống như ngôi nhà cô bé ở, cũng có hai gian bên trong và bên ngoài nhưng rộng hơn đôi chút. Bên ngoài rất đơn giản, có bếp lò gạch, tủ bát và một số đồ lặt vặt. Bên trong không có nhiều đồ, một chiếc giường đơn cạnh cửa sổ, đối diện một cái bàn thấp, phía trên đặt một chiếc ti-vi nhỏ, một tủ quần áo cũ ở lối vào, cao và rộng, trông giống như “món đồ cổ”, có lẽ được ông lão này lọc lại khi thu gom phế liệu. Đảo qua bên trong và bên ngoài trong nháy mắt, tất nhiên, tủ quần áo, chỉ có tủ quần áo là có thể giấu người. Cô bé sẽ ở trong tủ quần áo? Cô bé còn sống không? Tim Hàn Ấn như nhảy ra khỏi lồng ngực, nín một hơi sâu, nhìn chằm chằm vào tủ quần áo. Người đàn ông lớn tuổi – chủ nhà lúc này đỏ mặt, thở dồn dập, cơ thể cũng vô thức run lên lấy bẩy. Nhìn thấy cảnh đó, Hàn Ấn gần như chắc chắn rằng cô bé bị giấu trong tủ, sợ rằng không còn sống nữa, mà chỉ còn là cái xác. “Cháu, cháu nhất định phải còn sống!” Hàn Ấn thầm cầu nguyện trong lòng, tay run run với lấy tay nắm tủ và kéo mạnh. Khoảnh khắc này mãi mãi không thể nào quên! Nếu chỉ là một cơn ác mộng thì tốt biết bao. Một cô bé, một cô bé mười mấy tuổi, đang tuổi học trò, sao lại gặp cảnh trớ trêu thế này? Trần gian còn có cái ác nào hơn cái ác này! Cô bé Vương Hồng cả người trần truồng, cơ thể bầm dập vết
xanh tím, co ro nằm trong tủ. Đôi mắt to ngây thơ nhìn trân trân, mặt mày sưng húp, miệng còn bị bịt bằng băng dính. Tay và chân của cô bé đều bị băng keo trói chặt,