Hồi còn ở với nhau thì ngày nào cũng rục rịch kiện cáo này kia, giờ già hết rồi, lại muốn qua bên kia được đoàn tụ. Cái tình nó vậy. Sư ông tụi con nấu ăn ngon lắm, Thầy hơn mấy Sư chú tụi con ở chỗ, được Sư ông chỉ cho nấu nhiều món, có mấy món đã thất truyền từ lâu, chỉ tới ngày giỗ Sư ông Thầy mới gượng xuống bếp nấu, chứ bây giờ già, tay chân lẹt xẹt, làm không còn nhanh nhẹn như hồi trước nữa. Nói ra thì xấu hổ, chứ Sư ông tụi con nấu cho huynh đệ Thầy ăn còn nhiều hơn là huynh đệ Thầy nấu cho Sư ông. Sáng dậy mấy huynh đệ mặc áo lên công phu, Sư ông đã lục đục đi xuống bếp cắt gọt xào nấu. Công phu xuống mấy đứa làm biếng còn nằm ngủ thêm, chứ ở dưới là cơm nước đã ra bàn, Sư ông kêu mấy đứa xuống ăn rồi đi học. Trưa về là mâm cơm dọn đã tươm tất, chỉ việc ngồi vào bàn ăn. Sư ông tụi con đa tài lắm, làm gì cũng được, cái gì cũng dạy được, mà việc nào cũng đến nơi đến chốn. Những cái Thầy dạy tụi con, cũng từ Sư ông mà có, nhưng chỉ là vài hạt bụi dưới gót Sư ông thôi. Thầy có phước
duyên được gần Sư ông nhiều, được Sư ông sai nhiều việc, học được từ Sư ông cũng không ít. Thầy nhớ, Tết năm nào Sư ông gọi Thầy với Sư chú Đức Định xuống bếp dạy cách gói bánh tét. Sư ông chỉ từng cách chọn lá, lau lá, ngâm nếp, nhào nhân bánh, cột dây lạc, lăn bánh cho ráo nước... Bữa về Tổ đình thấy mấy Sư chú ngồi dạy mấy Sư em tụi con gói bánh trước tháp Sư ông, tự nhiên Thầy chảy nước mắt. Sư ông tụi con hát cũng hay nữa. Trên Vọng Nguyệt Lầu năm đó, có Sư ông, Thầy, Sư chú Chơn Phát, Chơn Đạt, Chơn Thành, Đức Định ngồi quây quần bên Sư ông dạy hát. Bài hát năm đó là bài Thiền ca của Sư ông Làng Mai, “Ta hạnh phúc, từng giây phút này...” Sư ông nói, “Tụi con lo học để sau này Hoằng pháp cho Thanh thiếu niên, chớ giới trẻ bây giờ mà biểu nó ngồi tụng kinh niệm Phật, không đứa nào đến chùa đâu.” Trong các huynh đệ, Thầy là người làm Sư ông buồn nhiều nhất, vậy mà chưa bao giờ Sư ông đánh Thầy một roi. Mỗi lần Thầy sai, Sư ông kêu vào phòng rồi dạy, mỗi lần vậy Thầy thấy Sư ông buồn. Nhưng rồi tuổi trẻ hiếu thắng, bản ngã ngút trời, dạy đâu rồi quên đó, sau này lớn mỗi lần sai thì Sư ông lại im lặng, đợi khi nào nhận ra, tự vào phòng xin sám hối thì Sư ông mới mở lời. Có mấy lần, Thầy nhụt tâm, đòi bỏ về không tu nữa, Sư ông cũng gật đầu, nói con muốn đi đâu thì đi. Lúc sau thấy Thầy xếp đồ đạc vô thùng, Sư ông lại qua hỏi Thầy làm gì đó, đi đâu, rồi lại dạy. Thầy còn nhớ, có một đêm Thầy vô xin Sư ông đi về không ở nữa, Sư ông gật đầu. Đồ đạc đã xếp xong, hai ba giờ sáng Thầy xuống điện Đại Bi đóng cửa ngồi một mình, Sư ông cũng không ngủ, bật đèn đi kiếm Thầy cả đêm. Thấy dép Thầy trước thềm điện Đại Bi, Sư ông giả bộ mở cửa vô lạy Phật, rồi ngồi xuống với Thầy, Sư ông nói Thầy ôm Sư ông lại, tối đó hai Thầy trò ôm
nhau khóc. Sư ông nói Thầy cố lên, chỉ có con bỏ Thầy, chứ đời nào Thầy bỏ con. Đêm đó, Thầy nhớ miết, không bao giờ quên được. Lòng từ bi của Sư ông tụi con, Thầy chưa thấy ở đâu được. Đệ tử hư nhiều, làm Sư ông buồn miết, Sư ông rầy xong cũng im lặng, đứa nào hiểu rồi tự sửa mà tu. Lỗi lầm chúng điệu như bụi bay đầu gió, hết lần này đến lần kia, vậy mà Sư ông cứ bao dung, mở lòng, tạo cơ hội cho đứa này đến đứa khác. Sư ông thường nói, “Dưỡng bất giáo, phụ chi quá. Giáo bất nghiêm, sư chi đọa. Mỗi lần tụi con hư, là Thầy thấy mình sai, bởi vì dạy không nghiêm là lỗi của Thầy.” Ngày xưa mỗi lần Sư ông rầy, Thầy nghĩ Sư ông không thương mình, nên mới mắng mới la. Mỗi lần vậy, Thầy giận Sư ông dữ lắm, nhưng đâu dám nói, Sư ông cũng im lặng. Sư ông hay nói, “Tụi con có hư có nên, có giỏi có dở, có mắng Thầy hay giận Thầy, thì tụi con vẫn là đệ tử của Thầy, không bao giờ Thầy bỏ tụi con. Khi nào mấy đứa con làm Thầy, có đệ tử, thì nhìn lại mới hiểu được lòng Thầy.” Năm tháng trôi đi, rồi Thầy cũng làm Thầy, cũng có đệ tử, có tụi con. Mấy lúc tụi con hư, Thầy la vậy, rồi thôi. Có mấy đứa hiểu lầm Thầy, mà đâu phải vì vậy mà Thầy bỏ tụi con, Thầy cứ im lặng, để đứa nào thấy mình lớn thì tự sửa. Bây giờ không hiểu thì sau này nó sẽ hiểu. Đến bây giờ Thầy mới hiểu được cảm giác của Sư ông ngày đó, đúng là nuôi con mới biết ơn cha mẹ, làm Thầy rồi mới hiểu được lòng Thầy ngày xưa. Nhiều đêm Thầy nằm, nhớ Sư ông, thèm được nhỏ lại để đứng chắp tay nghe Sư ông dạy. Giờ thì cũng mười mấy mùa mai nở, người xưa cũng đã thành thiên cổ. Vậy đó. Sư ông cứ bao dung mãi, hết lần này đến lần khác, vậy mà có đứa nào chịu hiểu. Năm đó, Thầy buồn Sư ông, Thầy không về Từ Quang nữa, Thầy nghĩ là mình làm đúng. Chỉ nghĩ đơn giản, mình đi mình muốn
làm gì làm, từ nay không còn phụ thuộc vào Sư ông nữa, cứ nghĩ không còn mình làm khổ Sư ông nữa, Sư ông sẽ nhẹ lòng. Nhưng Thầy đã sai. Sau này Sư ông không còn nữa, mấy Sư chú tụi con kể lại, ngoài mặt thì Sư ông bảo để nó đi, nó muốn làm gì làm, đủ lông đủ cánh thì cứ tự tìm chốn ở, cứ ra đời để cuộc đời dạy bảo. Nhưng rồi bao nhiêu đêm Sư ông không ngủ, vẫn cứ nằm gác tay lên trán thở dài, chảy nước mắt. Vì Thầy ở với Sư ông lâu nhất, được Sư ông dạy, được gần gũi làm việc với Sư ông nhiều nhất. Thầy đi cũng đâu phải vui gì, nhiều đêm cũng nhớ Sư ông da diết, nhớ Từ Quang đến cồn cào cái bụng, cũng muốn xách va li chạy về. Nhưng rồi cái cứng đầu của tuổi trẻ giữ lại, nhớ rồi lại gác qua một bên. Mấy năm sau, khi đi đã thấy đủ, một mình lăn lộn với cuộc đời, té vài lần rồi tự mình đi tiếp, thấy cái hờn giận của năm xưa đã thôi còn nặng nữa. Thầy lại về Từ Quang. Thầy cứ nghĩ Sư ông còn giận Thầy nhiều lắm, Thầy nghĩ Sư ông sẽ không nhìn mặt đứa đệ tử ngông cuồng này nữa. Nhưng không. Hôm đó, Thầy xách cái ba lô bước vô cổng chùa, cảnh xưa vẫn vậy, Thầy nhìn đâu thấy cũng có dáng mình ngày xưa. Ngó dáng Sư ông con đang đứng trước thềm Chánh điện, bao nhiêu năm Sư ông đã khác nhiều, không còn nhanh nhẹn như hồi đó nữa. Thấy Thầy bước vô, Sư ông lặng lẽ quay vào. Thầy nghĩ Sư ông còn giận, không muốn nhìn mặt Thầy, nhưng không. Sư ông xuống bếp, múc cho Thầy tô bánh canh, để cái muỗng bên cạnh. Nói mấy Sư chú gọi Thầy xuống ăn. Ăn xong lên phòng thấy Sư ông ngồi uống trà, ngay cái bàn ngày xưa Sư ông hay gọi Thầy đến dạy việc, Thầy lại quỳ dưới chân Sư ông, khóc nức nở như cái ngày còn nhỏ. Về rồi, Thầy lại đi tiếp, biền biệt suốt mấy năm. Ngày Thầy về lại, là ngày Sư ông tịch. Thầy bước vội vô Thiền phòng,
mấy Sư chú đứng cạnh bên, đôi dép Sư ông còn để bên góc giường. Sư ông tụi con nằm đó, tự nhiên Thầy nhớ lại cái ngày xưa mỗi lần vô xin Sư ông ký giấy, thấy Sư ông đang nằm nghỉ, Thầy gõ ba tiếng vô cái tủ bên cạnh giường, Sư ông mở mắt dậy đeo kính hỏi có chuyện gì. Mà bây giờ Sư ông nằm đó, im lặng, không mở mắt ra nhìn đứa đệ tử đi xa mới về... Vậy mà cũng mấy chục năm trôi qua, mỗi năm Tết đến Thầy về tảo tháp Sư ông, nhìn ra ngoài sân mà nhớ tết năm nào huynh đệ còn đông đủ ngồi giữa sân nghe Sư ông kể chuyện ngày trước. Thầy nhớ không lầm năm đó còn Thầy (Chơn Thiện), Sư chú Chơn Phát, Chơn Đạt, Chơn Nghĩa, Chơn Lạc, Chơn Từ (bà Ba), Chơn Thuận (bà Lan), Đức Dũng, Đức Thịnh, Đức Phương. Giờ thì còn lại mấy người, bà Ba với bà Lan thì theo Phật từ mấy chục năm trước. Mấy Sư chú tụi con người thì cũng đã về Tây, người còn nằm trên giường bệnh. Mỗi năm gió bấc về là giỗ Sư ông lại đến, Thầy dẫn tụi con về Tổ Đình, cứ nhìn lên tháp Sư ông mà nghẹn lòng. Hồi đó Sư ông không có cho xây tháp, vậy mà Thầy với mấy Sư chú cũng cãi lời, dựng lên cái tháp để mỗi lần nhìn lên mà nhớ, cũng để tụi con sau này về thăm chốn Tổ, có cái mà mường tượng đến Sư ông. Thật ra trong tháp đâu có gì, chỉ có tấm y cũ với quyển sổ tay Sư ông hay mang theo mỗi khi đi làm Phật sự. Chứ Sư ông tụi con khai sơn Tổ đình, phát dương Phật giáo cả một vùng, không dựng tháp e cũng hổ lòng với hậu thế. Nhớ năm nào, lúc mà mấy Sư chú tụi con lớn cả, thọ Đại giới xong, ai cũng nghĩ mình lớn. Mỗi lần Sư ông dạy xong cứ nghĩ Sư ông đã già, lẩm cẩm nên lúc nghe lúc bỏ. Mỗi lần giỗ, mấy anh em lại ngồi nhắc, nói tự nhiên thèm ngồi nghe cái ông già lẩm cẩm năm nào la rầy như hồi đó. Ngày mai là năm mới, đáng lẽ phải nói chuyện mới, chuyện vui. Nhưng
cứ mỗi lần gần Tết là Thầy lại nghĩ đến Sư ông. Đức Phật dạy quá khứ không truy tìm, nhưng nghĩ mình phàm phu, tim vẫn còn nóng hổi, Thầy cứ cãi lời Phật mà nhớ mãi cái ngày xưa. Năm nay Thầy còn ngồi đây kể chuyện với tụi con, chứ biết đâu năm sau Thầy lại ngồi trên kia để tụi con rót trà, châm nến. Bữa Bổn Truyền nó nói Thầy lẫn, Thầy cũng cười, thấy mình dạo này lúc nhớ lúc quên. Mấy đêm gần đây cứ nằm mơ thấy Sư ông với mấy Sư chú, bà Ba lâu lâu cũng thấy về. Chắc là cũng đang đợi Thầy qua sum họp. Thôi, cuối năm Thầy nói mấy lời, chỉ mong mấy đứa con chân cứng đá mềm, gắng tu để làm rạng danh nhà họ Thích, xứng đáng là hậu bối của Sư ông, là cành lá của Từ Quang, là tông tôn của Tổ đình Thiên Đức. Tụi con nên nhớ, trong Thầy có Sư ông, trong tụi con cũng có Thầy, có Sư ông. Chúng ta là một dòng chảy, hết Tiếp nhận lại đến ngưỡng Trao truyền. Tổ đình Thiên Đức là gốc, Sư ông khai sơn Từ Quang là cây, Thầy với các Sư chú là cành, tụi con là hoa, là lá. Nhiệm vụ Trao truyền phần nào Thầy đã trọn. Tụi con hãy kế thừa rồi tiếp tục đưa dòng chảy đó lưu truyền mãi mãi về sau, để khi Thầy qua bên đó, cũng không xấu hổ khi gặp lại Sư ông, Sư cố. Đó, Giao Thừa tới rồi kìa, mấy chú ra chuẩn bị đánh Bát Nhã, Bổn Nguyên xông lư trầm cho bén, khói phải nghi ngút lên. Hồi đó Sư chú Đức Định bị sư ông rầy miết bởi xông trầm mà không thấy khói đâu. À, Bổn Truyền nhớ châm cho Thầy hai ấm trà mới, một ấm rót cúng Phật đầu năm, một ấm cúng Sư cố và Sư ông, nhớ lấy dĩa mứt gừng đặt lên bàn Tổ, trời lạnh, mời Sư ông dùng miếng cho ấm bụng. Mà Thầy vừa nghe thấy tiếng Sư ông ở đâu đó, “Trống Bát Nhã đầu năm, đánh phải cho mạnh, nghe thật dũng, vang rền cả trời đất. Chứ đánh yếu xìu vậy, nghe không phấn chấn gì hết!”
Giao Thừa năm Kỷ Sửu - 2069
"N Nhật ký của một ông già gày 16/07/Tân Mão - 2071. Hôm qua vừa Tự Tứ xong, Vu Lan cũng qua rồi. Mấy Thầy về đây ở An cư ba tháng xong thì ai cũng về chùa nấy, người tiếp tục đi học, người thì tiếp tục trách nhiệm Truyền trao. Mấy đứa nhà tôi cũng mới xách giỏ đi sáng nay, kéo nhau lên chào, đứa thì lại qua nước ngoài, đứa thì tiếp tục về chùa xây cất gì đó, đứa thì lại ngao du bốn bể. Tôi sai Bổn Truyền vô lấy tiền cho mấy đứa làm lộ phí. Mấy đứa mới nói “Tụi con lớn rồi, tụi con tự lo được Thầy ơi. Thầy cứ giữ lo chùa với mấy em còn nhỏ, tụi con có tiền rồi.” Tôi nói, “Mấy ông có lớn ở đâu thì lớn, về đây rồi thì không có lớn hơn ai hết. Thầy cho không phải là đủ hay thiếu, cái quan trọng là để nhắc tụi con có đi đâu thì Thầy lúc nào cũng dõi theo tụi con. Đó là sự quan tâm, sự chia sẻ. Nếu mấy đứa con bước ra khỏi chùa, lên chào Thầy mà Thầy chỉ gật cái đầu thì tụi con đi cũng không có vui, Thầy ở lại cũng chột cái lòng. Sư ông Từ Quang tụi con ngày xưa, hễ mỗi lần đi đâu lên xin là Sư ông cho tiền lộ phí. Không chỉ đệ tử trong chùa không đâu, mà kể cả mấy em Phật tử thanh thiếu niên, cứ đứa nào đi học hay đi làm xa, trước khi đi vô chào, Sư ông cũng nhét cho mấy đồng. Không có nhiều nhặn gì, chỉ đủ cái vé xe, nhưng nó thể hiện cái sự quan tâm, sự chia sẻ. Đến sau này Sư ông không còn nữa, mấy anh chị năm đó giờ ai cũng lớn, thành đạt, sự nghiệp gia đình ổn định, mỗi lần về thăm Thầy đều nhắc đến cái hình ảnh đó. Thầy học được từ Sư ông tụi con cái đó. Mấy đứa con cũng nên học theo. Tiền thì xài cũng hết, chỉ có tấm lòng mới nhớ mãi.”
Tôi nói vài lời, mấy đứa cũng cười, rồi lại đi. Chùa trở lại cái tĩnh lặng vốn có như trước kia. Ba tháng An cư mấy Thầy trẻ về, ngày ngày Kinh kệ sáu buổi, chiều chiều còn đá banh đá bóng, tối tối còn trà nước giữa sân. Nay thì chùa chỉ có tôi, Bổn Truyền thì lo hương đăng, thi thoảng có việc thì tôi sai làm, Bổn Nguyên lo vườn tược, cửa nẻo, với mấy o cơm nước, ai làm việc nấy. Tự nhiên thấy vắng lòng. Chiều xuống, tháng Bảy còn chưa hết mưa, se se lạnh. Thấy tôi ngồi ngoài sân một mình, Bổn Truyền lấy tôi cái mũ len, ra đội cho tôi, nói tôi vào trong để lạnh. Tôi nói con vào trước đi, để Thầy ngồi ngoài đây chút, tự nhiên Thầy nhớ Tổ Đình, nhớ Sư ông, nhớ mấy người hồi năm đó. Năm nay tôi cũng bảy hai rồi, cái tuổi mà người ta hay nói Thất thập cổ lai hy. Sống thì dai mà bệnh duyên mãi cũng nhọc. Tay chân tôi dạo này trở trời, đau nhức mãi, tối tối mấy đứa nhỏ vào bóp tay bóp chân, thêm cái bệnh tim từ trước giờ. Thà đi sớm, để sống lâu năm mà cứ lo cho cái bệnh, không có thời gian tu thì phí. Tự nhiên tôi nhớ Thầy Từ Quang hồi ấy. Năm đó tôi mới hai mươi, Thẩy mới bốn mươi, Thẩy tướng hảo lắm. Nhưng cũng cứ sợ cái bệnh tiểu đường do cái gen của ông thân mà nhịn ăn nhịn uống, kiêng hết cái này đến cữ cái kia, rồi khi ốm xuống, ai nhìn cũng xót. Bà Ba hồi đó, muốn nấu chè cho Thầy ăn thì lại không dám bỏ đường, làm đồ ăn thì không bỏ bột ngọt, phải ít dầu, Thẩy ăn đơn sơ lắm, mỗi bữa chỉ dĩa rau luộc với tô canh chỉ bỏ muối. Với việc chùa đa đoan, Thẩy cứ ốm dần. Mà kiêng kiêng cữ cữ vậy đó, giờ cũng đã thành người thiên cổ. Mỗi lần giỗ, mấy o nấu mâm cơm, thấy món nào món nấy đầy dầu, nêm nếm thì ngọt lịm, mà có thấy Thẩy nói gì nữa đâu! Người ta nói tuổi già, thường sống cho mấy chục năm về trước. Tôi thấy đúng. Từ ngày đổ bệnh, cứ hay nhớ về Tổ Đình ngày xưa, nhớ Thẩy, bà Ba,
bà Lan, mấy Sư chú. Lâu lâu tôi ngủ, cứ thấy mấy người đó về, tôi nghĩ chắc họ cũng đang chờ tôi. Từ Quang năm đó còn nghèo, tôi về làm đệ tử Thầy khi còn chùa tranh vách lá, chùa hồi đó có mấy người, vậy mà vui vẻ, yên bình. Bữa Bổn Nguyên nó tưới cây, bộ đồ lấm đầy đất, nó chạy vô nhà tắm thay xong để đó đi công việc. Tôi vô lấy bộ đồ nó tôi giặt, phơi lên. Tự nhiên tôi nhớ Thầy Từ Quang hồi đó, năm tôi còn đi học cấp hai, đồ làm biếng giặt, để dồn trong nhà tắm. Thẩy qua phòng, thấy vậy nên gom ra giặt. Hồi đó chùa có hai Thầy trò, tối tôi thức khuya học bài, ngủ quên, sáng dậy Thẩy lên công phu một mình, để tôi ngủ. Nhớ có mấy lần bệnh, Thẩy kêu ai mà không bệnh, không hỏi han gì, mà lại đưa mấy Sư chú hộp sữa, bảo đem qua pha cho tôi uống. Tình Thầy trò, nó cứ nhẹ nhàng, nhỏ nhặt. Bà Ba hồi đó, theo Thầy Từ Quang về từ lúc chùa chưa có cái chi, cơm nước mười mấy năm trời một mình bà Ba lo. Tôi còn nhớ tôi có viết một bài về bà Ba đăng trong cuốn Kỷ yếu của chùa. Nhắc tới Từ Quang là phải nhắc tới bà Ba, nhớ cái tô bánh canh, tiếng lách tách cắn hột dưa trước thềm chùa. Bà Ba hay nói, “Mốt tui chết, đừng cúng chi hết, cứ để lên bàn thờ tui đĩa hột dưa là tui ưng lòng.” Nên từ đó về sau, mỗi lần kỵ giỗ, thiếu gì thiếu, chứ không bao giờ thiếu đĩa hột dưa, ly cà phê nhiều sữa. Cái xe đạp cũ của bà Ba coi vậy mà chợ đò, nuôi Tăng chúng suốt mấy năm trường. Ngày bà Ba mất, cái xe rồi cũng lạc đi, giờ mà biết nó ở đâu, tôi cũng sẽ đem về. Thầy Từ Quang có nói, “Thầy còn nợ bà Ba một món nợ ân tình mà không bao giờ quên được.” Hồi đó, bà Ba với bà Lan như mặt trăng với mặt trời, không ai nhịn ai, người quan văn người quan võ, kiện cáo suốt ngày. Bà Ba con nhà quan võ, thẳng thắn bộc trực, còn bà Lan văn vẻ yêu kiều, nói chuyện một Đường
thi, hai Khổng Tử, hiếm khi nào thấy hai bà ngồi nói chuyện nhẹ nhàng với nhau. Vậy đó, rồi giờ cũng mỗi người riêng một ngày giỗ, có dành nhau nữa đâu. Nhớ mỗi lần, hai bà mà gây lộn là mấy chú nhà mình nhảy vô can, vụ án hai bà kình nhau dưới vườn rau hồi đó trở thành kinh điển, nghĩ lại ai cũng buồn cười. Mỗi bà mỗi tính, nhưng ai cũng có cái dễ thương. Bà Ba thẳng thắn nói tiếng một tiếng hai vậy đó, mà thương mấy chú điệu, nhất là tôi. Không ai mượn tiền bà Ba được, chỉ có mình tôi bà Ba mới cho mượn. Sáng dậy là bà Ba pha cho ly cà phê để trên bàn làm việc, nấu gì cũng chừa cho, đậy lồng bàn lại. Bà Lan thì không bao giờ nặng lời hay lớn tiếng, giận ai tức ai chỉ dùng thơ văn mà nói. Lúc thì mượn truyện Kiều của cụ Nguyễn Du mà kể lể, khi thì lấy kinh thư của cụ Khổng Tử mà phân minh. Nhưng có cái nhiệt tình, thương Phật tử, ai vô cũng mến. Hai bà thành những người mà nghĩ về Từ Quang không ai mà không nhắc. Hai bà lần lượt cũng dắt tay nhau về với Phật, Từ Quang sau này cũng nhiều người vô thay cái vị trí đó của hai bà, nhưng ký ức của Tăng chúng những thế hệ đầu không ai quên được hai bà. Mấy chục năm trôi qua như cái chớp mắt, giờ người xưa nay chỉ còn trong ký ức, hiện về qua làn khói hương hay trong giấc chiêm bao ngắn ngủi. Tổ đình Từ Quang nay khang trang đẹp đẽ, không còn sợ mưa dột hay gió bấc về như ngày xưa nữa. Nhưng mỗi lần về lại thấy thiếu, thiếu nhiều lắm. Mấy lúc trở về, tôi đứng nhìn cái cổng chùa mà khóc, mấy chú nhỏ cứ hỏi Thầy làm sao, tôi trả lời không được. Thèm nghe cái tiếng Thẩy quỳ phục nguyện giờ công phu khuya, thèm thấy cái dáng bà Ba mặc áo đà lục đục trong bếp củi, thèm thấy cái cảnh bà Lan mặc áo tràng đi rải cháo mỗi chiều... Giờ thì còn ai đâu. Về Từ Quang vô phòng Thẩy ngày xưa mà cứ ngỡ Thẩy đang ngồi dò
kinh mấy chú nhỏ, cái đơn Thầy nằm từ ngày đó đến nay, mấy Sư chú để nguyên, giăng mùng, còn y đôi dép dưới giường. Mấy Sư chú cũng biết cách làm nhói lòng người ta lắm. Hôm qua Vu Lan, làm lễ Cài hoa hồng, Tăng chúng trong chùa lên lễ Tổ, tôi cầm cái bông hồng vàng cài lên di ảnh của Thẩy, rồi mấy Thầy nhỏ cũng cài hoa lên áo tôi. Một phần để nhớ về nguồn cội, một phần để thế hệ sau thấy có sự tiếp nối và tâm giao giữa nhiều thế hệ. Tôi cũng già thật rồi. Nhiều khi tay cầm cây gậy, cứ chống đi khắp chùa cả buổi, mấy chú hỏi Thầy tìm cái gì, tôi nói cái cây gậy của Thầy đứa nào thấy không? Mấy chú chỉ cái gậy tôi đang cầm, nói tôi nay lẩm cẩm rồi. Tôi thấy cũng mừng, vì sắp được gặp mấy người ngày xưa. Thôi không viết nữa, chắc sau này có nhớ cũng để trong lòng, chứ nay tay nó run, viết hoài mới ra cái con chữ, văn phong càng ngày cũng càng cụt ngủn, nhớ đâu viết đó chứ cũng chẳng còn hay ho gì. Trời tối rồi, tôi vô phòng đây.”
N Khúc ca trên Vọng Nguyệt Lầu hớ năm ấy, cũng vào độ trời đông sắp chuyển, trên Vọng Nguyệt Lầu đêm trăng sáng. Thủ túc huynh đệ chúng con ngồi với Người, cũng bài hát này Người dạy đồ chúng cử khúc ca. Đêm nay, trời thu chuyển hướng, đông đợi nửa hôm. Lại gặp lúc trầm bay quá bán, nhạc cử một câu, bỗng nhớ ngày sư đồ còn nặng nghĩa. Chẳng biết mùa này mây có nặng, gió có chùng, lòng người có đang mang, Nguyệt Lầu còn sum họp...? Nguyệt Lầu nay còn đó, trăng sáng nửa vầng hơn. Thủ túc xưa nay còn đâu đông đủ? Chốn uy Thiền vắng khúc khải hoàn ca! Nay bỗng nhớ về người xưa cảnh cũ, chỉ dám bận lòng một chút, gửi một niệm thương. Khúc ca xưa bỗng cất làm đau đáu lòng người, thôi vài chữ viết ra cho nhẹ lòng hậu bối. Chỉ sợ, đa ngôn thất lễ. Thôi thì, nhất niệm vị dư. Khúc khải hoàn năm xưa xin cất lại, giữ một mình cho những lúc nhu tâm. Mong sao đất ngự yên bình, người xưa cảnh cũ chữ tình vẫn mang. “Ta hạnh phúc từ giây phút này, lòng thanh thản dứt hết âu lo…”
Mỗi câu chuyện là một viên charm lấp lánh, tôi vô tình nhặt được, kết thành sợi Pandora của cuộc đời. Câu chuyện của Phan - câu chuyện ám ảnh nhất mà tôi đã từng gặp. Phan là viên charm đẹp nhất, lung linh và nhói lòng nhất của Lén nhặt chuyện đời.
T Lén nhặt chuyện đời ối nay Phan lại buồn, trời tối nay cũng không đẹp lắm, tối mịt không thấy rõ bàn tay. Chùa trên núi, vốn dĩ đã vắng người, tối lại càng buồn hơn. Phan mở tủ lạnh lấy lon nước trái cây lên men, ra chỗ mấy ngôi mộ phía sau chùa. Cả một dãy phòng, Phan ở đầu, là sát ngay cái khu nghĩa địa cách phòng Phan vài bước, cách chùa một bức tường xi măng. Tạch - Phan mở lon nước, đốt thêm điếu thuốc. Trời tối nay gió nhẹ, không lạnh lắm. Mà phải rồi, gió có mạnh đi chăng nữa, cũng làm sao lạnh được lòng người khi đã qua quá nhiều đau khổ. Chất men ngấm dần, trời càng tối, Phan bật cười như thách thức bóng đêm. Tối à, sao tối bằng đời nhau… *** Hùng sinh ra ở đất miền Trung nắng gió, nhà có hai anh em, cũng không khá giả gì. Ba mẹ quần quật cả đời, cái ăn cái mặc không đủ đầy như bao nhiêu người khác, nhưng cũng chẳng để con mình phải thiệt thòi. Học nửa chừng, Hùng nghỉ. Đứng đầu một băng nhóm giang hồ, chưa việc gì Hùng chưa dám làm. Trên người Hùng chằng chịt những vết xăm, nó là phần ký ức còn lại của những giai đoạn trong cuộc đời. Hạnh phúc có, tự hào có, mà đau thương cũng có. Tất cả những hình xăm trên người, ngoài việc lưu lại những ký ức, còn có một tác dụng, đó là làm hãi hùng bất cứ ai muốn lại gần. Hùng từng nói, anh không mổ tim anh ra được, chứ không anh cũng khắc nó vào tim. Đằng sau những hình xăm là những nỗi đau, những miền ký ức rời rạc,
đau thương. Không dễ gì một ai có thể chạm được cái thứ đang nằm sau những bức hình xăm đó. Cái thứ nóng hổi, thình thịch, nhưng đầy vết thương. Sẵn sàng chảy máu khi có ai đó đụng vào. Bên ngoài, người ta nhìn thấy Hùng là một đứa lạnh lùng, ngang tàng, bất chấp, sẵn sàng làm bất cứ thứ gì Hùng muốn. Chỉ cần đừng đụng đến gia đình, thứ gì Hùng cũng làm được. Chả ai nhìn Hùng bằng con mắt thiện cảm. Cũng đúng thôi, một đứa đứng đầu một băng nhóm giang hồ, mở miệng là chửi thề, chém giết thì có cho tiền cũng chẳng ai cho nó là đứa đường hoàng. Ngay cả những gia đình trong xóm dặn con mình, chơi với ai thì chơi, nhưng chừa cái thằng Hùng ra, có ngày mang họa. Chính vì vậy, Hùng rất ít bạn, mà hình như là không có. Ngoài những tụi đàn em một dạ hai vâng trên bàn nhậu, hay những đêm cầm dao lao vào băng đảng khác, Hùng chẳng có ai. Những lúc một mình, cởi trần, một lon bia, một điếu thuốc bên bờ biển. Điếu thuốc mập mờ trong đêm, khói thuốc ngang tàng bay lên rồi biến mất, như chính đời Hùng, vẫy vùng mãi, biết bao giờ được bình yên? Mỗi lần như vậy, người ta nghĩ chắc nó hết tiền, chắc mới bị người ta đánh... nên mới buồn. Bởi thế, nên cái làn khói thuốc mờ ảo vô tình lại là bức tường ngăn cách Hùng với mọi người xung quanh. Đã không muốn đến gần, thì đừng nói chi đến chuyện chạm được cái thứ đằng sau làn khói đó. Hùng cười khẩy mỗi khi ai đó nhìn mình. Tâm sự của Hùng, chắc chỉ mình biển thấu. Hùng còn một đứa em, tên Sỹ, nó học giỏi, đẹp trai, là niềm tự hào còn lại của gia đình. Thua tuổi Hùng khá xa nhưng anh em thương nhau hết mực. Giống Hùng ở chỗ, sẵn sàng sống chết với những ai muốn đụng tới gia đình. Không phải như những đứa giang hồ khác xem trọng bạn bè anh
em mà làm khổ gia đình. Trong một đêm lao vào nhau với tụi giang hồ khác, tay Hùng bị thương, có khả năng hoại tử, mọi hy vọng dường như dập tắt. Mẹ Hùng hốc hác, nghĩ nếu bây giờ chết để cứu con, bà cũng bằng lòng. Lại một hình xăm nữa được khắc lên. Một chiều Hùng mang cánh tay còn đang băng bó đi về phía biển, thủy triều đang dâng, sóng vỗ ào ào như đánh vào lòng người rối ren trăm ngàn mối. Hùng thấy đời mình như bọt biển, vào bờ chưa kịp bình yên thì một cơn sóng nối tiếp ập vào đánh vỡ, tan tành... Tiếng chuông chùa đâu đó vang lên, Hùng giật mình. Bước theo con đường nhỏ nơi phát ra cái âm thanh đó. Nhà Hùng cách ngôi chùa chừng vài trăm mét, thỉnh thoảng nghe khi có dịp đi ngang, nhưng chưa bao giờ Hùng thấy thú vị từ tiếng chuông đó. Hùng bước vào chùa, tiếng mõ cốc cốc nhỏ rồi lớn dần, tiếng tụng kinh lúc bổng lúc trầm, hòa vào gió chiều đang xuống. Một chút bình yên tràn vào người, Hùng bước đến gần hơn, nhìn qua khe cửa sổ. Các sư Thầy mặc áo vàng quỳ trước tượng Đức Phật, khói trầm bay nhẹ, chuông khoan khoải ngân. Hình ảnh lần đầu tiên trong cuộc đời Hùng trông thấy mà ấn tượng đến vậy. Hùng bất giác chắp tay, đứng ngoài thềm, nhìn tượng Phật qua cánh cửa, không dám bước vào trong, sợ làm động đến các sư Thầy đang đọc kinh. Và sợ, một đứa dơ bẩn đầy tội lỗi như mình, sao dám bước vào làm ô uế chốn tịnh môn. Hùng cầu nguyện, bằng tất cả năng lượng bình yên mình đang có, Hùng nhớ tới mẹ. Hùng thấy mình là một thằng con trai hai mươi mấy tuổi, chưa một ngày làm mẹ vui, chưa bao giờ làm mẹ thôi lo lắng. Bên mẹ là những chuỗi ngày khiến mẹ phải bất an, đau đáu.
“Mẹ con khổ nhiều rồi, nếu cánh tay của con lành lặn, con sẽ đi tu để đền ơn Phật. Chỉ mong cho mẹ con hết khổ.” Và cánh tay Hùng lành thật. Hùng lấy hết can đảm để nói với ba mẹ về ý định đi xuất gia. Hùng nói, cả đời con, từ nhỏ đến lớn, chỉ biết gây đau khổ cho gia đình và mọi người xung quanh. Chính bản thân con còn chưa cảm nhận được thế nào là hạnh phúc. Ba mẹ thương con, thì thương cho cả quyết định của con. Cho dù có sai, cũng là do con quyết định. Con đi tu, sẽ nhiều người bớt khổ... Hùng ra chào biển lần cuối, không phải là không bao giờ gặp lại. Chỉ là Hùng của những tháng ngày chông chênh sau đó, sẽ tái sinh. Nét ngang tàn bụi bặm, xin gửi biển cất giùm... Rồi ngày đó cũng tới. Nắng vừa lên, sân chùa trên núi đã ồn ã, tiếng xe tiếng cộ, tiếng người nói cười xôn xao. Tụi thanh niên bạn bè của Hùng cũng có mặt để chia tay thằng anh em. Đứa đầu đinh, xăm trổ, sẹo sọ đầy người. Chẳng ai nghĩ mấy đứa này sẽ đến chùa. Tụi giang hồ xem trọng nghĩa khí, chí cốt tình thâm. Băng nhóm nào cũng vậy, ngày kết tình nghĩa huynh đệ cũng đã từng nâng ly thề thốt, trời long đất lở vẫn là anh em. Hôm nay, đứa thì mặc áo sơ mi, đứa thì quần tây, chải tóc, còn có đứa mặc vest, khác đi cái bộ dạng bụi đời thường ngày của tụi nó. Nhìn tụi nó lúng túng khi vận mấy bộ đồ đường hoàng, thấp tha thấp thỏm lần đầu tiên bước vào chùa, cầm điếu thuốc cũng không dám hút. Hùng cười. Đằng sau cái vẻ chợ búa lưu manh thường ngày, cũng có lúc tụi nó dễ thương đến vậy. Ngày còn làm trong nhóm, Hùng chỉ ngổ ngáo với những ai cần ngổ ngáo, chỉ hung hãn với những ai cần hung hãn. Còn đối với anh em chí cốt, tình nghĩa như bát nước đầy, thương nhau hết mực. Nên tụi nó trọng. Ngày
chia tay anh em đến cả trăm đứa. Khoác tay Hùng trước cổng tụi nó cười, anh yên tâm, anh có làm gì, đi đâu tụi em vẫn bên cạnh anh, chẳng đứa nào quên anh đâu. Ở trong chùa, ai đụng chạm anh thì hú tụi em tiếng, tụi em có mặt xin lỗi giùm. Cả đám cười, Hùng đỏ mắt. Tốt hay xấu thì tụi nó cũng là cả một thời thanh xuân của Hùng. Ngoài đám đàn em, còn có bà con dòng họ Hùng sống ở xứ này, ngó qua ngó lại chắc chẳng thiếu ai. Nhà Hùng vốn theo đạo Thiên Chúa, chẳng ai biết gì đến chùa. Nghe tin thằng cháu đi tu, đến để chia tay thì ít, chủ yếu để xem coi một thằng giang hồ cơ lữ, nổi tiếng hoang đàng mà cũng có ngày hoàn lương hướng Phật. Phải đến tận mắt xem, chứ không trời có sập cũng chẳng ai tin. Chỉ có bố mẹ Hùng và em Sỹ là đến để chứng kiến giây phút Hùng thay đổi. Vừa mừng vừa lo. Mừng vì đời con từ nay đã thôi còn tăm tối. Lo vì sợ con một lúc nào sẽ mỏi gối, và chùn chân... Chính vì vậy, mà lễ xuất gia của Hùng sáng hôm đó, cũng là lễ xuất gia lớn nhất nhì cái xứ đó. Đối với Hùng, đó là ngày kết thúc và cũng là ngày tái sinh. Khi sư phụ đưa chiếc dao cạo lên đầu, mái tóc xanh của Hùng rơi xuống. Hùng nghe bật lên tiếng khóc của mẹ. Hùng chợt nhớ tới ngày nhỏ, theo mẹ ra đồng, Hùng nghe cả mùi hương lúa thoang thoảng thơm, đội cái nón lá theo sau lưng mẹ. Mẹ nói Hùng học giỏi, sau này không phải khổ như mẹ đâu. Hùng nói vâng, con sẽ học thiệt giỏi, sau này còn nuôi mẹ. Hùng nhớ đến ngày Hùng quyết định bỏ học, mẹ ngồi một góc nhà, nhìn ra ruộng, mông mênh. Đàn chim đang ríu rít ngoài đồng, tưởng như đời con
mình cũng lao chao vô định. Hùng nhớ cái ngày Hùng đánh người nhập viện, mẹ chạy vạy khắp nơi để cứu người ta. Rồi mẹ sợ con phải đi tù, sợ con xa mẹ. Hùng vẫn nhớ cái gương mặt mẹ khi cầu xin người khác đừng bắt con mình. Con tui sai, nhưng tui chịu. Hùng nhớ tới ngày mới bước ra khỏi tù, mẹ đang ngồi bên mâm cơm trong căn nhà cũ. Vẫn dáng người đàn bà khắc khổ đó. Mẹ Hùng reo lên, ôm chầm lấy thằng con trai hư đốn của mình. Hùng tự dặn mình, sẽ không làm mẹ khóc thêm lần nào nữa. Suốt buổi lễ, tiếng mẹ vẫn nưng nức, rức cả cõi lòng. Chỉ có Hùng tự mỉm cười, cảm ơn đời đã bao dung. Và cảm ơn mình chịu để đời bao dung. Từ nay, Hùng đã khác. Hãy gọi Hùng là chú Phan. Huế là nơi chú Phan sẽ đến, vùng đất miền Trung Phan chọn để khám phá, mở mang kiến thức về Phật học. Lần đầu tiên Phan có cảm giác phải xa cái xứ biển thân yêu. Và cả bố, mẹ, em Sỹ của Phan. Đến với cái vùng đất hoàn toàn xa lạ, Phan bỡ ngỡ với tất cả mọi thứ diễn ra xung quanh mình. Ở cái xứ lạ quắc lạ quơ này, may mà còn có biển. Chỉ cần Phan đến, biển tự biết Phan buồn hay vui mà điều chỉnh cơn sóng. Ngày đó, biển nuốt trọn từng tiếng thở dài, từng giọt nước mắt, từng câu chửi thề... nên đối với Phan, biển là một