Hồi còn bé, khi anh với nó mới đến Sausalito, nó rất sợ mỗi khi phải
đi trên cầu tàu. Anh nghĩ là vì ngay sau hôm vừa chuyển đến, Bailey thấy bà Hahn trượt chân, suýt nữa là ngã xuống nước rồi.” “Thế thì sợ thật!” tôi nói. “Ừ. Thế nên suốt hai tháng đầu, nó toàn bắt anh cầm tay đi hết cầu tàu mới thôi. Từ cửa tới tận bãi đậu xe. Vừa đi, nó vừa hỏi, Bố ơi, bố giúp con nhé? Bố không để con ngã nhé? Từ cửa nhà ra xe mà cảm tưởng như mất đến sáu tiếng rưỡi đồng hồ.” Tôi cười lớn. “Anh phát khùng vì chuyện ấy. Lần thứ một trăm phải làm thế, anh nghĩ anh đã hơi phát khùng.” Anh dừng lời. “Nhưng em có biết điều duy nhất tệ hơn chuyện ấy là gì không? Là ngày nó không cần anh dắt nữa.” Tôi đưa tay nắm khuỷu tay anh rồi cứ giữ nguyên đó. Tim tôi như tan chảy trước tình yêu anh dành cho con gái. “Rồi sẽ đến lúc anh không thể bảo vệ nó trước mọi thứ được nữa,” anh nói. “Anh thậm chí sẽ không thể nói không với nó được nữa.” “Em hiểu,” tôi nói. “Bây giờ em đã không thể nói không với nó rồi.” Anh nhìn tôi, tay vẫn cầm ly rượu, phá lên cười. Anh cười thực sự - câu đùa của tôi xoáy qua nỗi buồn của anh, phá nó thành trăm mảnh vụn. Anh đặt ly xuống rồi quay sang tôi. “Việc anh ngồi dưới này kỳ quặc ở mức độ nào trên thang điểm một đến mười?” “Nếu không tính lợn tiết kiệm?” tôi nói. “Thì sẽ là hai, có thể ba...” “Tính cả lợn tiết kiệm thì sao? Có quá sáu không?” “E là thế.” Anh đặt con lợn tiết kiệm lên một ghế trống rồi khoát tay gọi nhân viên phục vụ quầy. “Anh có thể pha cho vợ tôi một ly theo yêu cầu của cô ấy được không?” anh nói. “Và cho tôi một ly cà phê.” Rồi anh ngả sang tựa trán vào trán tôi. “Xin lỗi,” anh nói. “Không phải xin lỗi. Em biết không dễ dàng chút nào, nhưng sẽ không xảy ra ngay ngày mai, nó sẽ không bỏ anh ra đi vào ngày mai,” tôi nói. “Và nó rất yêu anh. Nó sẽ không bao giờ hoàn toàn rời bỏ anh.”
“Điều ấy thì anh không biết chắc.” “Em biết.” Anh để nguyên trán trên trán tôi. “Chỉ mong Bailey không thức dậy rồi phát hiện bọn mình đã đi đâu mất,” anh nói. “Nếu nhìn ra ngoài cửa sổ, em sẽ thấy khách sạn Ritz.”
NhữngNhàThờNhỏ MàuTrắng Elenor H. McGovern ngó nhìn Bailey sau cặp kính hai tròng. “Để tôi hỏi lại cho rõ nhé,” bà nói. “Hai người muốn biết gì?” Chúng tôi đang ngồi trong văn phòng của Elenor tại nhà thờ Tân giáo. Là một trong các nhà thờ cổ nhất ở Austin, đây là một nhà thờ lớn đã hơn một trăm năm tuổi. Và chỉ cách sân vận động hơn nửa dặm một chút. Nhưng điều quan trọng nhất nằm ở chỗ đây là nhà thờ duy nhất - cũng là nơi cuối cùng trong số sáu địa điểm tình nghi - khiến Bailey có cảm giác quen thuộc. “Chúng cháu chỉ muốn tìm danh sách các đám cưới diễn ra ở đây vào mùa bóng chày 2008 thôi,” Bailey nói. Elenor, khoảng ngoài bảy mươi và cao tới gần một mét tám, bối rối nhìn chúng tôi. “Không phức tạp lắm đâu ạ,” tôi nói. “Thực rà, chúng cháu chỉ cần danh sách các đám cưới do mục sư của nhà thờ chủ trì cùng ngày với các trận bóng trên sân nhà của mùa bóng 2008. Chúng cháu cũng không cần các đám cưới diễn ra vào các ngày khác trong các dịp cuối tuần đó. Chỉ cần các đám cưới diễn ra vào đúng ngày có các trận đấu trên sân nhà của đội Longhorns thôi. Chỉ vậy thôi.” “Vậy đấy, cùng thời điểm với các trận đấu trên sân nhà từ mười hai năm trước. Chỉ thế thôi hả?” Tôi lờ tịt giọng điệu của bà đi và tiếp tục như không có gì xảy ra, hy vọng bà đổi ý. “Thực ra, cháu đã nghiên cứu và có chuẩn bị trước rồi ạ,” tôi nói. Tôi đẩy danh sách qua mặt bàn về phía bà. Tôi đã lập biểu đồ lịch thi đấu của Longhorns