phần còn lại của ngôi nhà. Cảm giác riêng tư hơn. Trong phòng có rất nhiều ảnh gia đình - trên tường, trên tủ, trên giá sách. Nhưng bàn làm việc thì để dành riêng cho các bức ảnh của Bailey. Ảnh lồng trong khung bạc, ảnh phóng to gấp đôi cỡ bình thường. Toàn ảnh Bailey hồi nhỏ, mắt đen, tròn như đĩa. Và những lọn tóc xoăn mềm mại - lúc ấy còn chưa nhuộm tím. Và mẹ con bé, Kate. Hầu như trong bức ảnh nào cô ấy cũng chụp cùng Bailey: Bailey và Kate ăn kem; Bailey và Kate ôm nhau trên ghế công viên. Tôi chăm chú ngắm một bức ảnh chụp Bailey mới vài ngày tuổi đội chiếc mũ xanh nhỏ xíu. Katie nằm trên giường cùng nó, hai mẹ con môi kề môi, trán cọ trán. Trái tim tôi như tan vỡ. Chắc vì thế mà Nicholas muốn bày ảnh trước mắt - muốn bày tất cả những bức ảnh kia trước mắt - để chúng bóp nát trái tim ông ta mỗi ngày. Cái xấu cái tốt là như thế. Chúng không cách xa nhau là bao - và thường cùng có một xuất phát điểm là lòng khao khát can trường muốn làm điều gì đó khác biệt. Ned vẫn đứng nguyên ngoài hành lang. Thấy Nicholas gật đầu, anh ta liền đóng cửa. Cánh cửa gỗ sồi dày. Vệ sĩ ngoài hành lang, chó ngoài hành lang. Chỉ hai chúng tôi trong phòng, không ai khác. Nicholas lại gần quầy rượu rót mỗi người một ly. Ông ta đưa ly cho tôi rồi quay ra ngồi sau bàn làm việc, dành cho tôi chiếc ghế trước bàn - chiếc ghế da lớn khắc vàng. “Xin cứ tự nhiên.” Tôi cầm ly rượu ngồi xuống. Nhưng không thấy dễ chịu khi phải quay lưng về phía cửa ra vào thế này, bởi tôi thoáng nghĩ ai đó hoàn toàn có thể bước vào phòng giơ súng bắn tôi. Một trong hai vệ sĩ có thể làm tôi bất ngờ, hai con chó có thể nhảy xổ vào. Chính Charlie cũng có thể lao vào. Biết đâu tôi đã hiểu nhầm ý Owen trong di chúc thì sao. Biết đâu trong khi cố gắng giải phóng Bailey và Owen khỏi điều chính tôi đã đẩy họ vào sâu hơn trước, tôi đã tự bước chân vào hang hùm một mình. Một sự hy sinh. Trên danh nghĩa Kate. Hoặc Owen. Hoặc Bailey. Tôi tự nhủ không sao. Tôi chấp nhận thế khi đến đây làm điều tôi muốn làm. Tôi đặt ly rượu xuống rồi lại đưa mắt nhìn các bức ảnh chụp Bailey hồi
nhỏ. Tôi để ý thấy một bức ảnh con bé mặc váy dạ tiệc, thắt nơ trên đầu. Bức ảnh khiến tôi dịu lại và hình như Nicholas cũng nhận ra điều đó. Ông ta cầm ảnh đưa cho tôi. “Là sinh nhật lần thứ hai của Kristin. Lúc ấy nó đã nói được cả câu. Tuyệt vời lắm. Tôi đưa nó ra công viên, hình như vào tuần lễ ngay sau đó và tình cờ gặp bác sĩ nhi của nó. Anh ta hỏi thăm nó, nó trả lời hẳn hai câu đàng hoàng,” ông ta nói. “Anh ta ngạc nhiên hết cỡ.” Tôi cầm khung ảnh trong tay. Bailey nhìn tôi, những lọn tóc như khúc dạo đầu cho cá tính sau này của nó. “Tôi tin là thế,” tôi nói. Nicholas hắng giọng. “Nghĩa là giờ nó vẫn thế?” “Không,” tôi nói. “Toàn nhát gừng, ít nhất khi nói chuyện với tôi. Nhưng nhìn chung thì đúng. Nhìn chung thì nó quả là một ngôi sao.” Tôi ngầng lên nhìn nét mặt Nicholas. Ông ta đang giận dữ. Tôi không hiêu vì sao. Có phải ông ta tức giận vì tôi đã làm gì đó khiến Bailey không thích tôi theo cách tôi muốn nó thích mình? Hay ông ta tức giận vì chưa bao giờ được có cơ hội làm gì cho nó? Tôi trả bức ảnh lại cho Nicholas, ông ta chỉnh đi chỉnh lại một cách ám ảnh để đặt nó đúng vào vị trí cũ, như thể đây là việc mà ông ta vẫn làm, giữ từng hình ảnh của nó nằm đúng vị trí mà ông ta có thể tìm thấy. Cảm giác hơi giống như một suy nghĩ viển vông, rằng nếu cứ ôm ấp kỷ niệm về con bé như thế, rồi sẽ đến lúc ông ta tìm lại được cháu gái. “Vậy chính xác ra thì tôi giúp gì được cho cô đây, cô Hannah?” “Tôi hy vọng chúng ta sẽ tìm được tiếng nói chung, ông Bell.” “Nicholas, gọi tôi là Nicholas,” ông ta nói. “Nicholas,” tôi nói. “Và không.” Tôi hít một hơi, dịch người trên ghế. “Ông thậm chí còn chưa nghe xem tôi sẽ nói gì.” “Ý tôi là không, tìm tiếng nói chung không phải điều khiến cô tới đây,” ông ta nói. “Cả hai chúng ta đều biết điều ấy. Cô đến đây vì hy vọng tôi không giống như kẻ mà tất cả mọi người đã nói với cô.” “Không phải thế,” tôi nói. “Tôi không quan tâm tới việc ai đúng ai sai ở
đây.” “Thế thì tốt,” ông ta nói. “Bởi tôi nghĩ cô sẽ không thích câu trả lời thực sự. Người ta thường không thế. Chúng ta có quan điểm của riêng mình và thường sàng lọc thông tin sao cho phù hợp với quan điểm ấy.” “Ông không tin người ta có thể thay đổi suy nghĩ?” tôi nói. “Cô có ngạc nhiên không?” “Bình thường thì không. Nhưng ông là luật sư cơ mà,” tôi nói. “Thuyết phục người khác là phần trọng yếu trong công việc của ông mà?” Ông ta mỉm cười. “Tôi nghĩ cô nhầm tôi với công tố viên rồi,” ông ta nói. “Luật sư bào chữa, ít ra thì một luật sư bào chữa giỏi, không bao giờ tìm cách thuyết phục ai về bất cứ việc gì. Chúng tôi làm điều ngược lại. Chúng tôi nhắc nhở để mọi người hiểu không gì là chắc chắn.” Nicholas đưa tay với hộp thuốc lá màu nâu trên bàn. Ông ta mở nắp lấy một điếu. “Tôi sẽ không mời cô một điếu. Thói quen xấu, tôi biết. Nhưng tôi bắt đầu hút thuốc từ