phần còn lại của thế giới không ít thì nhiều, tự nguyện hay miễn cưỡng chấp nhận, và thế là tiếng Hy Lạp thời cổ đại, như tiếng Pháp trong thời đại chúng ta ngày nay, nghiễm nhiên được coi là ngôn ngữ tinh tế nhất. Tiếng Pháp trong nguyên bản là Douane. Sau đây các từ tiếng Pháp xen vào trong câu sẽ được dịch và để chữ nghiêng cho câu văn không bị gián đoạn. Trường hợp đặc biệt sẽ có chú thích riêng. “Bonsoir, monsieur le commissaire!”* tôi đon đả chào tay nhân viên sở thuế, cố ý nhấn trọng tâm và ngân nga kéo dài âm tiết thứ ba trong từ commissaire. "Tôi cũng như tất cả tài sản của tôi hoàn toàn thuộc quyền kiểm soát của ông. Rồi ông sẽ thấy, tôi là một người trẻ tuổi lương thiện, tuyệt đối tuân thủ pháp luật và không mang theo bất cứ thứ gì lậu thuế. Tôi xin cam đoan là ông chưa bao giờ kiểm tra một món hành lý nào vô hại hơn cái vali này của tôi.”
125 “Xin chào ông thanh tra!” (tiếng Pháp, như tất cả những chữ in nghiêng trong đoạn đối thoại sau). “Ái chà!” ông ta ngẩng lên nhìn kỹ mặt tôi. “Anh có vẻ là một công dân gương mẫu và lại còn vui tính nữa. Nhưng anh nói tiếng Pháp khá lắm. Anh là người Pháp à?” "Dạ phải và không phải”, tôi đáp. "Gần như thế. Có thể bảo là nửa nọ nửa kia, thưa ông. Dù gì chăng nữa tôi cũng là một người ủng hộ nhiệt tình nước Pháp và một đối thủ không khoan nhượng chống lại việc thôn tính vùng AlsaceLorraine*!” Theo Hiệp ước hòa bình Frankfurt chấm dứt cuộc chiến tranh Đức - Pháp (1870 - 1871) nước Pháp bị buộc phải cắt xứ Alsace-Lorraine cho Đức. Nét mặt ông ta giãn ra trong một vẻ mà tôi muốn gọi là tâm trạng cảm độngnghiêm trang. “Thưa ông", ông ta trang trọng tuyên bố, “tôi không làm mất thì giờ của ông nữa. Ông hãy đóng nắp vali và tiếp tục cuộc hành trình đến thủ đô thế giới, với lời chúc tốt lành nhất của một người Pháp ái quốc!” Và trong lúc tôi nhanh tay gom góp mấy món đồ ít ỏi của mình, miệng không ngớt cảm ơn, ông ta đã vạch dấu phấn trắng lên cái nắp vali còn chưa đóng lại của tôi. Tuy nhiên trong khi thu dọn, do một sự tình cờ của số phận, chiếc vali của tôi đã mất đi sự lương thiện mà tôi vừa lớn tiếng cam đoan một cách trung thực, vì sau khi đóng nắp nó chứa trong mình nhiều hơn một món đồ so với trước khi mở nắp. Số là sát cạnh tôi, bên thanh chắn bọc kẽm và quầy kiểm tra hành lý, chỗ làm việc của các nhân viên sở thuế, có một quý bà trung niên mặc áo lông đội mũ nhung hình quả chuông cắm lông chim diệc đang vươn cổ qua chiếc vali mở phanh nóng nảy tranh luận với viên công chức kiểm tra mình, ông này rõ ràng không đồng ý với bà ta về giá trị một món đồ thuộc sở hữu của bà, một tấm đăng ten mà ông công chức cầm trên tay. Những đồ vật đẹp đẽ bà ta mang theo khi đi đường, trong số đó có tấm đăng ten đối tượng tranh cãi bị ông công chức mẫn cán phát hiện ra, nằm lăn lóc gần như lẫn lộn với hành lý của tôi, gần nhất là
126 một cái hộp nhỏ bằng da dê mịn vuông vắn trông như hộp đựng nữ trang, và trong lúc người bạn mới quen đánh dấu đã kiểm tra lên nắp vali tôi thì cái hộp này tự động chui tọt vào đó cùng với những đồ vật khác của tôi. Đó là một sự kiện tình cờ hơn là có chủ ý, xảy ra trong một phút tiện tay giữa bối cảnh ồn ào náo nhiệt, có thể nói rằng đó là hậu quả của tâm trạng cao hứng sau khi tôi trổ tài ăn nói và chiếm được cảm tình của người đại diện pháp luật đất nước tôi sắp đặt chân tới. Trên thực tế tôi không hề nghĩ tới cái hộp trời cho kia trong suốt chặng đường còn lại, và câu hỏi liệu quý bà nọ khi thu thập hành lý lên đường đi tiếp có phát hiện ra mất mát của mình không cũng chỉ thoáng lướt qua trong đầu tôi. Nhưng chẳng bao lâu sau tôi sẽ biết ngay thôi. Thế rồi con tàu chở tôi đi, sau cuộc hành trình tính cả thời gian gián đoạn kéo dài đến mười hai tiếng đồng hồ, chầm chậm lăn bánh vào ga Bắc Paris. Giữa lúc những người phu khuân vác lăng xăng mời chào hành khách hạng sang nhiều hành lý, trong khi những người này còn bận ôm hôn chào hỏi thân nhân bạn bè ra đón và các nhân viên soát vé nhiệt tình chuyền qua cửa sổ cửa lên xuống của toa xe hành lý xách tay và chăn dạ ủ chân cho họ, có một chàng trai trẻ đơn độc âm thầm, giữa cảnh ồn ào náo nhiệt chẳng được ai đếm xỉa tới, tự mình xách chiếc vali nhỏ bước xuống khỏi toa tàu dành cho công dân hạng ba và rời khỏi không gian xô bồ hỗn tạp của nhà ga. Ra đến bên ngoài, trên đường phố bẩn thỉu nhầy nhụa (trời đang lâm râm mưa phùn) cũng có một hai người đánh xe ngựa vung roi về phía tôi gọi “Này! Có đi xe không bồ?" hoặc “cậu bé” hay cái gì đó đại loại như vậy, chắc vì thấy tôi xách vali. Nhưng tôi lấy gì mà trả tiền xe? Sau khi mua vé tàu tôi đã gần như nhẵn túi, dẫu rằng cái hộp nhỏ xinh xẻo kia hứa hẹn một sự cải thiện đáng kể tình hình tài chính của tôi, nhưng ruột gan của nó chưa thể móc ra sử dụng ngay lúc này được. Vả lại đi xin việc làm mà nghễu nghện ngồi xe ngựa thì có lẽ cũng hơi chướng. Do đó tôi đã tính đến chuyện phải cuốc bộ suốt chặng đường chắc là khá xa đến đó, và bắt đầu lễ phép hỏi khách bộ hành đường đến quảng trường Vendôme (tôi tế nhị không nhắc đến cả tên khách sạn lẫn tên phố Rue Saint-Honoré). Rất nhiều người đi qua mà không hề chậm bước
127 dù chỉ để nghe câu hỏi của tôi. Mà thực ra bộ dạng tôi cũng đâu đến nỗi rách rưới lắm, bà mẹ tốt bụng của tôi đã cắn răng bỏ ra mấy đồng bạc sắm sửa cho tôi một bề ngoài tương đối tươm tất lúc đi đường. Đôi giày tôi đi đã được đóng lại đế và vá kín, bên ngoài tôi mặc một chiếc áo choàng ấm có bao tay, và đội một chiếc mũ thể thao càng làm tôn lên vẻ đẹp của mái tóc vàng óng mượt. Nhưng một thanh niên mặt non choẹt đi bộ tự xách vali, không thuê nổi một người phu khiêng hành lý và có vẻ cũng không đủ tiền để đi xe ngựa, thì không đáng để những thành viên của nền văn minh lãng phí một cái nhìn hay một lời nói. Thực ra cũng có thể họ sợ phải dính líu với tôi, bởi tôi mang trên người dấu ấn của một căn bệnh đáng ngại, đó là bệnh nghèo, nó không những nguy hiểm mà còn đáng ngờ, vì nó có thể kèm theo nhiều chứng tệ hại hơn nữa; đối với hạng phế phẩm của xã hội như thế, người đời cảm thấy khôn ngoan nhất là giả đui giả điếc làm lơ. Người ta thường nói “nghèo không phải là một tội”, nhưng đó chỉ là lời nói suông. Bởi nghèo là một cái gì đó vô cùng khó chịu trong con mắt người có của, nửa như một tì vết, nửa như lời oán trách vu vơ, nhìn chung rất đáng ghét, và hậu quả là không ai muốn dây dưa gì với nó. Thái độ xa lánh của con người trước sự nghèo khó đã không ít lần làm tôi đau đớn, và ở đây cũng thế. Cuối cùng, chính tôi cũng chẳng biết tại sao, tôi giữ đại một bà cụ già móm mém đẩy một chiếc xe nôi lỉnh kỉnh đầy bát đĩa lại hỏi, và may mắn làm sao bà cụ không những chỉ đường mà còn bảo tôi chỗ có thể đón xe công cộng để đến cái quảng trường lừng danh nọ. Tôi có đủ vài xu lẻ để sử dụng phương tiện giao thông loại này, nên rất vui mừng cảm ơn người cung cấp thông tin. Càng nói chuyện lâu và nhìn kỹ mặt tôi, cái miệng móm mém không răng của bà lão tốt bụng càng nở rộng trong một nụ cười thân thiện, cuối cùng bà đưa bàn tay gân guốc cứng quèo lên vuốt má tôi và bảo: “Chúa phù hộ cho cậu, cậu bé!” Cử chỉ âu yếm của bà lão làm tôi sung sướng vô cùng, hơn cả sau này khi được nhận vuốt ve từ những bàn tay nuột nà xinh đẹp hơn nhiều... Paris không gây được ngay ấn tượng choáng ngợp ở người khách bộ hành khi mới rời khỏi nhà ga, song càng vào gần đến trung tâm phố xá càng tăng vẻ lộng
128 lẫy huy hoàng. Từ chỗ ngồi chật hẹp chiếm được trên chiếc xe đò, cái vali nhỏ kẹp giữa hai đầu gối, tôi ngước cặp mắt đầy ngưỡng mộ và kính cẩn - lòng tự ái đàn ông không cho phép tôi lộ vẻ sợ sệt - nhìn ra những đại lộ và quảng trường hoành tráng nườm nượp xe cộ và người đi lại, các cửa hàng sáng trưng quyến rũ, các quán ăn và tiệm cà phê mời mọc, các nhà hát mặt tiền rực rỡ dưới ánh đèn khí hoặc đèn điện chói mắt, trong khi người đánh xe xướng lên những địa danh đã bao lần người cha tội nghiệp của tôi nhắc đến bằng giọng run run cảm động: “Place de la Bourse”, “Rue du Quatre Septembre”, “Boulevard des Capucines”, “Place de l’Opéra” và nhiều cái tên khác nữa. Tiếng ồn ào không dứt của đám đông, tiếng la chói tai của dân bán báo, cộng với ánh đèn rực rỡ làm các giác quan tôi như tê liệt. Trước các tiệm cà phê, dưới mái hiên che mưa nắng người ta thản nhiên đóng bộ áo măng tô và mũ phớt, cây ba-toong kẹp giữa hai đầu gối, ngồi bên những chiếc bàn nhỏ như trong nhà hát nhìn ra dòng thác giao thông trước mặt, trong lúc những bóng người lam lũ luồn dưới chân họ nhặt đầu mẩu thuốc lá. Họ chẳng đếm xỉa gì đến những kẻ này và cũng không tỏ vẻ bực mình với việc làm luồn cúi của bọn họ. Rõ ràng họ coi đó là một