phần chính thức không tách rời của nền văn minh với những diễn biến ồn ào vui nhộn họ đang thích thú thưởng thức từ chỗ ngồi an toàn của mình. Đã đến Rue de la Paix nổi tiếng nối liền quảng trường nhà hát lớn với Place Vendôme, tôi xuống xe bên chỗ hàng cột đội bức tượng vị hoàng đế vĩ đại và tiếp tục đi bộ đến mục tiêu đích thực của mình nằm ở Rue Saint-Honoré, con phố chạy thẳng vào Rue de Rivoli theo lời người cha đỡ đầu thông thái của tôi. Tôi tìm ra địa điểm này không khó khăn gì, vì từ xa hàng chữ tên khách sạn “Saint James and Albany” vừa to vừa sáng đã nổi lên đập vào mắt người đi đường. Ở đó người đi kẻ đến tấp nập. Các quý ông quý bà chuẩn bị lên đường đứng cạnh những cỗ xe ngựa chất đầy rương hòm phân phát tiền boa cho đám gia nhân phục vụ mình, trong khi các gia nhân khác hì hục vác hành lý của khách vừa mới đến vào trong. Tới đây hẳn quý độc giả sẽ mỉm cười độ lượng khi tôi phải thú thật rằng, tâm trạng rụt rè bỗng nổi lên giằng co với bản chất táo bạo thường
129 ngày của tôi và ngăn cản tôi bước qua cửa chính tòa nhà kiêu hãnh sang trọng này. Chẳng lẽ quyền lợi và nghĩa vụ kết hợp lại cũng không đủ giúp tôi có thêm can đảm hay sao? Chẳng phải tôi đã được giới thiệu và được nhận vào làm ở đây, và chẳng phải cha đỡ đầu Schimmelpreester của tôi từng là bạn chí thân của người lãnh đạo khách sạn này? Nhưng rồi cuối cùng sự khiêm tốn khuyên tôi không nên sử dụng lối đi của khách qua hai cánh cửa quay bằng kính sáng choang mà theo lối cửa hông như đám gia nhân mặc đồng phục khuân vác hành lý. Có điều bọn này, chẳng biết nghĩ tôi thuộc hạng người nào, nhất quyết không cho tôi đi qua với lý do tôi không phải nhân viên khách sạn, thế là cực chẳng đã tôi đành xách chiếc vali bé tí bước vào khoang kính của một trong hai cánh cửa quay lộng lẫy, và càng ngượng ngùng khi một cậu nhỏ mặc đồng phục đuôi én màu đỏ đứng chực sẵn ở đó xông ra đẩy cửa giúp. “Chúa phù hộ cho cậu, cậu bé!” tôi lúng túng bảo cậu ta, vô tình lặp lại đúng những lời của bà cụ tốt bụng - và làm cậu ta phá lên cười khanh khách như những đứa bé trên tàu lúc giỡn với tôi. Bước vào trong tôi thấy mình lọt thỏm giữa một gian đại sảnh hoành tráng với đèn chùm pha lê, cột đá hoa cương đỏ và một hành lang nhỏ chạy dọc theo tường ở chiều cao lưng chừng, một làn sóng người không ngừng chuyển động trong đó, những người đã ăn mặc chỉnh tề để lên đường, cả một vài quý bà ôm trên tay con chó cảnh, ngồi thụt sâu trong những chiếc ghế bành êm ái hoặc đứng trên mặt sàn trải thảm gần dãy cột. Một gã trai mặc đồng phục gia nhân hăng hái quá mức muốn giành mang chiếc vali cho tôi. Tôi giật lại và quay sang phải, bước tới chỗ ngồi rất dễ nhận ra của người gác cổng, một người đàn ông hom hem với cái nhìn lạnh lẽo mặc đồng phục thêu chỉ vàng, rõ ràng đã quen nhận những món tiền lót tay hậu hĩnh. Ông ta đang bận rộn trả lời những câu hỏi của đám công chúng bu quanh bằng ba hay bốn thứ tiếng, thỉnh thoảng dừng lại nở một nụ cười nhã nhặn trao chìa khóa phòng cho khách. Tôi phải đợi khá lâu mới có cơ hội hỏi ông ta hôm nay ngài Stürzli có mặt ở khách sạn không và liệu tôi có thể ra mắt ngài được không.
130 “Anh muốn gặp Monsieur Stürzli?” ông ta hỏi với vẻ ngạc nhiên kênh kiệu. “Thế anh là ai?” “Một nhân viên mới của khách sạn”, tôi trả lời, “được tiến cử với đích thân ngài tổng giám đốc.” “Lạ nhỉ!” con người kênh kiệu ấy thốt lên và chêm vào với vẻ mỉa mai làm tôi cảm thấy bị tổn thương sâu sắc: “Tôi không nghi ngờ rằng Monsieur Stürzli đã nhiều tiếng đồng hồ mòn mỏi mong chờ anh tới. Xin anh quá bộ đi vài bước sang chỗ quầy tiếp tân.” “Ngàn lần cảm ơn ông, ông gác cổng”, tôi đáp. “Và mong rằng trong tương lai ông nhận được dồi dào tiền thưởng để có thể sớm rút về vui thú điền viên!” “Thằng khùng!” tôi nghe ông ta chửi với theo sau lưng mình. Nhưng tôi chẳng thèm quan tâm. Tôi lại tha món hành lý xách tay, vật bất ly thân của mình, tới quầy tiếp tân trong thực tế đúng là chỉ cách chỗ ông gác cổng vài bước, ở cùng một phía gian đại sảnh. Chỗ này còn bị nguời ta bao vây dày đặc hơn cả chỗ kia. Một đám đông tranh giành sự chú ý của hai người đàn ông mặc lễ phục chỉnh tề đứng sau quầy, hỏi về chỗ đặt trước, nhận số phòng, ghi họ tên vào phiếu đăng ký. Để tới được sát bên quầy tôi phải tốn khá nhiều kiên nhẫn, song cuối cùng cũng đến lúc tôi được đứng mặt đối mặt với một trong hai nhân viên tiếp tân, một người đàn ông còn trẻ với hàng ria mép cong vểnh lên, đeo kính kẹp mũi và có nước da cớm nắng xanh xao. “Ông muốn thuê phòng?” ông ta hỏi, vì tôi khiêm tốn đợi ông ta mở lời trước. “Ô không - không phải thế ạ, thưa ông giám đốc”, tôi đáp với nụ cười cầu tài. “Có thể nói tôi gần như đã là người làm ở khách sạn này. Họ tôi là Krull, tên là Felix, tôi đến để nhận một chân giúp việc theo thỏa thuận giữa ngài Stürzli và người bạn chí thân của ngài là giáo sư Schimmelpreester, cha đỡ đầu của tôi. Số là...” “Lùi lại!” ông ta hạ giọng vội vã nói nhanh. “Đợi lát nữa! Anh hãy lùi hẳn lại đằng kia!” Một vệt ửng hồng thoáng hiện trên làn da cớm nắng của ông ta trong
131 lúc ông ta bồn chồn đảo mắt nhìn quanh, cứ như thể sự xuất hiện của một nhân viên mới không mặc đồng phục, hình ảnh tiết lộ con người và hoàn cảnh cá nhân của anh ta với đông đảo công chúng ở đây là một điều khiếm nhã lớn có thể làm ông ta mất mặt. Quả thực một số người đứng bên quầy đã tò mò nghển đầu lên. Người ta ngừng cả việc khai phiếu đăng ký để quay sang nhìn tôi. "Lẽ dĩ nhiên, thưa ông giám đốc!” tôi cũng thấp giọng trả lời và lùi hẳn lại đứng cách những người khách xếp hàng sau tôi một quãng. Cũng phải nói thêm rằng lúc bấy giờ lượng khách đợi lấy phòng đã bớt đông, và sau ít phút, đương nhiên phải hiểu đó chỉ là tạm thời thôi, trước quầy tiếp tân đã trống trơn chẳng còn ai. “Nào, anh kia?” lúc này ông có nước da cớm nắng mới quay sang gọi với về phía tôi, vì tôi đứng khá xa ông ta. “Nhân viên tập sự Felix Krull có mặt”, tôi đứng tại chỗ đáp, muốn buộc ông ta phải tiến về phía mình. “Anh hãy lại gần đây!” ông ta bực bội bảo. “Anh tưởng tôi thích gân cổ lên trao đổi với anh ở khoảng cách này hay sao?” “Tôi đứng ở chỗ này là theo lệnh ông, thưa ông giám đốc”, tôi trả lời và ngoan ngoãn bước lại gần hơn, “để đợi chỉ dẫn tiếp theo của ông.” “Chỉ dẫn của tôi”, ông ta đay nghiến, “quả thực là tối cần thiết. Anh làm cái trò gì ở đây? Anh nghĩ thế nào mà ngang nhiên đi qua cửa chính và xông vào đứng lẫn với khách như vậy?” “Ngàn lần xin ông thứ lỗi cho”, tôi nhũn nhặn đáp, “nếu đó là lỗi của tôi. Tôi không tìm được đường nào khác nên đành phải đi qua cửa quay vào đại sảnh để đến chỗ ông. Nhưng tôi xin cam đoan rằng dù phải đi cửa sau và lối đi có tối tăm chật hẹp đến mấy tôi cũng không nề hà để được ra mắt ông.” “Anh ăn nói gì mà lạ thế!” ông ta quở, và một thoáng hồng lại hừng lên trên cặp má hóp xanh xao. Tôi bỗng thấy có cảm tình với cái tật hay đỏ mặt của ông ta. “Anh nếu không khờ khạo thì lại thông minh quá mức đấy!” ông ta thêm vào.
132 “Tôi hy vọng sớm có cơ hội chứng tỏ với cấp trên là trí thông minh của mình nằm đúng trong phạm vi cho phép”, tôi đáp lại. “Tôi không biết liệu anh có được cơ hội ấy hay không”, ông ta bảo. “Hiện nay chúng tôi không có chỗ làm nào trống cả.” “Tôi xin phép được lưu ý ông rằng”, tôi nhắc ông ta, “đây là một giao kèo chắc chắn giữa ngài tổng giám đốc và người bạn thời thanh niên của ngài, đồng thời là người nhấc tôi ra khỏi chậu nước rửa tội. Tôi đã ý tứ không đòi gặp ngài Stürzli, vì tôi biết ngài không mòn mỏi mong chờ sự ra mắt của tôi, tôi không phải là người hay ảo tưởng, tôi hiểu rằng có thể mãi sau này, mà cũng có thể chẳng bao giờ tôi được diện kiến ngài. Nhưng chuyện ấy không quan trọng. Quan trọng hơn nhiều là ở chỗ tôi toàn tâm toàn ý ra mắt ông, thưa ông giám đốc, để được nghe ông chỉ giáo bằng cách nào và ở đâu tôi có thể chứng tỏ sự hữu ích của mình.” “Lạy Chúa, lạy Chúa!” tôi nghe ông ta rên rỉ, nhưng vẫn với tay lấy từ cái kệ gắn trên tường xuống một cuốn sổ to và liên tục đưa hai ngón giữa bàn tay phải lên môi dấp cho ướt trong lúc bực bội lật từng trang. Sau khi khựng lại ở chỗ nào đó ông ta quay sang bảo tôi: “Anh phải lập tức biến khỏi đây và lánh vào một chỗ phù hợp với anh hơn! Quả thực chúng tôi có ý đồ tuyển dụng anh, cái ấy thì đúng...” “Mấu chốt vấn đề là ở đấy”, tôi bảo. “Được rồi, được rồi! - Bob”, ông ta quay về phía sau bảo một cậu nhỏ chạy việc đang ngồi chống tay lên đầu gối đợi lệnh trên băng ghế kê cuối phòng, “chỉ đường cho anh này đến phòng ngủ nhân viên số bốn trên gác! Đi bằng thang máy chở hàng ấy nhé! Sáng mai chúng tôi sẽ liên lạc với anh”, câu này ông ta ném cho tôi. “Đi đi!” Cậu nhỏ mặt đầy tàn nhang, rõ ràng là người Anh, đứng dậy đi cùng tôi. “Anh xách giùm tôi cái vali một lúc”, dọc đường tôi bảo cậu ta. “Nói thật với anh hai tay tôi mỏi rã rời cả rồi. “Anh cho tôi cái gì?” cậu ta hỏi lại bằng tiếng Pháp dở ẹc.
133 “Tôi chẳng có gì cả.” “Thế thì tôi xách không công cho anh vậy. Anh đừng vội mừng về phòng ngủ số bốn! Nó tệ lắm. Chỗ ở của tất cả người làm đều rất tệ. Đồ ăn cũng tệ, và tiền lương càng tệ nữa. Nhưng đừng có mà nghĩ đến chuyện bãi công. Có quá nhiều người chỉ chờ dịp để thế chỗ chúng ta. Đáng ra phải đốt rụi cái hộp bóc lột này đi mới đúng. Tôi theo phe vô chính phủ, nói để anh biết, đúng thế, tôi là người như vậy đấy.” Cậu ta rất trẻ con nhưng tốt bụng. Chúng tôi cùng đi thang máy chở hàng lên đến tầng năm, tầng áp mái, ở đó cậu ta trao lại cho tôi chiếc vali, chỉ vào một cánh cửa trông ra cái hành lang không trải thảm chỉ được chiếu sáng leo lét, chúc tôi may mắn rồi bỏ đi. Tấm bảng gắn trên cửa cho biết tôi đã đến đúng chỗ. Tôi cẩn thận gõ cửa nhưng không có tiếng trả lời, mặc dù đã quá mười giờ đêm nhưng trong phòng vẫn tối om và vắng tanh. Sau khi bóng đèn trần trụi thòng xuống từ trần được bật lên, trước mắt tôi bày ra một quang cảnh đúng là chẳng ấm cúng chút nào. Tám chiếc giường, mỗi chiếc được trang bị một tấm chăn dạ thô và cái gối dẹp lép rõ ràng đã lâu ngày không giặt, xếp chồng lên nhau thành từng cặp kê sát tường như trong khoang nằm của thủy thủ, giữa chúng là những cái giá đóng vào tường trên để rương hòm của những người qua đêm ở đây. Phòng có một cánh cửa sổ duy nhất trổ ra một cái lỗ thông hơi, ngoài ra không còn tiện nghi gì khác, vả lại cũng không thể kê thêm đồ đạc gì, vì bề rộng phòng thua xa bề dài và ở khoảng giữa hai dãy giường, chẳng còn bao nhiêu chỗ để mà xoay trở. Tôi đoán khi đi ngủ người ta phải gấp quần áo ngoài lại để dưới chân giường hoặc đặt lên nắp vali trên giá. Chà, tôi thầm nghĩ, lẽ ra mình chẳng cần phải lên kế hoạch công phu đến thế để trốn lính, vì doanh trại cũng không thể nào tệ hơn gian phòng này được, có khi còn tiện nghi hơn là đằng khác. Nhưng đã lâu rồi tôi đâu còn được nằm trên giường ấm nệm êm - từ khi cuộc sống sung túc dưới mái nhà vui nhộn của cha mẹ tôi sụp đổ tan tành - và từ đó tôi cũng đã rút ra được một điều rằng, cùng với
134 thời gian con người và hoàn cảnh có thể hòa hợp ở một mức độ nào đó, và hoàn cảnh, dù mới đầu có vẻ khắc nghiệt đến đâu, nếu không luôn luôn thì cũng rất thường xuyên thể hiện một sự linh hoạt đầy may mắn không hoàn toàn dựa vào khả năng thích nghi. Cùng một hoàn cảnh nhưng không có nghĩa là với người nào cũng thế, và tôi tin rằng, số phận được quyết định rất nhiều bởi sự khác biệt của từng cá thể. Xin bỏ quá cho những suy ngẫm lan man của một cái đầu ưa triết lý và quen nhìn nhận cuộc đời thông qua mặt tốt lành đáng yêu của nó hơn là những biểu hiện xấu xa tàn bạo. Một cái giá trên tường còn để trống, từ đó tôi suy ra rằng một trong tám cái giường chưa có chủ; có điều tôi không biết đó là cái giường nào - thật khổ, vì tôi đã mệt rũ sau chuyến đi dài và chỉ mong được ngủ một giấc cho lại sức, nhưng không có cách nào khác hơn là bắt buộc phải đợi những người ở cùng phòng trở về. Để giết thì giờ tôi sang thăm dò phòng rửa mặt kế bên, thông với phòng ngủ bằng một cánh cửa ngách để ngỏ. Có năm bàn rửa loại tầm thường nhất lót vải sơn không thấm nước, với thau và bình đựng nước, bên cạnh là thùng chứa và khăn mặt vắt trên sào. Chẳng có cái gương nào. Thay vào đó trên cửa và trên tường, cũng giống như trong phòng ngủ, chỗ nào còn trống là được dán đầy hình những cô gái hở hang cắt ra từ tạp chí. Tôi thất vọng quay trở về phòng ngủ. Vì không có việc gì làm nên tôi quyết định lấy chiếc áo ngủ trong vali ra để sẵn bên ngoài, và chạm tay phải cái hộp da dê chui nhầm vào đó lúc kiểm tra hành lý. Vui mừng thấy lại nó, tôi lập tức lôi ra tìm hiểu. Liệu có phải nỗi tò mò về nội dung chứa trong cái hộp nhỏ ấy suốt thời gian qua vẫn lẩn khuất trong những ngóc ngách sâu kín nhất của tâm hồn tôi và ý định lấy áo ngủ chỉ là cái có để tôi làm quen với nó, điều đó tôi không muốn đưa ra bàn luận ở đây. Tôi ngồi xuống một trong mấy chiếc giường tầng dưới, đặt chiếc hộp lên đầu gối và bắt đầu xem xét, lòng thấp thỏm mong sao đừng có ai vào quấy rầy lúc này. Cái hộp có ổ khóa nhưng không khóa mà chỉ được cài bằng một cái móc. Tôi không tìm thấy cả một kho châu báu như cổ tích, nhưng những gì chứa bên trong cũng đủ làm tôi lóa mắt và vượt quá mọi mong đợi táo bạo
135 nhất của tôi. Ngay trên cùng, nằm ngồn ngộn đầy lớp đáy trên lót nhung chia lòng hộp thành hai khoang là một chuỗi ngọc bội gồm toàn những viên hoàng ngọc lớn gắn trên đế bao chạm trổ tinh vi, đẹp hơn tất cả những món đồ trang sức tôi từng nhìn thấy trong cửa kính các hiệu kim hoàn, rõ ràng không phải một sản phẩm của thời hiện đại mà thuộc về một thế kỷ trong quá khứ. Có thể bảo rằng nó là hiện thân của vẻ đẹp lộng lẫy xa hoa, màu vàng óng ngọt ngào, trong suốt như mật ong của những viên đá quý làm tôi mê mẩn