Lời Thú Nhận Của Tay Lừa Đảo Felix Krull

hồi lâu cũng đủ xấu hổ lắm rồi, thì tình cảnh của tôi lúc ấy còn nguy

hồi lâu cũng đủ xấu hổ lắm rồi, thì tình cảnh của tôi lúc ấy còn nguy

hồi lâu cũng đủ xấu hổ lắm rồi, thì tình cảnh của tôi lúc ấy còn nguy hiểm nữa. Tôi không giấu nổi một cái giật mình, phải ráng gom góp hết tự chủ để lấy vẻ hoàn toàn bình tĩnh, không chút vội vã đóng cái hộp nhỏ lại và với những cử động cũng thong thả như vậy cất nó vào trong vali, rồi mới chậm rãi đứng dậy, hơi lùi lại một chút ngước nhìn lên phía có tiếng nói. Ở tầng trên chiếc giường tôi vừa ngồi có một người nằm chống cùi chỏ ngó xuống chỗ tôi. Tôi thầm rủa mình lúc mới vào đã sơ ý đến nỗi không nhận ra sự có mặt của hắn ta. Chắc lúc ấy hắn nằm trùm chăn kín đầu. Đó là một gã trai còn trẻ, mặt lởm chởm râu đã đến lúc rất cần được cạo, với mái tóc nằm lâu rối bù, hàm râu quai nón và cặp mắt người Slav. Mặt gã đỏ bừng trong cơn sốt, nhưng mặc dù nhận ra gã đang ốm, sự bối rối và bực tức vẫn khiến tôi buột ra một câu hỏi ngở ngẩn: “Anh làm gì trên đó?” “Tao ấy à?” hắn ta trả lời. “Đúng ra tao mới là người có quyền hỏi mày làm cái trò gì dưới ấy.” “Anh đừng có mày tao với tôi”, tôi nóng mắt cự lại. “Tôi không biết hai chúng ta có họ hàng thân thiết gì không mà xưng hô như thế.” Hắn cười và đáp lại không phải là không có lý: “Chà, cứ như những gì tao vừa mới nhìn thấy thì mày rất nên kết thân với tao mới phải. Chắc chắn mẹ mày không gói cho mày những thứ ấy mang theo đi đường. Chìa tay ra cho tao xem ngón tay mày dài đến mức nào, mày múa khá đấy!” “Anh đừng có nói tầm bậy!” tôi làm bộ cứng cỏi. “Chẳng lẽ tôi có trách nhiệm trình báo với anh về tài sản của tôi, chỉ vì anh đã nhìn trộm tôi mà không lên tiếng cho tôi biết sự có mặt của mình? Như thế là rất bất lịch sự...” “Gớm chửa, lại còn được mày lên giọng dạy dỗ tao”, hắn đập lại. “Đừng có làm bộ làm tịch nữa, lòng vả cũng như lòng sung thôi. Với lại nói để mày biết, thực ra tao ngủ nãy giờ chỉ vừa mới thức dậy. Tao bị cúm nằm bẹp hai ngày rồi, đầu còn đang nhức như búa bổ đây. Thế rồi tao tỉnh giấc và tự hỏi không thành

137 tiếng: thằng nhóc xinh trai kia đang chơi cái gì thế nhỉ? Vì có ghen tị cũng phải công nhận là mày bảnh trai lắm. Nếu tao mà có được cái bản mặt của mày thì hôm nay chắc chắn không nằm đây rồi!” “Cái bản mặt của tôi không phải là lý do để anh mày tao với tôi. Nếu anh không thôi ngay đi thì tôi sẽ không nói một lời nào với anh nữa.” “Lạy Chúa, thưa hoàng tử, tôi phải gọi ngài là ‘điện hạ’ hay sao. Nhưng nếu tao hiểu không sai thì chúng ta là đồng nghiệp mà. Mày là người mới hở?” “Đương nhiên. Ban lãnh đạo cho người đưa tôi lên đây để nhận một giường trống. Ngày mai tôi sẽ bắt đầu làm việc trong nhà này.” “Việc gì?” “Cụ thể còn chưa rõ.” “Lạ nhỉ. Tao làm việc trong bếp, đúng ra là trong nhà kho, chỗ để đồ đông lạnh. Cái giường mày ngồi có chủ rồi. Cái giường tầng trên cách chỗ tao một cái thì còn trống. Mày là người nước nào?” “Tôi vừa từ Frankfurt đến tối hôm nay.” “Còn tao là người Croatia”, hắn chuyển sang tiếng Đức. “Quê ở Agram*. Ở đấy tao cũng đã từng làm việc trong bếp một khách sạn. Nhưng tao đến Paris được ba năm rồi. Mày có biết Paris không?” “Anh hỏi ‘biết’ là biết thế nào?” “Mày thừa hiểu ý tao muốn nói gì. Tao muốn hỏi, mày có biết chỗ bán cái của ấy cho được giá không.” “Thế nào tôi cũng tìm ra.” “Tự mày không tìm được đâu. Và giữ cái của ấy lâu trong người thì không khôn ngoan chút nào. Nếu tao tiết lộ cho mày một địa chỉ đáng tin cậy thì chúng mình cưa đôi nhé?” “Anh nói hay nhỉ, cưa đôi! Mà chỉ để đổi lấy một cái địa chỉ!” “Đối với một thằng còn thò lò mũi như mày thì cái ấy còn cần hơn bánh mì nhét bụng. Mày cứ nghĩ kỹ đi. Theo tao cái chuỗi kim cương...” Tên cổ người Đức gọi Zagreb, thủ đô Croatia.

138 Tới đây câu chuyện giữa chúng tôi bị gián đoạn. Cửa bật mở, và một đám thanh niên trai trẻ ùa vào, vì đã đến giờ nghỉ của họ: một cậu điều khiển thang máy mặc đồng phục màu xám viền đỏ, hai cậu chạy giấy áo chẽn màu lam cổ cao có hai hàng cúc vàng và nẹp quần cũng màu vàng, một cậu thiếu niên mặc áo sọc xanh trên tay vắt cái tạp dề, có vẻ làm một chân gì đó thấp kém trong bếp, rửa bát hay đại loại như vậy. Chẳng bao lâu sau lại thêm một cậu chạy việc vặt cùng đẳng cấp với Bob và một người nữa, bằng vào chiếc áo trắng mặc chung với quần đen tôi đoán là đang học nghề bồi bàn hay giúp việc ở phòng ăn. Họ lớn tiếng chửi thề “Mẹ kiếp!” và vì trong số họ có người Đức nên tôi nghe thấy cả bằng tiếng mẹ đẻ “Khốn nạn thật!” và “Đồ chết toi!” - có vẻ đó là hình thức xả hơi của họ khi kết thúc một ngày làm việc vất vả. Rồi họ gọi với lên người ốm nằm trên giường: “Thế nào, Stanko, sắp ngoẻo chưa?” vừa nói vừa ngáp om sòm và cùng cởi quần áo ngoài ra. Họ hầu như chẳng để ý gì đến tôi, có ai hạ cố lắm thì cũng chỉ hỏi qua loa như thể sự xuất hiện của tôi là điều đương nhiên nhất trần đời: “A, cậu đấy à. Chúng tớ vẫn đợi cậu đến cho phòng đủ người!” Một người xác nhận là cái giường Stanko chỉ cho tôi còn trống. Tôi trèo lên đó, đặt vali lên cái giá thuộc về nó và ngồi trên giường cởi quần áo. Đầu chưa kịp đặt xuống gối, tôi đã chìm vào giấc ngủ say ngọt ngào của tuổi trẻ.

139 Chương Tám Nhiều chiếc đồng hồ báo thức nhất loạt cất tiếng reng reng chói tai từ lúc trời còn tối thui, vì mới có sáu giờ, và người đầu tiên xuống khỏi giường bật ngọn đèn điện sáng trưng trên trần. Chỉ có Stanko vẫn nằm yên tại chỗ không đếm xỉa đến cảnh thức dậy nhốn nháo trong phòng. Tươi tỉnh sau giấc ngủ ngon, tâm trạng phấn khởi của tôi chẳng hề vẩn đục dù phải chen lấn ở khoảng trống chật hẹp giữa mấy cái giường với những người cùng phòng dẫu bù xù mắt nhắm mắt mở, miệng ngáp liên hồi, tay chân quều quào kéo chiếc áo ngủ ra khỏi đầu. Cả những cãi cọ quanh năm cái bàn rửa mặt - năm cái dành cho bảy người có nhu cầu - cũng không làm tôi mất hứng, trừ việc nước trong bình chẳng đủ và người nào cũng phải trần như nhộng chạy ra ngoài hành lang hứng thêm nước vòi. Sau khi xát xà bông rửa ráy như những kẻ khác tôi cũng phải sử dụng một tấm khăn lau đã ướt sũng không được tích sự gì mấy. Bù lại tôi được chia một ít nước nóng cạo râu do cậu gác thang máy và cậu bồi tập sự nấu bằng cái bếp đèn cồn, và trong lúc thành thạo đưa lưỡi dao cạo lướt qua má, cằm, môi trên, tôi còn được họ cho soi chung một mảnh gương vỡ khéo léo gài vào tay nắm cửa sổ. “Này, người đẹp trai”, Stanko lên tiếng gọi lúc tôi - tóc rẽ đầu ngôi và mặt mũi láng coóng - quay trở lại phòng ngủ để mặc quần áo và thu dọn giường như những người khác. “Tên cậu là gì, Hans hay Fritz?” “Xin anh vui lòng gọi tôi là Felix”, tôi trả lời. “Tốt thôi. Felix, cậu làm ơn mang cho tôi một ly cà phê sữa dưới căng tin lên đây được không, sau khi cậu ăn sáng xong ấy? Nếu không từ giờ cho đến lúc nhìn thấy suất cháo đặc buổi trưa tôi chẳng có gì lót dạ.” “Được”, tôi đáp. “Tôi rất sẵn lòng làm việc ấy cho anh. Tôi sẽ lấy trước cho anh một ly cà phê và sau khi ăn xong bữa sáng sẽ còn quay trở lại phòng.”

140 Tôi nói thế vì hai lý do. Thứ nhất, tôi lo lắng cho cái vali của mình, mặc dù có khóa nhưng tôi không có chìa, bởi vì tôi không tin tưởng Stanko một chút nào. Thứ hai là tôi muốn nối lại câu chuyện tối hôm qua và tìm cách đi đến một thỏa thuận với những điều kiện có thể chấp nhận được để moi cái địa chỉ hắn hứa hẹn. Gian phòng rộng rãi dùng làm căng tin cho nhân viên nằm tận cuối hành lang. Trong phòng ấm sực và thơm lừng mùi thứ đồ uống buổi sáng được ông phụ trách căng tin và bà vợ mập ú dáng hiền từ đứng sau quầy buffet không ngừng chế ra tách từ hai cái máy pha cà phê sạch bóng. Trong tách đã bỏ sẵn đường, bà chủ chế thêm sữa vào rồi đưa kèm cho mỗi người một cái bánh trứng nhện. Ở đây chen vai thích cánh đủ mọi hạng người ở các phòng ngủ khác nhau, lác đác có cả những nhân viên phục vụ nhà hàng khách sạn mặc lễ phục đuôi tôm màu xanh lam đính khuy vàng. Đa số ăn đứng, nhưng trong phòng cũng kê mấy cái bàn nhỏ. Giữ đúng lời hứa tôi hỏi xin bà chủ hiền từ một ly cà phê “cho người ốm tội nghiệp ở phòng số bốn”, và được bà ta rót ngay cho một ly kèm theo nụ cười tôi đã quen nhận được của gần như tất cả mọi người khi tiếp xúc với mình. "Cậu chưa có đồng phục à?” bà ta hỏi, và tôi giải thích hoàn cảnh của mình bằng mấy lời ngắn gọn. Rồi tôi hối hả quay về chỗ Stanko, đưa cho hắn ly cà phê và nhắc lại lần nữa rằng tôi sẽ trở lại ngay. Hắn cười gằn mai mỉa, tỏ ý đã biết tỏng hai lý do hành động của tôi. Trở lại căng tin, tôi mới lo phục vụ nhu cầu của bản thân, sung sướng tận hưởng ly cà phê sữa vì đã lâu không được chút gì ấm nóng vào bụng, và ăn hết cái bánh trứng nhện. Gian phòng dần dần thưa người, vì đã gần bảy giờ. Tôi kiếm được chỗ ngồi bên một chiếc bàn trải vải nhựa cạnh một người phục vụ nhà hàng đứng tuổi đang tranh thủ mấy phút cuối giờ nghỉ giải lao giở bao thuốc lá rút một điếu caporal* ra châm. Tôi chỉ cần nhìn ông ta cười cười và hơi nháy mắt là được ông ta mời ngay một điếu. Hơn thế nữa, sau một cuộc trò chuyện ngắn trong đó tôi kể sơ qua cho ông ta nghe về tình trạng chưa ngã ngũ của mình, ông ta để lại cho tôi bao thuốc còn phân nửa làm quà tặng trước khi đứng dậy trở về với công việc.

141 Một loại thuốc lá thơm. Làn khói đen đậm đà của điếu thuốc lá sau bữa điểm tâm làm tôi thêm phần sảng khoái, rất tiếc tôi không thể nấn ná ở đó lâu hơn mà phải quay về với người bệnh của mình. Hắn quạu mặt khi nhìn thấy tôi. “Đã về rồi?” hắn cau có hỏi. “Mày muốn gì? Tao không cần có người tâm sự. Tao vừa đau đầu vừa đau cổ đây và không có hứng thú chuyện trò gì hết.” “Anh chưa đỡ chút nào à?” tôi đáp. “Tiếc quá. Tôi chỉ định hỏi xem ly cà phê tôi mang lên cho anh có ngon không thôi.” “Tao biết thừa tại sao mày tử tế mang cà phê cho tao. Nhưng tao không muốn dính líu vào chuyện làm ăn dơ bẩn của mày đâu. Vô tích sự như mày mà không làm hư việc thì mới lạ.” “Anh là người khơi chuyện làm ăn ra nói trước đấy chứ”, tôi cãi lại. “Tôi ngồi đây bầu bạn với anh một tí thì có hại gì, không làm ăn thì thôi. Chắc người ta không tìm tôi ngay đâu, tôi quá dư dả thời gian mà chẳng có việc gì làm. Anh có thể chuyện trò với tôi một lúc cho đỡ buồn.” Tôi ngồi xuống cái giường bên dưới giường hắn ta, nhưng ở đấy có cái bất lợi là tôi không nhìn thấy hắn. Thế này thì không thể nói chuyện được, tôi tự nhủ và lại nhổm dậy chọn một chỗ đứng bất đắc dĩ trước giường hắn. Hắn bảo: “Thật là tiến bộ, rốt cục mày đã hiểu ra rằng mày cần tao chứ không phải tao cần mày” “Nếu tôi hiểu không lầm”, tôi đáp, “thì anh đang ám chỉ lời đề nghị của anh hôm qua. Rất hay là anh đã tự mình quay lại đề tài ấy. Điều đó chứng tỏ là anh cũng có quan tâm đấy chứ.” “Chỉ một tí ti thôi. Cù lần như mày thì bán chỗ ấy được bao nhiêu. Mày làm sao có được cái của ấy thế?” “Hoàn toàn tình cờ thôi. Trong một khoảnh khắc may mắn số phận đã muốn thế và tôi chỉ việc chiều theo ý nó.” “Ờ, tao biết. Cũng có thể đơn giản là số mày đỏ. Tướng mày có vẻ hên lắm. Đưa tao coi lại mấy món đồ chơi của mày xem đáng giá bao nhiêu nào.”

142 Mặc dù trong bụng mừng thầm vì dụ được hắn ta nhưng tôi vẫn bảo: “Đừng giở ra thì hơn, anh Stanko. Nếu có ai bất thình lình vào nhìn thấy thì mình rất dễ bị hiểu lầm.” “Thực ra cũng chẳng cần”, hắn bảo. “Hôm qua tao đã nhìn khá kỹ rồi. Mày đừng có nuôi ảo tưởng về chuỗi vòng hoàng ngọc. Nó chỉ...” Đúng lúc ấy sự lo xa của tôi được chứng minh là không sai. Một mụ già quét dọn mang theo thùng rác, giẻ lau và chổi đẩy cửa bước vào bắt đầu dọn dẹp và lau những vũng nước bên phòng rửa mặt. Trong lúc bà ta làm việc tôi ngồi trên cái giường tầng dưới không hé răng nói một lời nào. Đợi cho bà ta lẹp kẹp kéo lê đôi giày đế gỗ đi ra ngoài rồi tôi mới lên tiếng hỏi Stanko lúc nãy hắn ta định nói gì. “Tao nói gì ấy à?” hắn lại làm bộ kiêu kỳ. “Mày muốn nghe, nhưng tao không muốn nói thì sao. Tao chỉ muốn khuyên mày đừng mong đợi gì nhiều ở chuỗi hạt hoàng ngọc mà hôm qua mày mân mê thật là lâu. Cái của ấy nếu mua ở Falize hay Tiffany* phải mất khối tiền, nhưng bán lại thì rẻ như bèo.” “Rẻ như bèo là bao nhiêu?” “Vài trăm franc*.” Tên những hiệu kim hoàn nổi tiếng thế giới. Đơn vị tiền tệ cũ của Pháp. “Thế cũng tốt rồi.” “Thằng ngu, không lẽ ai nói cái gì mày cũng ‘tốt rồi’ hay sao? Tao đã bảo mày là thằng vô tích sự mà. Giá tao đi được với mày, hay tốt hơn hết để tao tự giải quyết thì việc này mới ổn!” “Không được đâu, anh Stanko, tôi không thể để anh đi được. Anh đang bị sốt và phải nằm nghỉ.” “Biết rồi. Vả lại tao có đích thân đi cũng chẳng kiếm chác được bao nhiêu từ cái lược với cái cài áo. Cả cây ghim cũng không ăn thua gì, mặc dù nó có viên ngọc sapphire. Ngon nhất ở đây chỉ có cái dây chuyền kim cương thôi, phải đến chục ngàn franc chứ chẳng ít. Và trong mấy cái nhẫn cũng có một hai cái không

143 thể coi thường được, chỉ tính viên ruby và viên ngọc trai xám thôi đấy. Tóm lại, tao áng chừng tổng cộng tất cả chỗ ấy đáng giá khoảng mười tám ngàn franc.” “Tôi cũng đoán khoảng chừng ấy” “Oai nhỉ? Mày thì biết gì mà đoán?” “Biết chứ. Hồi ở nhà tôi đã nghiên cứu đến thuộc lòng các tiệm kim hoàn ở Frankfurt. Anh bảo liệu tôi có đòi được cả mười tám ngàn không?” “Không, con người ơi, còn khuya. Nhưng nếu mày biết tỏ ra cứng rắn khi mặc cả và đừng có bạ ai nói gì cũng ‘tốt rồi’ thì có thể kiếm được khoảng một nửa chỗ ấy. “Vậy là chín ngàn franc.” “Mười ngàn. Chỉ bằng giá một mình sợi dây chuyền kim cương trên thực tế. Mày mà đáng mặt đàn ông thì nhất định không được lấy dưới giá ấy.” “Thế anh khuyên tôi nên tới chỗ nào?” “A ha! Giờ mới đến lúc cậu bé xinh đẹp để lộ mối quan tâm chính. Còn tôi nên vì lòng nhân ái biếu không cho cậu ta hiểu biết của mình phải không?” “Ai bảo rằng biếu không, anh Stanko. Tất nhiên tôi phải tỏ lòng biết ơn anh chứ. Chỉ có điều tôi thấy cưa đôi như đề nghị của anh hôm qua thì hơi quá.” “Quá là quá thế nào? Cưa đôi là luật tự nhiên, là cách chia phần thông dụng nhất trên đời, đã được nhắc đến cả trong Kinh thánh. Mày quên mất một điều là không có tao mày như cá nằm trên thớt. Đấy là chưa kể tao còn có thể tố cáo mày với ban giám đốc khách sạn nữa.” “Phỉ phui, anh Stanko! Ai lại nói thế, và lại càng không ai làm thế! Anh cũng không định làm thế đâu, tôi biết là anh không đời nào bỏ lỡ mấy ngàn franc để đi tố cáo tôi với ban giám đốc. Làm thế thì anh được cái gì! “Mày dám chi cho tao mấy ngàn franc à?” “Thì đấy, cứ cho là tôi đòi được mười ngàn franc như anh tính và giữ đúng chữ tín chia cho anh một phần ba thì phải đến thế chứ. Anh nên khen ngợi tôi mới phải, vì tôi cũng biết tỏ ra cứng rắn khi mặc cả và có thể xử sự đáng mặt đàn ông lúc đối đầu với đám con buôn cắt cổ kia.”

144 “Lại đây”, hắn vẫy tôi lại gần và hạ giọng thầm thì nhưng rành rọt nói khi tôi đã bước lại sát bên giường: “Số chín mươi hai, Rue de l’Échelle au Ciel*.” Phố Thang trời (theo Kinh Cựu Ước, thánh tông đồ Jacobus ngủ mơ thấy một cái thang bắc lên trời, trên đó các thiên thần không ngớt leo lên leo xuống), phố này không có thật, cái tên tưởng tượng ám chỉ việc Felix sắp bước lên bậc thang xã hội cao hơn. “Số chín mươi hai phố gì?” “Échelle au Ciel. Mày nặng tai à?” “Tên gì mà lạ thế!” “Thì đã sao? Có thể nó đã được gọi như thế hàng trăm năm nay rồi. Hãy cứ coi đấy là điềm tốt cho mày! Đó là một con phố nhỏ thanh lịch, chỉ có điều hơi xa một chút, đâu đó phía sau nghĩa trang Montmartre. Tốt nhất mày cứ nhắm hưởng nhà thờ Sacré-Coeur mà đi, cái đích to như thế thì không lẫn vào đâu được, qua khỏi khu vườn giữa nhà thờ và nghĩa trang thì rẽ vào Rue Damrémont theo hướng Boulevard Ney. Trước khi phố Damrémont đổ vào phố Championnet nó cắt ngang một ngõ nhỏ tên là Rue des Vierges prudentes* dẫn sang phố Échelle của mày*. Mày không sợ đi lạc đâu.” Phố các nàng trinh nữ khôn ngoan (dựa theo một sự tích trong Kinh Thánh), phố này không có thật. Đoạn chỉ đường từ nghĩa trang Montmartre đến phố Championnet hoàn toàn đúng với thực tế. “Người mua tên là gì?” “Không quan trọng. Lão tự xưng là thợ đồng hồ, đấy cũng là một trong nhiều nghề của lão. Đi đi, và nhớ là đừng có ngoan ngoãn như cừu non. Thực ra tao nói cái địa chỉ ấy cốt để mày đừng có vo ve làm phiền tao nữa. Còn phần tiền của tao trong vụ này, đừng quên rằng tao vẫn có thể tố cáo mày bất cứ lúc nào.” Hắn xoay người nằm quay lưng lại phía tôi.

145 “Tôi thực lòng rất biết ơn anh, anh Stanko”, tôi bảo. “Và anh cứ yên trí là sẽ không phải đi tố cáo tôi với ban giám đốc đâu!” Rồi tôi bỏ đi, vừa đi vừa thầm nhẩm lại cái địa chỉ kia trong óc. Tôi trở lại gian căng tin giờ đã vắng tanh vắng ngắt, vì tôi còn biết đi đâu nữa? Tôi phải đợi cho đến khi người ta nhớ đến tôi. Gần hai tiếng đồng hồ tôi ngồi bên một cái bàn trải vải nhựa, không cho phép mình để mất dù chỉ một mẩu kiên nhẫn, hút vài điếu thuốc caporal và nghĩ ngợi vẩn vơ. Khi cái đồng hồ treo tường chỉ mười giờ tôi bỗng nghe ngoài hành lang có tiếng gọi tên mình giọng rất điệu. Tôi chưa kịp ra đến cửa đã thấy người chạy giấy tờ gọi chõ vào: “L'employe Felix Kroull* - lên gặp ngài tổng giám đốc!” “Tôi đây, anh bạn thân mến. Nào ta đi. Dù có phải lên gặp tổng thống nước cộng hòa tôi cũng sẵn sàng.” Nhân viên Felix Krull (tiếng Pháp). “Thế thì tốt quá, anh bạn thân mến”, gã đưa tin đay lại cách xưng hô thân mật của tôi bằng giọng mỉa mai và trắng trợn đưa mắt dò xét tôi từ đầu tới chân. “Làm ơn theo tôi!” Chúng tôi leo cầu thang bộ xuống tầng dưới. Hành lang tầng bốn rộng rãi hơn hẳn trên tầng chúng tôi ở và được trải thảm đỏ sang trọng. Người dẫn đường cho tôi bấm chuông gọi thang máy chở khách vốn chỉ chạy lên đến tầng này. Chúng tôi phải đợi một lúc. “Thế quái nào mà con tê giác ấy chịu đích thân tiếp cậu?” gã tò mò hỏi tôi. “Anh muốn nói ngài Stürzli? Quan hệ tốt. Hoàn toàn nhờ quan hệ cá nhân tốt mà thôi”, tôi trả lời. “Tại sao anh gọi ông ấy là con tê giác?” “Đó là biệt hiệu của lão. Xin lỗi, nhưng tôi không phải là người phát minh ra cái tên ấy.” “Không sao, thông tin dù nhỏ nhặt đến đâu tôi cũng rất biết ơn”, tôi đáp. Thang máy vách ốp gỗ rất đẹp và có đèn điện chiếu sáng, bên trong kê một băng ghế bọc nhung đỏ. Một thằng bé mặc đồng phục màu kem viền đỏ điều

146 khiển cho thang chạy*. Đầu tiên nó cho thang dừng cao quá, sau đó lại thấp quá, và cứ để thế kệ cho chúng tôi leo lên khoảng cách không phải là nhỏ ấy. Khoảng những năm 1890 ở châu Âu bắt đầu có thang máy chạy điện nhưng cách điều khiển vẫn còn khá phức tạp. Người điều khiển thang máy phải áng chừng quán tính của buồng thang ở tốc độ tối đa khoảng 1,5 m/s để cho nó dừng lại đúng mặt sàn mỗi tầng. "Eustache”, người dẫn đường của tôi cằn nhằn, “cậu chẳng bao giờ học được cách điều khiển cái lồng này chạy cho đàng hoàng.” “Tao không hơi đâu bỏ công sức ra hầu mày!” người kia cục cằn đáp. Tôi thấy chướng tai quá không nhịn được phải buông lời nhận xét: “Người yếu không nên ra mặt khó dễ nhau. Làm thế chỉ càng hạ thấp địa vị của mình trong mắt kẻ mạnh.” “Hay chửa”, người bị sửa lưng vặn lại. “Một triết gia!” Chúng tôi đã xuống đến dưới. Trong lúc đi từ cửa thang máy ở mé bên này đại sảnh về phía quầy tiếp tân, tôi hài lòng nhận thấy người dẫn đường chốc chốc lại tò mò liếc mắt nhìn trộm mình. Tôi rất thích được người ta chú ý không phải chỉ vì ngoại hình đẹp mà còn vì khả năng trí tuệ nữa. Văn phòng riêng của ông tổng giám đốc nằm khuất sau Reception, trông ra một cái hành lang phía đối diện có cửa phòng billard và phòng đọc báo. Người dẫn đường cho tôi rụt rè gõ mấy tiếng và rón rén mở cửa sau khi trong phòng có tiếng gầm gừ đáp lại, rồi ngả mũ cầm tay, gã vừa cúi chào vừa để tôi bước vào. Ngài Stürzli, một người đàn ông thân thể đồ sộ khác thường với bộ râu nhọn điểm bạc chỉ như ăn nhờ ở đậu trên cái cằm hai ngấn nần nẫn, đang ngồi bên bàn viết lật giấy tờ soàn soạt và chưa thèm đếm xỉa ngay đến sự có mặt của tôi. Vừa nhìn thấy ngài tôi lập tức hiểu ra căn nguyên cái biệt hiệu đám người dưới quyền đặt cho ngài. Không những lưng ngài vồng lên một núi thịt, cổ ngài rụt lại hai ba ngấn mỡ, mà quả thật phần trước mũi ngài có một cái mụn cóc lớp da trên cứng như sừng, chi tiết khiến cái biệt hiệu của ngài càng thêm hoàn chỉnh và chính xác. Đôi bàn tay ngài, lúc ấy đang khéo léo vỗ vỗ xấp giấy đã đọc xong xuống

147 bàn theo chiều ngang, chiều dọc cho ngay ngắn, lại nhỏ nhắn đến mức đáng kinh ngạc so với tấm thân kỳ vĩ. Cùng phải nói thêm rằng ngài hoàn toàn không có cái vẻ nặng nề cục mịch thường thấy ở những người béo phì, mà vẫn giữ được tác phong khá thanh lịch. “Vậy ra anh”, ngài nói tiếng Đức giọng Thụy Sĩ, vẫn bận rộn với việc sắp xếp mớ giấy tờ trên bàn, “là cái người trẻ tuổi được một người bạn của tôi giới thiệu - Krull, phỏng nhỉ - phải rồi. Anh có nguyện vọng làm việc chỗ chúng tôi?” “Dạ đúng thế, thưa ngài tổng giám đốc”, tôi đáp, vừa nói vừa dè dặt tiến lại gần bàn - và có dịp, không phải lần đầu tiên mà cũng không phải lần cuối cùng, quan sát một hiện tượng khá lý thú. Vừa nhìn thấy tôi ngài tổng giám đốc bất giác nhăn mặt, để lộ sự ác cảm - tôi biết rõ - đối với không gì khác hơn hình ảnh trẻ trung xinh đẹp của tôi lúc bấy giờ. Bởi những người đàn ông có mối quan tâm duy nhất và đặc biệt dành cho phái nữ, mà ngài Stürzli với bộ râu dê và tấm thân phúc hậu rõ ràng là một đại diện tiêu biểu, luôn luôn mặc cảm khi đối mặt với vẻ đẹp hình thể của người cùng giới, một sự ức chế bản năng đặc biệt gây ra bởi cái ranh giới khó lòng vạch rõ giữa dục vọng nói chung và nói riêng, trong khi con người họ ra sức chống lại dục vọng riêng của bản thân và những liên tưởng theo chiều hướng này, kết quả là phản xạ thể hiện ra thành vẻ nhăn nhó trên gương mặt. Tất nhiên phải hiểu rằng đó chỉ là một phản xạ thoáng qua, vì người có văn hóa sẽ âm thầm nhận lỗi về cái ranh giới không rõ ràng kia, chứ chẳng thể trút giận lên đầu kẻ vô tội, chỉ bằng sự xuất hiện của mình gợi lên cảm giác ấy ở họ. Đương nhiên ngài Stürzli cũng không trút giận lên đầu tôi, nhất là vì tôi, đáp lại phản xạ của ngài, chỉ cụp mắt nhìn xuống vẻ đoan trang khiêm tốn nhất trần đời. Ngược lại là đằng khác, ngài cố tỏ ra ân cần hỏi han tôi: “Ông bạn cố tri của tôi, cậu của anh, Schimmelpreester ấy, dạo này ra sao?” “Xin ngài tổng giám đốc thứ lỗi”, tôi trả lời, “nhưng ông ấy không phải là cậu mà là cha đỡ đầu của tôi, một mối liên hệ còn có vẻ như sâu đậm hơn. Cảm ơn ngài có lời hỏi thăm, theo chỗ tôi được biết thì cha đỡ đầu của tôi rất mạnh giỏi.

148 Ông là một nghệ sĩ tiếng tăm không chỉ lừng lẫy khắp vùng Rhein mà còn lan rộng cả ra ngoài.” “Phải rồi, phải rồi, y là một thằng cha rất tếu, rất lập dị”, ngài Stürzli bảo. “Thật thế hả? Y thành công thật hả? Eh bien*, càng hay. Một tay trần quấy. Hồi đó chúng tôi đi đâu cũng cặp kè với nhau.” Tốt thôi (tiếng Pháp). “Chắc tôi không cần phải nói”, tôi tiếp tục, “rằng tôi vô cùng biết ơn giáo sư Schimmelpreester đã có lời giới thiệu tôi với ngài, thưa ngài tổng giám đốc.” “Ờ, y có giới thiệu anh. Cái gì, y còn là giáo sư cơ à? Sao lại có thể như thế được? Thôi kệ. Đúng là ông ta đã viết thư gửi gắm anh cho tôi, và tôi không thể từ chối ông ta được, vì những trò tinh nghịch

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 36

Đang tải bình luận...