phần lớn bằng tiếng Pháp, và tôi tin chắc rằng hình thức trao đổi tư tưởng cao siêu nhất phải là một cuộc mạn đàm bằng tiếng Pháp. Chuyện trò đối với tôi có nghĩa là nói tiếng Pháp, vì tiếng Pháp - ôi thưa ngài, là tiếng nói của thanh lịch, của văn minh, của trí tuệ, là tiếng nói xứng đáng nhất trong giao tiếp, bản thân nó đã là giao tiếp... Suốt thời thơ ấu hạnh phúc của mình tôi đã nói thứ tiếng này với một cô gia sư khả ái người Vevey - thành phố Vevey ở Thụy Sĩ đấy ạ - có trách nhiệm kèm cặp cậu công tử con nhà trâm anh, cô ấy cũng là người đã dạy tôi thi ca Pháp, những vần thơ tuyệt diệu tôi đã thuộc lòng và thường đưa ra ngâm ngợi khi có thời gian, để cho từng âm điệu tan ra trên lưỡi: Hỡi những cánh nhạn từ nơi cố quốc, Có mang cho ta tin tức người yêu?" A, thưa ngài tổng giám đốc (tiếng Pháp, như tất cả những chữ in nghiêng trong đoạn sau).
151 “Dừng lại!” ngài tổng giám đốc chặn đứng bài diễn văn tràng giang đại hải của tôi. “Đừng đọc thơ nữa! Tôi không thể chịu được thơ thẩn, nghe đọc thơ dạ dày tôi chỉ chực tống hết mọi thứ chứa trong đó ra ngoài. Ở đây thỉnh thoảng chúng tôi cũng mời mấy thi sĩ Pháp, nếu họ kiếm được cái gì ra hồn một chút để mặc, tới đọc thơ trong đại sảnh vào lúc five o’clock*. Các quý bà khoái cái trò ấy lắm, nhưng tôi bao giờ cũng tìm cách lánh cho xa, vì chỉ cần nghe nói đến thơ là tôi đã toát mồ hôi lạnh ra rồi.” Năm giờ (tiếng Anh). “Tôi xin lỗi, thưa ngài tổng giám đốc. Thật ra tôi cũng ghét cay ghét đắng thi ca...” “Được rồi. Do you speak English*?” Anh có biết tiếng Anh không? (tiếng Anh). Chà, tôi có biết tiếng Anh không ư? Tôi biết, hay nói đúng ra là có thể làm như mình biết thứ tiếng này, bằng những từ ngữ lượm lặt chỗ này hay chỗ khác và những gì tôi nghe lỏm được ở Langenschwalbach, ở Frankfurt, từ vốn kiến thức chỉ là một con số không tròn trĩnh tôi có thể qua mặt người nghe nhiều nhất là ba phút đồng hồ. Vì vậy tôi trả lời - không phải bằng giọng bồi như đa số người không biết tiếng Anh, mà hết sức kiểu cách, môi dẩu ra, mũi hỉnh lên, suỵt gió liên tục: “I certainly do, Sir*. Đương nhiên, thưa ngài, tất nhiên là tôi biết chứ. Làm sao tôi không biết cho được? Tôi yêu thích tiếng nói này, thưa ngài. Đấy là một ngôn ngữ tuyệt vời và rất tiện dụng, đúng thế thưa ngài, rất rất tiện dụng. Theo tôi tiếng Anh là ngôn ngữ của tương lai, thưa ngài. Ngài muốn gì tôi cũng sẵn sàng cá, rằng chỉ năm mươi năm nữa thôi nó sẽ trở thành tiếng nói thứ hai của tất cả mọi người..." Dĩ nhiên tôi biết, thưa ngài, (tiếng Anh, như tất cả những chữ in nghiêng trong đoạn này) “Tại sao anh cứ phải vung vẩy cái mũi trong không khí một cách không cần thiết như thế? Cả những học thuyết của anh cũng hoàn toàn dư thừa. Tôi chỉ hỏi
152 anh có biết tiếng Anh không thôi. Parla italiano*?” Anh có nói được tiếng Ý không? (tiếng Ý) Trong khoảnh khắc ấy tôi lại trở thành người Ý, và nhiệt tình cháy bỏng lập tức dâng trào thay cho cầu kỳ kiểu cách. Tất cả những gì có chút hơi hướng Ý tôi từng được nghe từ cửa miệng cha đỡ đầu Schimmelpreester, người thường xuyên có những chuyến du lịch dài ngày tới xứ sở tràn đầy ánh nắng này, bỗng ùn ùn trỗi dậy trong tôi, và bàn tay tôi vừa mới chụm lại khua khua trước mặt giờ xòe hết cả năm ngón ra phụ họa cho giọng nói ngân nga: “Ma Signore, che cosa mi domanda?* Tôi có thể nói không ngoa là đã phải lòng thứ tiếng tuyệt diệu này, tiếng nói đẹp nhất trên đời. Tôi chỉ việc mở miệng ra là bất giác từ đó tuôn chảy dòng suối du dương của ngôn ngữ thiên thần này. Vâng, thưa quý ngài, đối với tôi không còn nghi ngờ gì nữa, các thiên thần trên trời chắc chắn là nói tiếng Ý. Không thể tưởng tượng được là các tạo vật may mắn ấy có thể sử dụng một ngôn ngữ nào khác kém thi ca hơn...” Quý ngài của tôi, ngài hỏi gì vậy? (tiếng Ý, như tất cả những chữ in nghiêng trong đoạn này) “Thôi!” ông ta ra lệnh. “Anh lại sa đà vào thi ca, là thứ anh đã biết tôi dị ứng nặng rồi. Anh không nhắc đến đề tài ấy thì không chịu được hay sao? Thơ thẩn là thứ hoàn toàn không thích hợp với một nhân viên khách sạn. Nhưng anh nói khá đúng giọng đấy, và tôi cũng thấy là anh có một số kiến thức nhất định. Thế là nhiều hơn mong đợi của tôi rồi. Chúng tôi sẽ thử xếp cho anh một việc, Knoll...” “Krull, thưa ngài tổng giám đốc.” “Đừng có sửa tôi! Họ anh có là Knall tôi cũng thây kệ. Tên anh là gì?” “Felix, thưa ngài tổng giám đốc.” “Cũng không được. Felix - Felix nghe có vẻ trưởng giả học làm sang quá. Từ nay anh sẽ được gọi là Armand...” “Tôi rất vui mừng được đổi tên, thưa ngài tổng giám đốc.” “Vui mừng hay không cũng vậy. Armand là tên cậu bồi gác thang máy tình cờ xin nghỉ việc đúng vào ngày hôm nay. Từ mai anh có thể thế chỗ cậu ta. chúng
153 tôi muốn thử giao cho anh việc điều khiển thang máy.” “Thưa ngài tổng giám đốc, tôi xin đánh bạo hứa rằng sẽ thể hiện hết khả năng của mình để thậm chí còn làm việc tốt hơn cả Eustache...” “Eustache làm sao?” “Anh ta cho thang máy chạy quá cao và quá thấp, cách mặt sàn cả một khúc, thưa ngài tổng giám đốc. Nhưng đó là chỉ những lúc anh ta phải phục vụ đồng nghiệp thôi. Nếu tôi hiểu không sai thì với khách anh ta chịu khó bỏ ra nhiều công sức hơn. Sự phân biệt đối xử trong khi thi hành nhiệm vụ tôi thấy rất không đáng khen ngợi.” “Ở đây anh không có trách nhiệm khen ngợi cái gì hết! Anh là người của phe xã hội hay sao?” “Ô không, thưa ngài tổng giám đốc! Tôi thấy xã hội cứ thế này là tuyệt vời lắm rồi, và rất nóng lòng mong được thử vận may trong đó. Tôi chỉ muốn nói rằng, nếu người ta có khả năng làm tốt một việc gì thì không nên cẩu thả một cách không cần thiết.” “Trong khách sạn của chúng tôi không có chỗ cho các phần tử xã hội đâu nhé.” “Lẽ dĩ nhiên, thưa ngài tổng...” “Thôi anh đi được rồi, Knull! Anh hãy xuống nhà kho dưới tầng hầm bảo người ta cấp cho một bộ đồng phục vừa người. Chúng tôi cung cấp đồng phục không kèm theo giầy, và tôi buộc phải lưu ý anh về đôi...” “Đó là một khiếm khuyết tạm thời thôi, thưa ngài tổng giám đốc. Đến mai mọi sự sẽ được hoàn toàn như ý ngài. Tôi biết mình mang ơn ngài vô cùng và sẽ không làm ngài thất vọng đâu ạ. Nếu ngài cho phép tôi bày tỏ chút ít tâm tình thì phải nói rằng tôi rất hãnh diện được khoác lên người bộ đồng phục sắp được cấp. Cha đỡ đầu Schimmelpreester của tôi rất thích nhét tôi vào đủ loại trang phục khác nhau và luôn khen ngợi rằng tôi mặc gì cũng hợp, mặc dù đó là khả năng thiên phú và thực ra không đáng để khen ngợi. Song đồng phục của người điều khiển thang máy thì tôi chưa được mặc thử bao giờ.”
154 “Nếu mặc bộ đồng phục ấy vào”, ông ta bảo, “mà anh chiếm được cảm tình của các quý bà xinh đẹp thì càng hay. Thôi đi đi, ngày hôm nay anh không có việc gì ở đây nữa. Chiều nay anh hãy đi thăm thú Paris! Sáng sớm ngày mai anh hãy chạy lên chạy xuống vài lần với Eustache hay một người nào khác trong thang máy để làm quen với cơ cấu hoạt động của nó, thực ra rất đơn giản, không có gì quá sức hiểu biết của anh đâu.” “Tôi sẽ điều khiển nó bằng tất cả tình âu yếm”, tôi đáp. “Tôi sẽ không ngừng phấn đấu cho đến khi dừng được thang không còn một chút chênh lệch dù nhỏ nhất với mặt sàn. Ngoài ra, thưa ngài tổng giám đốc”, tôi thêm vào và làm cho mắt rưng rưng, “tôi không thể tìm được lời thích hợp để bày tỏ...” “Được rồi, được rồi, tôi bận lắm”, ông ta bảo và quay đi, một lần nữa lại nhăn mặt. Tôi không vì thế mà kém vui. Nhanh như tên bắn - vì tôi còn dự định ngay sáng hôm ấy tới thăm lão thợ đồng hồ - tôi lao theo cầu thang xuống tầng hầm, ở đó tôi tìm thấy cánh cửa đề chữ “Nhà kho” một cách không khó khăn gì và gõ lên mấy tiếng trước khi bước vào. Trong gian phòng treo đầy đồng phục đủ các loại, chẳng khác gì kho chứa quần áo cũ hay kho đồ hóa trang của một nhà hát, có một ông già bé nhỏ ngồi giương mục kỉnh đọc báo. Tôi bày tỏ nguyện vọng của mình và được giải quyết ngay lập tức. "Vậy là”, lão già bảo, "cậu muốn sửa soạn cho đỏm đáng để đưa các quý bà xinh đẹp lên xuống phải không, cậu bé?” Dân tộc này không thể nói hai câu mà không có đàn bà trong đó. Tôi nháy mắt công nhận đó chính là nguyện vọng cũng như nhiệm vụ của tôi. Lão khọm già chỉ đưa mắt nhìn qua người tôi một cái rồi lấy từ trên giá xuống một bộ đồng phục màu kem viền đỏ cả áo lẫn quần và thản nhiên dúi vào tay tôi. “Không cần thử hay sao?” tôi hỏi. “Không cần, không cần. Tôi đã đưa cái gì là vừa cái ấy. Đóng bộ này vào nhầt định cậu sẽ được các quý bà xinh đẹp để ý.”
155 Lão khọm già đúng là không có cái gì khác trong đầu. Nhưng lão nói một cách hết sức tự nhiên, nên tôi cũng tỉnh bơ nháy mắt trả lời, lúc chia tay còn gọi lão là “mon oncle”* và thề thốt rằng con đường công danh sự nghiệp của tôi khởi đầu hoàn toàn nhờ công lão. Chú, bác (tiếng Pháp). Vì thang máy chạy xuống tận dưới này nên tôi tận dụng nó để lên lại tầng năm. Tôi vội quay về phòng vì câu hỏi không biết Stanko có để cho cái vali của tôi được yên không vẫn làm tôi lo lắng. Giữa đường chuông reo và thang dừng lại vài lần. Tôi khiêm tốn nép sát vào một bên vách nhường chỗ cho khách: một bà đi từ đại sảnh lên lầu hai, và ở lầu một có một đôi nói tiếng Anh đòi lên lầu ba. Người đàn bà đi một mình vào thang máy lập tức khêu gợi lên một mối quan tâm mãnh liệt nơi tôi - ở đây đúng là phải dùng từ “khêu gợi”, vì tôi quan sát bà ta mà tim đập thình thịch, tâm trạng hồi hộp lo sợ pha lẫn vị ngọt ngào lãng mạn. Tôi biết người phụ nữ này. Mặc dù bà ta không đội mũ quả chuông cắm lông chim diệc mà mang trên đầu một sáng tạo khác của thời trang có vành rộng viền lụa bóng buộc nơ dưới cằm, trên phủ một tấm mạng dài hững hờ rủ xuống áo măng tô, và mặc dù chiếc áo choàng hôm nay khác chiếc ngày hôm qua, mỏng hơn, màu sáng hơn vởi những chiếc khuy to bọc vải, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, trước mặt tôi lúc này đúng là người đã đứng cạnh tôi bên quầy thuế vụ, người có một mối dây liên hệ với tôi thông qua sự sở hữu cái hộp nhỏ trên kia. Tôi nhận ra bà ta trước hết qua cái cách bà ta lúc lúc lại trợn mắt tròn xoe như khi tranh cãi với tay nhân viên hải quan cửa khẩu, có vẻ như đó là một cái tật của bà ta, vì giờ đây không có duyên cớ gì bà ta vẫn liên tục làm như vậy. Nhìn chung gương mặt bà ta với những đường nét không phải là không hấp dẫn toát lên một vẻ căng thẳng thường trực. Ngoài ra về tổng thể, tôi không thấy có điều gì ở người đàn bà tóc nâu trạc tứ tuần này có thể làm phương hại đến mối quan hệ mỏng manh giữa tôi và bà ta. Một lớp lông tơ mềm mại sẫm màu phơn phớt trên làn môi trên, không những không làm giảm sút mà còn khiến bà ta tăng phần hấp dẫn. Cả đôi mắt nâu vàng long lanh như hổ phách của bà ta cũng là màu mắt tôi
156 rất thích ở phụ nữ. Giá mà bà ta đừng có không ngừng trợn mắt lên một cách dữ dằn thế kia! Tôi tự nhủ nếu có dịp mình nên khuyên bà ta bỏ cái thói quen bất lợi ấy đi. Như vậy là cả hai chúng tôi cùng nghỉ lại đây - nếu trong trường hợp của tôi có thể dùng từ nghỉ lại được. May mắn làm sao tôi không chạm trán bà ta từ lúc đứng trước người đàn ông hay đỏ mặt ở quầy tiếp tân. Sự gần gũi với bà ta trong không gian chật hẹp của buồng thang máy gây nên những xáo trộn đáng kể trong tâm tư tôi. Không biết đến sự có mặt của tôi, không hề nhìn thấy tôi trước đấy và cả bây giờ, nhưng trong thâm tâm hẳn bà ta phải dành cho sự tồn tại vô hình của tôi những quan tâm nhất định từ tối hôm qua hay muộn nhất là sáng hôm nay, lúc bà ta soạn đồ đạc trong vali ra và phát hiện thấy sự thiếu vắng cái hộp nhỏ kia. Có thể quý độc giả đang lo lắng cho sự an toàn của tôi sẽ lấy làm kinh ngạc, nhưng tôi không thể gán cho những quan tâm lùng tìm của bà ta một ý nghĩa thù địch. Việc bà ta nghĩ đến tôi, bà ta có thể đã thực hiện những bước nhất định để truy lùng tôi, không chừng bà ta vừa mới đi trình cảnh sát về cũng nên. Những khả năng ấy có thoáng hiện qua trong óc tôi nhưng không gợi lên một cảm giác nguy hiểm thực sự nào và dường như không lấn át được sự màu nhiệm của một tình huống ngẫu nhiên, trong đó người tìm kiếm không ngờ rằng đối tượng tìm kiếm đang đứng gần sát bên mình. Tôi rất lấy làm tiếc - tiếc cho cả hai chúng tôi - là thời gian gần gũi ngắn ngủi đến thế, chỉ đến tầng hai mà thôi! Khi người mang tôi trong ý nghĩ bước ra khỏi thang máy, tôi nghe tiếng bà ta nói với gã trai tóc đỏ điều khiển cái lồng: “Merci*, Armand!” Cảm ơn (tiếng Pháp). Cử chỉ thân thiện đặc biệt này chứng tỏ tính tình dễ mến của bà ta, vì vừa đến đây chưa được bao lâu mà bà ta đã biết tên người phục vụ thang máy. Song cũng có thể bà ta là một khách trọ thường xuyên nghỉ lại Saint James and Albany và quen biết cậu ta đã lâu rồi. Nhưng bản thân tôi cũng giật mình khi nghe cái tên
157 ấy, không ngờ lại gặp chính Armand ở đây. Cái thang máy quả thực là nơi hội ngộ. “Bà ấy là ai thế?” tôi hỏi cái lưng cậu tóc đỏ lúc chúng tôi chạy tiếp lên trên. Tên khốn kiếp ấy không thèm trả lời tôi. Mặc dù vậy lúc ra khỏi thang máy ở tầng bốn tôi vẫn gặng hỏi tiếp: “Anh có phải là Armand, người vừa xin thôi việc ngày hôm nay không?” “Liên quan gì đến mày”, nó thô lỗ đáp lại. “Có chứ”, tôi bảo, “liên quan đến tôi lắm chứ. Vì từ giờ trở đi tôi tên là Armand và sẽ thế chỗ anh. Tôi là người kế nhiệm của anh, và dự định của tôi là trong tương lai sẽ không thô lỗ như anh.” “Thằng ngu!” nó rống lên thay lời chào và kéo sập cánh cửa chấn song lại trước mũi tôi. Stanko vẫn ngủ lúc tôi quay trở lại phòng ngủ số bốn trên gác. Không chậm trễ, tôi làm ngay các việc sau: Tôi lấy chiếc vali của mình từ trên giá xuống mang vào phòng rửa mặt, lấy từ trong đó ra chiếc hộp nhỏ ơn trời chưa có gì suy suyển - Stanko thật thà không động tới nó -, cởi áo vét và áo ghi-lê ra, đeo chuỗi hạt hoàng ngọc nặng trĩu lên cổ, vất vả một lúc mới cài được cái khóa lò xo sau gáy. Rồi tôi mặc lại mấy lớp áo phủ lên trên và nhét những món đồ trang sức còn lại vào đầy túi áo bên trái, bên phải, cũng may chúng không cần nhiều chỗ, nhất là sợi dây chuyền kim cương. Xong việc tôi đặt lại chiếc vali vào chỗ cũ, treo bộ đồng phục mới được cấp vào trong cái tủ kê cạnh cửa ngoài hành lang, mặc áo choàng và đội mũ vào rồi - để tránh một cuộc chạm trán nữa với Armand - tôi theo cầu thang đi bộ hết năm tầng lầu xuống dưới nhà và bắt đầu cuộc hành trình đến Rue de l’Echelle au Ciel. Túi đầy báu vật nhưng không còn xu nào để đón xe công cộng đến đó, tôi buộc phải đi bộ và gặp không ít khó khăn, một