Luoi Dien Tu Than

Chương 41

Chương 41

Chương 41 melia Sachs mang tang chứng trở về nhà. Rhyme nheo nheo mắt khi cô nhanh nhẹn bước vào. Theo chân cô là cái mùi kinh tởm. Mùi tóc cháy, cao su cháy, thịt cháy. Một ười khuyết tật cho rằng vì khuyết tật mà họ có khứu giác nhạy bén hơ yme không chắc chắn về điều này, nhưng trong bất cứ trường hợp nào ang không gặp vấn đề gì khi phát hiện những mùi khó chịu. Anh xem xét số vật chứng mà Sachs và một kỹ thuật viên từ Queens đẩy v i khao khát giải đáp các bí ẩn xâm chiếm anh. Trong lúc Sachs và Coo y vật chứng ra, Rhyme hỏi, “Đơn vị Phản ứng nhanh có tìm thấy nơiG át ra khỏi đường hầm không?” “Không một dấu hiệu nào. Hoàn toàn không.” Sachs nhìn xung quanh. “R u?” Rhyme nói rằng chàng cảnh sát trẻ vẫn chưa trở về. “Anh gọi điện, nhắn ông thấy cậu ta ho he gì. Điều cuối cùng cậu ta nói là đã phát hiện được độ của Galt, nhưng chưa đi vào chi tiết… Thế nào, Sachs?” Rhyme bắt gặp cô nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ, nét mặt lặng phắc. “Em đã sai lầm, Rhyme ạ. Em đã lãng phí thời gian sơ tán công trường x ng và hoàn toàn bỏ qua mục tiêu thực sự.” Sachs giải thích chính Bob Cavanaugh xác định được mục tiêu là khách s thở dài. “Nếu em tư duy chính xác hơn, em đã có thể cứu họ.” Cô bước m bảng trắng và ấn mạnh bút viết “Khách sạn Công viên Bettery” bên t ng, và ngay bên dưới đó là tên các nạn nhân thiệt mạng, có vẻ là một đôi ồng, một doanh nhân đến từ Scottsdale, Arizona, một nữ phục vụ bàn vàm m đốc quảng cáo đến từ nước Đức. “Số nạn nhân thiệt mạng có thể còn cao hơn nữa. Anh nghe nói em đãp cửa sổ để đưa mọi người ra.” Sachs nhún vai đáp lại. Rhyme cảm thấy cụm từ “nếu (thế này hay thế khác) thì sao” không đóng gì trong công việc của các nhân viên cảnh sát. Người ta chỉ làm hết s nh, hành động theo hướng mang lại thành công cao nhất.

Tuy nhiên, anh cũng có tâm trạng giống Sachs, tức tối vì, mặc dù họ đãch a với thời gian, và đã suy luận chính xác khu vực bị tấn công, họ khô ững đã không cứu được các nạn nhân mà còn bỏ mất cơ hội tóm cổ Galt. Nhưng anh không cảm thấy xáo đảo như cô. Dù có bao nhiêu người mắc m và họ đáng trách tới mức nào đi chăng nữa, Sachs vẫn luôn luôn nghi ắc nhất đối với chính bản thân mình. Kể ra, anh có thể bảo cô rằng chắc ch còn nhiều người thiệt mạng hơn nếu cô không ở đó, rằng Galt bây giờ biết bị nhận diện và suýt nữa bị thua trong cuộc đấu trí. Rất có thể gã sẽ từ bỏ các vụ tấn công. Tuy nhiên, nói những điều này với cô chẳng khác gì một cố, nếu những điều này mà dành cho anh, anh thậm chí chẳng thèm nghe ứ. Ngoài ra, sự thật phũ phàng là, phải, thủ phạm đã trốn thoát vì họ đã sai lầm Sachs tiếp tục bày số vật chứng lên chiếc bàn khám nghiệm, Gương mặt cô xanh xao hơn bình thường. Cô trang điếm hết sức nhẹ, yme nhận ra rằng hiện trường vụ án lần này cũng có tác động mạnh tới chiếc xe buýt đã khiến cô kinh hoàng - chút kinh hoàng vẫn còn vương troh mắt. Nhưng đây lại là một nỗi kinh hoàng khác, dư âm của việc chứng k ững con người chết theo những cách thật khủng khiếp. “Họ đang… giống n đang nhảy múa trong lúc chết ấy, Rhyme.” Cô đã mô tả cho anh. Sachs mang về bộ đồng phục quần yếm của Algonquin, mũ bảo hộ, túi đựng cụ, một sợi cáp cỡ lớn, y hệt sợi cáp Galt sử dụng tạo ra hồ quang đ ng hôm qua. Ngoài ra, còn vài túi thu dấu vết. Một vật nữa đựng trong ựa dày: thiết bị đấu nối sợi cáp với đường dây chính, khác thiết bị Galt ng tại trạm điện Algonquin trên phố Năm mươi bảy, cô giải thích. Tại tr n, gã sử dụng bu lông có chốt hãm, nhưng dưới đường hầm lại là một h ựa, cố cuốn sách bìa cứng. Cooper quét kiểm tra xem có chất nổ không, rồi mở nó ra. “Trông có vẻ ế, tuy nhiên tôi không biết nó là gì.” Sachs nói, “Chúng ta hãy hỏi Charlie Sommers.” Trong năm phút, họ đã có cuộc đàm thoại hội nghị với nhà sáng chếc onquin. Sachs mô tả vụ tấn công tại khách sạn. “Tôi không biết nó kinh khủng tới mức ấy.” Sommers nói khẽ khàng. Rhyme nói, “Cảm ơn lời khuyên của anh lúc trước, về việc hắn sẽ dùng đ ư hắn đã thực hiện đó, thay cho một vụ nổ hồ quang thứ hai.” “Tuy nhiên, chẳng giúp đỡ được gì mấy!” Người đàn ông lẩm bẩm. “Anh có thể xem xét chiếc hộp chúng tôi thu giữ đây không?” Sachs hỏi. “ đường dây của Algonquin với đường dây hắn cho chạy vào khách sạn.” “Tất nhiên rồi.”

Cooper gửi Sommers liên kết mạng để mở một video, rồi quét chiếc came nét cao khắp trong lòng hộp. “Thấy rồi. Để tôi quan sát chút… Đưa lại phía bên kia đi… Hay đấy. Khô ải sản phẩm thương mại. Được làm bằng tay.” “Đối với chúng tôi thì có vẻ vậy.” Rhyme nói. “Tôi chưa bao giờ trông thấy cái gì như thế. Chưa bao giờ trông thấy cáih y. Nó là bảng phân phối, thuật ngữ chúng tôi dùng để gọi bộ chuyển mạch c trạm điện và trên hệ thống truyền tải.” “Chỉ có chức năng đóng cắt điện?” “Vâng. Giống như công tắc trên tường, ngoài việc nó dễ dàng chịu được đ t trăm nghìn volt. Bên trong có một quạt gió, một solenoid, một bộ tiếp nh hiệu. Điều khiển từ xa.” “Vậy, hắn đã đấu nối các dây không cần thay đổi dòng điện, rồi khi đã ởc ác an toàn thì mới bấm công tắc. Andi Jessen nói hắn có lẽ sẽ thử một cá đại loại vậy.” “Chị ấy nói à? Hừm. Hay đấy.” Rồi Sommers bổ sung thêm, “Nhưng tôi khô hĩ an toàn là vấn đề đâu. Mọi nhân viên khắc phục sự cố đều biết cách đ dây an toàn. Hắn làm như thế này vì lý do khác.” Rhyme hiểu. “Để tính toán thời điểm tấn công, hắn sẽ đóng điện khi cónh n nhân nhất.” “Phải, tôi nghĩ đó là lý do.” Sachs nói thêm, “Một trong hai công nhân bắt gặp hắn bảo rằng hắn lúc ng quan sát hiện trường trên laptop của mình, nó có lẽ được kết nối vớim mera an ninh gần đấy. Tuy nhiên, tôi không phát hiện được hắn kết nối ởc o.” “Có thể đó là lý do hắn bấm công tắc sớm mấy phút,” Rhyme tiếp lời. “Hắn cơ hội tấn công vào nhiều nạn nhân nhất, và hắn biết dẫu sao Algonq ng không chấp nhận yêu sách của hắn.” Giọng Sommers thể hiện rằng anh ta bị gây ấn tượng, “Hắn quả là tài tìt sản phẩm thông minh. Thiết bị chuyển mạch đó có vẻ đơn giản, nhưng v ế tạo ra nó khó khăn hơn các vị tưởng. Lực điện từ trong những đường d ở điện áp cao như thế rất lớn, và hắn phải che chắn cho các linh kiện điện n thông minh đấy. Điều này, theo tôi, là tin xấu.” “Hắn có thể lấy các bộ phận ấy ở đâu, solenoid, bộ tiếp nhận tín hiệu, q ?” “Ở bất cứ cửa hiệu nào trong số một trăm cửa hiệu bán đồ điện tử xu anh đây. Hai trăm ấy chứ… Có số sê-ri không?” Cooper kiểm tra kỹ lưỡng. “Không. Chỉ có số model, thế thôi.”

“Vậy các vị không may mắn rồi.” Rhyme và Sachs cảm ơn Sommers. Họ kết thúc cuộc gọi. Sachs cùng Cooper xem xét bộ dụng cụ của Galt, bộ đồng phục quần y a Algonquin và chiếc mũ bảo hộ. Không ghi chú, không bản đồ, không có ra nơi gã có thể đang ẩn náu hay tiếp theo gã có thể sẽ nhằm vào mục t o. Điều ấy chẳng làm họ ngạc nhiên vì Galt đã cố ý vứt lại mọi thứ và b úng thể nào cũng bị phát hiện. Thám tử Gretchen Sahloff, từ trụ sở Đơn vị Khám nghiệm Hiện trường, đãc mẫu vân tay của Galt để lại tại văn phòng và dấu ấn chỉ ngón cái trong do bộ phận Nhân sự Algonquin giữ. Cooper xem xét toàn bộ vật chứng, nh với các mẫu vân tay này. Anh ta chỉ phát hiện ra vân tay của Galt. Rhym thấy thất vọng. Nếu họ phát hiện ra mẫu vân tay khác nữa, nó có thể đ tới với một chiến hữu của Galt, một kẻ tòng phạm, hoặc một kẻ nào đ ộc nhóm Công lý cho, nếu nhóm đó có dính dáng đến những vụ tấn công. Rhyme cũng để ý thấy chiếc cưa kim loại và chiếc kéo cắt bu lông không ng túi, nhưng điều này không khiến anh ngạc nhiên. Đây là bộ dụng cục cỡ bé hơn. Tuy nhiên, có chiếc cờ lê, và nó tạo ra dấu vết hoàn toàn giống với dấu vết trên những chiếc bu lông ở trạm điện phố Năm mươi bảy. Nhóm khám nghiệm hiện trường vụ hỏa hoạn tại trạm điện khu Harlem t hầu như không thu thập được chứng cứ gì. Galt đã sử dụng một chaich n giản - một chai thủy tinh đổ đầy xăng, nút lại bằng một miếng giẻ. Galt m nó vào cửa sổ có chấn song nhưng không đóng, xăng cháy chảy vào b ng, làm vật liệu cách điện bằng cao su và nhựa bén lửa. Chiếc chai vốn ai rượu vang - không có nắp xoáy - được sản xuất tại một nhà máy thủyt n cung cấp sản phẩm cho hàng chục hãng rượu vang, hãng này lại cung c n phẩm cho hàng nghìn cửa hiệu bán lẻ. Nhãn trên chai đã bị bợt ra vì ư ông thể truy nguyên. Xăng của hãng BP, loại thường, còn miếng giẻ được xé ra từ một chiếc ông. Không thể lần tìm theo bất cứ thứ gì để tới một địa điểm cụ thể tuych a đuôi chuột tìm thấy trong túi đựng dụng cụ của Galt bám bụi thủy tinh, có liên quan đến cái chai - nó đã bị giũa ngang ra, đảm bảo vỡ khi va v a sổ. Cả bên trong lẫn bên ngoài trạm điện đều không có camera an ninh. Một tiếng gõ cửa vang lên. Thom đi ra mở cửa và lát sau Ron Pulaski bước vào, với những chứng u ta thu thập được ở căn hộ của Galt, đầy mấy két nhựa vốn dùng đựng sữ ếc kéo cắt bu lông, cưa kim loại, đôi giày cao cổ.

Chà, rốt cuộc, Rhyme nghĩ, bực bội vì sự chậm trễ, tuy nhiên cũng hài lò y số chứng cứ đã về. Không mỉm cười, Pulaski chẳng nhìn ai trong lúc xếp các thứ lên bàn. R yme để ý thấy bàn tay anh ta run bần bật. “Cậu tân binh, cậu không sao chứ?” Chang trai trẻ, quay lưng lại với mọi người, ngừng xếp các thứ, nhìn xuố bàn tay đặt lên trên bàn trước mặt mình. Rồi cậu ta xoay lại. Hít một hơi. “ tai nạn ở hiện trường. Tôi đâm xe vào một người. Một người vô tội, chỉt có mặt tại đó. Ông ta đang hôn mê. Họ nghĩ ông ta chắc chết mất.”

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 69

Đang tải bình luận...