Năng Lượng

phần của người khác. Với xăng dầu, bi kịch của chung có nghĩa là

phần của người khác. Với xăng dầu, bi kịch của chung có nghĩa là

phần của người khác. Với xăng dầu, bi kịch của chung có nghĩa là mỗi chủ sở hữu giếng đều có động lực để bơm càng nhiều dầu lên càng nhanh càng tốt, trước khi các giếng khác rút cạn nguồn cung chung. “Hủy hoại là điểm đến của tất cả những kẻ vội vàng,” Hardin cảnh báo, “mỗi cá nhân sẽ theo đuổi lợi ích tốt nhất của riêng mình trong một xã hội tin vào sự tự do khai thác của chung. Tự do khai thác của chung sẽ đem đến sự hủy hoại cho tất cả.”[34] Sự hủy hoại trong trường hợp ở Sông Dầu không phải là vấn đề cạn kiệt mà là sự phá hủy của toàn bộ thung lũng mà Sông Dầu chảy qua lẫn hệ thống đường thủy nối liền chảy xuôi dòng. Khi Ida Tarbell lên ba vào năm 1860, cô đã cùng gia đình chuyển đến nơi mà cô gọi là một “căn chòi” trên một nhánh của Sông Dầu để cha cô, một thợ mộc, có thể làm thùng dầu bằng gỗ cho việc buôn bán đang phát triển. Cô lớn lên ở hạt Venango, học trung học ở Titusville và nhận ra sự tắc trách mà quy tắc bắt giữ khuyến khích. “Nếu phát hiện được dầu,” cô viết trong tự truyện, “nếu giếng chảy dồi dào, mọi cây, mọi bụi rậm, từng chút cỏ trong vùng lân cận sẽ bị phủ bằng thứ dầu mỡ đen và héo hon đến chết. Hắc ín và dầu làm hoen ố vạn vật.”[35] Bi kịch của chung mà Tarbell chứng kiến thuở bé có tính chất cục bộ, nhưng sự ô nhiễm đồng hành cùng việc sản xuất dầu mỏ vượt xa bản thân những khu khai thác dầu. Đến năm 1870, đầu tư vào ngành dầu khí Mỹ đã

đạt 200 triệu đô-la, tương đương gần 4 tỉ đô-la ngày nay. Sản lượng hằng năm chỉ riêng ở Pennsylvania là hơn 4,8 triệu thùng. Chỉ ngành bông vượt dầu trong xuất khẩu ở Mỹ.[36] Khi sản lượng tăng, các nhà máy lọc dầu cũng chất đống các phụ phẩm mà họ không sử dụng. Họ đổ chúng vào môi trường chung. Họ đổ sinh chất nhẹ - đặc biệt là xăng - thẳng lên mặt đất hoặc hố chôn để bốc hơi tự nhiên. Hoặc xả chúng vào những con lạch và sông cùng chất thải công nghiệp, nước thải và rác lò mổ độc gây ô nhiễm đường thủy của nước Mỹ. Những dòng sông đục ngầu với chúng; những con lạch thì bùng cháy. Phải sang thế kỷ tiếp theo thì con người mới phải đối mặt với bi kịch của chung ở tầm quốc gia và sau đó là ở quy mô quốc tế. Song trước tiên công nghệ sẽ đối đầu với thách thức truyền năng lượng từ xa, và một cuộc chạy đua khoa học kỹ thuật sẽ nổi lên giữa các hình thức cạnh tranh về điện năng.

B 11 SỨC MẠNH CỦA TỰ NHIÊN enjamin Franklin đã quen với mùa hè oi bức ở Philadelphia. Ông chạy trốn khỏi nơi đó vào năm 1723 từ Boston, nơi sinh của mình, khi ông mới mười bảy tuổi và biến nó thành nơi ẩn náu cho đến hết đời. Đến giữa tuổi ba mươi, ông đã có thể tự chủ tài chính nhờ xuất bản Poor Richards Almanac (Niên giám của Richard Khốn khổ), đánh giá hằng năm của ông cho độc giả phổ thông, và bắt đầu dành thời gian của mình để phát minh và thí nghiệm. Điện thu hút sự chú ý của ông từ năm 1743, và mạnh mẽ hơn vào năm 1747, khi một người bạn ở London, Peter Collinson, gửi cho ông một ống thủy tinh để tạo ra tĩnh điện, loại điện duy nhất được biết đến thời đó. “Tôi chưa bao giờ tham gia vào bất kỳ nghiên cứu nào thu hút hoàn toàn sự chú ý và thời gian của tôi đến nhường này,” Franklin viết cho Collinson đầy cảm kích.[1] Ông vẫn mải mê với điện vào cuối tháng 4 năm 1749, khi ông nói với Collinson rằng “với thời tiết nóng nực sắp tới,” ông cùng bạn bè đã lên kế hoạch kết thúc thí nghiêm mùa đông bằng một chuyến dã ngoại trên bờ sông Schuylkill.[2] Franklin cho biết ông tưởng tượng bữa tiệc dã ngoại sẽ đốt cháy “rượu” dễ bắt lửa - cồn được chưng cất từ rượu - ở phía xa của dòng sông bằng cách dẫn một “tia lửa… từ bờ bên này sang bên kia qua sông, không dùng bất kỳ vật dẫn nào khác ngoài nước,” một thí nghiệm họ từng thực hiện trước đó. Họ sẽ sử dụng sốc điện để thịt một con gà tây cho bữa tối, nướng nó trên một cái “xiên điện” - xiên nướng quay bằng mô tơ tĩnh điện do Franklin phát minh - trên lửa mồi từ một bình Leiden. Họ sẽ uống mừng sức khỏe của các kỹ sư điện nổi tiếng của Anh và châu Âu từ “những cốc rượu tích điện” - cốc đầy có tĩnh điện để gây sốc môi của người uống rượu - trong khi bắn súng được khai hỏa nhờ một “pin điện.”[3]

Pin điện của Franklin là một hàng kết nối các bình Leyden. Ông đặt ra thuật ngữ battery này khi so sánh nó với một khẩu đội đại bác (a battery of cannon), một hàng đại tác được xếp hàng sao cho có thể được bắn cùng lúc để nã (batter) vào một mục tiêu. Pin hóa học thời đó vẫn chưa được thai nghén; khi nó ra đời các nhà khoa học cũng sẽ mượn thuật ngữ này của Franklin. Bên trong của một bình Leyden, pin thế hệ đầu tiên. Lá kim loại lớp trong và lớp ngoài lưu trữ tĩnh điện, được ngăn cách bằng thủy tinh không dẫn điện. Ọuả bóng và sợi xích cho phép mạch được đóng giữa các lá kim loại, tích điện cho chúng. Bình Leyden là thiết bị lưu trữ điện đầu tiên trên thế giới, được phát minh độc lập ở Pomerania và ở Leyden, Hà Lan, vào năm 1745. Nó lưu trữ điện tích được tạo ra bởi tiếp xúc, loại mà chúng ta gọi là tĩnh điện ngày nay. Trong thí nghiệm thả diều nổi tiếng năm 1752, Franklin đã thả một con diều trong cơn bão để thu thập điện tích, nó sẽ được dẫn từ dây diều ướt vào một lọ Leyden. Thí nghiệm đã chứng minh rằng các tia lửa và cú sốc khiêm tốn của tĩnh điện giống hệt với những tia sét lớn làm chia cắt bầu trời trong những cơn bão. Tưởng thưởng cho “những khám phá về điện”

như vậy, Hiệp hội Hoàng gia London bầu Franklin làm thành viên vào năm 1753 và trao cho ông Huy

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 55

Đang tải bình luận...