chương Copley, phần thưởng cao quý nhất của hội. Công bố giải thưởng, Bá tước Macclesfield mô tả điện như một “đối tượng “mà không lâu trước đó, được cho là chẳng mấy quan trọng… hoặc chẳng có bất cứ điều gì đáng chú ý sẽ phát sinh từ nó.”[4] Bây giờ, như nhà hóa học đương thời Joseph Priestley sẽ khẳng định, “Khám phá vĩ đại nhất mà Nhà bác học Franklin đã phát hiện ra là điện, và đó là ứng dụng thực tế lớn lao nhất cho nhân loại, là sự tương đồng hoàn hảo giữa điện và ánh sáng.”[5]
Benjamin Franklin thực hiện thí nghiệm thả diều để chứng minh rằng sét là điện. Bình Leyden nằm dưới chân cậu bé, được tích điện từ chiếc chìa khóa trên cánh diều. Thí nghiệm thả diều của Franklin đã nâng điện từ trạng thái gây tò mò như mánh lới ảo thuật lên tầm khoa học nghiêm túc và ứng dụng thực tế. ứng dụng thực tế được ra đời là cột thu lôi Franklin, một phát minh ngày nay có thể coi là vô nghĩa, bị lãng quên đằng sau dòng điện được ứng dụng rộng rãi. Nhưng trước khi điện có thể cạnh tranh với các nguồn năng
lượng hiện có - như sức kéo từ động vật, cối xay gió và nước, cánh buồm, động cơ hơi nước - vấn đề lớn cần được giải quyết là: tìm cách tạo ra nó liên tục, rẻ và đủ lượng để sử dụng nó điều khiển các cỗ máy có khả năng sinh công hữu ích. Trong thời Franklin, những ứng dụng như vậy thậm chí còn chưa được hình dung ra. Điện là thứ mà con người cần đề phòng và cũng là thứ để khám phá. Nó có giá trị ngang bằng như một công cụ điều tra cho các nhà hóa học. Nhờ có điện, Priestley cô lập và xác định được oxy cũng như chín loại khí khác, bao gồm NO, N2O, SO2 , NH3 , N và CO. Các đóng góp đó đem đến cho ông một Huy