hồi còn làm bảo vệ, thức đêm trong kho hàng đề phòng lũ trộm cắp. Tự dựng nổi hứng, ông cầm chiếc đèn pin cán dài khua khoắng, tiện thể đi một bộ quyền luyện thể lực trong quân đội. Vận động một hồi, Cố Hạo thấy trán đổ mồ hôi, cánh tay bắt đầu ê ẩm. Cùng lúc, trong bụng có tiếng ùng ục. Ông thầm buồn cười. Định đi đánh nhau chắc? Đánh ai đây? Đánh con bé tên Mã Na kia? Cố Hạo đóng gói hết đồ đạc vào túi vải bạt. Thu dọn xong, ông đứng dậy đi xuống bếp. Bên căn 101 loáng thoáng tiếng nói, nhưng ông chán để tâm đến họ rồi. Cố Hạo bắt tay làm mì trứng, làm xong thì căn 101 mở cửa, có người bước ra. Cố Hạo không ngoái lại, nhưng nghe tiếng bước
chân thì đoán là vợ Tô. Thị cũng không nói tiếng nào, vừa sụt sịt vừa xê dịch loảng xoảng trên bếp. Vài phút sau, Cố Hạo nghe tiếng thị mở bình gas và bắt đầu nấu ăn. Cả hai quay lưng lại nhau, không ai lên tiếng. Bầu không khí thực sự rất gượng gạo. Tuy nhiên, sau trận to tiếng vừa rồi, miễn cưỡng bắt chuyện có lẽ còn gượng gạo hơn. Vì vậy, Cố Hạo trút mì ra bát, bưng về nhà, bật tivi vừa xem tin tức vừa ăn mì, mới được vài miếng thì nghe tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Có Hạo nuốt mì, nói to “Chờ nhé” rồi đứng dậy. Mở cửa ra, ông ngần người. Vợ Tô đang đứng bên ngoài. Ông chưa kịp lên tiếng thì thị đã ra dấu giữ im lặng rồi lỉnh vào phòng. Cố Hạo vẫn ngập ngừng, người đàn bà đã lật tay đẩy cửa lại, thì thầm, “Bác Cố, chồng tôi đang ở trong nhà. Rau đang luộc trong nồi. Tôi chỉ có vài phút, nói với bác mấy câu được không?” Cố Hạo gật đầu, không tỏ ra cảnh giác nữa, “Cô nói đi.” Người đàn bà chưa nói, nước mắt đã trào ra, rồi quỳ mọp xuống. Cố Hạo sửng sốt, vội vươn tay đỡ, “Cô, cô sao vậy? Đứng lên.” Vợ Tô vùng khỏi tay ông, khom lưng xuống và dập đầu, “Bác Cố, em cần phải cúi lạy bác.” Thị ngẩng lên, vẻ mặt đau khổ. “Em thực sự không biết nên cảm ơn bác thế nào.” “Có gì đâu có gì đâu!” Cố Hạo vừa bực vừa cuống. “Cô đứng lên đã.” “Bác hứa với em một điều, được không?” Vợ Tô van xin. “Nếu không em sẽ không đứng lên đâu.” Cố Hạo ngẩn người, “Hứa gì?” “Làm ơn giúp em tìm cháu nó.” Người đàn bà chắp tay, lạy bai
bải như tế sao. “Em nghĩ nó vẫn còn sống... Được không bác?” Cố Hạo nín lặng vài giây, mới từ từ đứng thẳng lên, “Cô và chú Tô...” “Hắn không để em đi. Hắn bảo dứt khoát con chết rồi, bằng không nó đã về nhà.” Người đàn bà tuyệt vọng lắc đầu, nước mắt đầm đìa. “Em mà còn ra ngoài nữa, hẳn sẽ bỏ em luôn. Bác hứa với em đi, được không? Em luôn cảm thấy Lâm Lâm nó vẫn... xin bác, em xin bác. “Cô muốn quỳ thì cứ quỳ. Như cô vừa nói, chỉ có vài phút thôi, nếu để chú ấy phát hiện ra cô ở trong nhà tôi...” Cố Hạo ngồi trở lại bàn ăn, tay trỏ ra cửa. “Tôi đã làm chú ấy khó chịu một lần, tôi không muốn làm chú ấy khó chịu thêm nữa.” Người đàn bà ôm mặt, toàn thân run bần bật, lặng lẽ nức nở. Cố Hạo thở dài, “Thật ra cô chú biết hết từ lâu rồi, phải không?” “Vâng. Tối đó Lâm Lâm không về nhà. Bố chúng nó đi báo công an, người ta bảo chưa đến hai mươi tư giờ, nên không quan tâm.” Người đàn bà khóc nấc đến không thở được. “Hôm sau nhà chúng em đến trường, chủ nhiệm gọi một học sinh tên là Mã Na ra để hỏi tình hình, con ranh đó chối phắt. Về sau, một con ranh khác tên là Tống Sảng lại lỡ mồm...” “Rồi sao?” “Nhà trường bảo là vấn đề xảy ra ngoài khuôn viên trường, không thuộc trách nhiệm của họ, bảo chúng em tự thương lượng giải quyết.” Người phụ nữ đấm đấm ngực mình. “Em chỉ biết chúng nó đánh Lâm Lâm, chứ ngờ đâu lại ra tay tàn bạo như vậy... đi đẩy con người ta xuống cống...”
“Cô Tô, tôi xin lỗi nói một câu khó nghe.” Cố Hạo hạ giọng. “Trần đời tôi chưa thấy bố mẹ nào như cô chú.” “Nhà chúng em...” Vợ Tô lại nấc lên. “Chúng em có lỗi với Lâm Lâm, đến cái hộp bút cũng chưa mua cho nó bao giờ, nên con bé mới phải dùng đỡ bằng hộp thuốc đó. Nó ngoan ngoãn biết điều như vậy, không đáng phải sinh ra trong cái nhà này...” “Bởi vì nó ngoan ngoãn và biết điều, nên mới là kẻ bị ruồng bỏ...” Cố Hạo không nhịn được nữa. “Nên mới biến thành con bài đàm phán của cô chú với nhà họ Mã?” “Không, không.” Người đàn bà lắc đầu quây quậy. “Đừng nói nữa, bác không biết em nhớ nó đến mức nào...” “Cứ cho là tôi hứa tìm thấy nó đi, tiếp theo thì sao?” Vợ Tô thoáng sửng sốt, rồi lắp bắp, “Em chỉ cần biết nó còn sống là đủ...” “Đứa trẻ có thể về nhà được không?” Cố Hạo nhìn thẳng vào thị. “Cô chú còn phải lựa chọn cơ mà? Cô chú có chịu ói tiền ra không? Chú Tô có sẵn sàng mất việc, chỉ để con cái được sống hợp pháp không?” “Nó còn sống là được, còn sống là được...” Người đàn bà cúi đầu, lẩm bẩm như quẫn trí. “Sống là tốt rồi, giải quyết thế nào tính sau.” “Tôi sẽ đi tìm nó, sống thấy người chết thấy xác.” Cố Hạo vẫy tay. “Đứng dậy đi.” Người đàn bà ngẩng phắt đầu lên, nước mắt lưng tròng, “Bác Cố, kiếp sau em sẽ làm trâu làm ngựa...” “Tôi nói rồi, tôi cũng là bác Cố của nó.” Cố Hạo đứng lên. “Cô không cần cảm ơn. Tôi làm không phải vì cô. Cô đi đi.”
Người đàn bà ngơ ngác nhìn Cố Hạo, thấy ông đã bưng bát mì lên, không để ý đến mình nữa. Thị đành từ từ bò dậy, đập bụi trên quần. Đến cửa thị còn ngoái lại nhìn Cố Hạo lần nữa, như thể có điều muốn nói, cuối cùng chị cắn môi, mở cửa đi ra. Cố Hạo chật vật nuốt xong một miếng mì nguội thì không ăn được nữa, đành buông đũa xuống.
T 18 ao nước hứ Hai, 13/6/1994. Trời nắng. Áp phích mang màu nền xanh trong, góc trên bên trái là vầng trăng tròn màu vàng. Dưới ánh trăng, sóng nhấp nhô. Trên tảng đá, nàng tiên cá ngồi yên lặng, tóc xoăn phớt nâu xõa ngang lưng, một tay giữ lấy đuôi cá mảnh mai. Nàng hơi ngửa mặt nhìn trời đêm như đợi chờ hạnh phúc đến. Tấm áp phích vẽ tay này có lẽ là tác phẩm của thầy Chu. Thầy đã không sử dụng ảnh Mã Na làm chủ đề cho tấm áp phích, dù là vô tình hay cố ý thì tôi cũng rất biết ơn. Bằng cách này, tôi có thể nhìn vào áp phích và tưởng tượng mình mới là tiên cá xinh đẹp. Nghe thật đáng buồn, nhưng tôi không thể kiểm soát được bản thân. Giống như khi nhìn thấy tấm áp phích này trong khuôn viên trường đêm đó, phản ứng đầu tiên của tôi là: nó thuộc về tôi, và tôi phải mang đi. Tấm áp phích khơi dậy một thứ đã bị dập tắt thành tro bụi trong trái tim tôi. Tôi cảm nhận được rằng ngọn lửa nhỏ leo lét đang dần dần cháy mạnh lên. Đối với tôi, điều đó còn có ý nghĩa hơn ăn no tắm mát và mặc quần áo sạch. Nó như ám chỉ một khả năng, một tia sáng dưới lòng đất sâu, một lối thoát khác trong hệ thống cống ngầm chằng chịt như mạng nhện. Vincent lấy làm khó hiểu khi tôi cứ cầm nến, ngồi cạnh tấm áp phích và nhìn nó hàng giờ liền. Tuy cũng đến gần xem cùng,
nhưng thường thì xem vài phút là anh ta hết kiên nhẫn, quay sang loay hoay với đống đồ nhặt về hoặc lăn ra ngủ. Khó mà giải thích cho Vincent hiểu tấm áp phích này có ý nghĩa như thế nào đối với tôi. Đồng thời tôi thấy áy náy, vì thiếu ngủ mà không thể ra ngoài làm việc cùng anh ta. Tuy nhiên, Vincent không để bụng, thậm chí còn chu đáo dịch tấm nệm xuống bên dưới áp phích để mở mắt ra là tôi trông thấy nó ngay. Anh ta không biết rằng, điều này càng khiến ngọn lửa trong tôi bùng cháy mạnh mẽ hơn. Tôi nhận ra một điều, khi cuộc đời tụt về số không, hễ còn sống thì mỗi ngày tiếp theo người ta đều làm phép cộng. Ấm nước nóng, móc áo, sơ mi trắng... là “1”. Tấm áp phích, là “100”. Chúng khoan một lỗ hổng trong tim tôi, lỗ hổng đó gọi là “khao khát” , và ngày một mở rộng. Từ chấp nhận thụ động sang hấp thụ chủ động. Lỗ hổng này không cách gì lấp đầy. Nó sẽ nuốt chửng mọi thứ có thể. Nó nói rằng, tôi thèm, tôi muốn. Tôi muốn một đôi giày thể thao màu trắng. Tôi muốn cái váy trắng đó. Thực tế thì, chính tôi còn thấy sợ mình. Một giọng nói cất lên, mày không thể đòi hỏi thêm nữa. Giọng kia nói, tại sao không? Chúng cãi nhau không dứt, nhưng tôi không thể làm gì được. Đặc biệt là khi Vincent không ở bên, có cảm giác hai giọng nói này ngập ngụa khắp phòng. Xem ra đây là một sự lựa chọn. Thật ra trong khi do dự, tôi đã đưa ra lựa chọn rồi. Vì vậy, một ngày nọ, tôi ngồi trên nệm, ngước nhìn áp phích, ngắm sóng, ngắm đá ngầm, ngắm nàng tiên cá đang dõi nhìn trời đêm. Phía sau tôi, Vincent ngáy khò khò. Tôi quay lại, nhìn
chằm chằm vào khuôn mặt hốc hác nhăn nheo và râu ria rậm rạp mới mọc, đưa tay vuốt ve khuôn mặt anh ta. Vincent nhăn mũi, chép miệng mãn nguyện rồi tiếp tục chìm vào giấc ngủ. Vincent, em sẽ rời xa anh. Bên ngoài phòng họp ồn ào huyên náo. Hàng chục người chen chúc ở hành lang, mồm năm miệng mười với vẻ sốt ruột. Thai Vỹ len qua giữa họ, hô lớn, “Xếp hàng, xếp hàng vào! Đồng chí kia, tắt thuốc đi, không được hút ở đây...” Vương Hiến Giang khoanh tay dựa cửa, trầm lặng nhìn đám đông ồn ào, cố gắng tìm ra biểu hiện khác thường nào đấy từ những khuôn mặt bình thường này. Tấm giấy ghi “Vụ cưỡng dâm giết người hàng loạt 24/5” vẫn dán trên cánh cửa bên cạnh ông đã được xé bỏ. Thình lình ông quát, “Câm hết đi!” Đám đông đột ngột lặng phắc. Thai Vỹ thừa cơ đẩy mấy người xung quanh, “Xếp thành hai hàng, nhanh lên!” Một trong số họ kháng nghị, “Đồng chí cảnh sát, đồng chí triệu chúng tôi đến đây làm gì vậy?” “Không cần hỏi.” Mặt Vương lạnh tanh. “Bảo anh làm gì anh làm nấy.” Người đàn ông bất bình lẩm bẩm vài câu rồi đứng vào hàng. Lúc này, cửa phòng họp mở ra, Đỗ thò đầu ra vẫy tay với Vương, “Điện thoại này.” Vương quay vào phòng họp, nhấc ống nghe trên bàn dài, “Ai đấy?” “Anh Vương ạ? Tôi là Hứa Trường Minh ở đồn công an phố Tiểu Bắc.”
“Chà, chào cậu. Có chuyện gì vậy?” “Anh đã nhận được bản thông tin cư trú chúng tôi gửi đến chưa?” “Đã nhận. Sao thế?” “Có tin mới đây.” Trong đường dây vọng ra tiếng lật giấy loạt soạt. “Khi thông báo cho cư dân ở địa bàn này đến công an thành phố, có người phản ánh rằng anh ta không sống ở đây nữa, nhà đã cho thuê.” “Người nào?” “Thang Lạc Bình.” Vương cầm danh sách trên bàn lên, lướt lại xem, tìm đến cái tên đó, “Thang Lạc Bình này giờ sống ở đâu?” “Ở phố Tứ Đạo.” Vương nhìn bản đồ treo trong phòng họp. Phố Tứ Đạo cách khá xa “vùng đệm”. “Hiểu rồi. Có thông tin gì về người thuê chưa?” “Có sơ bộ: Chu Hy Kiệt, nam, tầm ba lăm ba sáu tuổi, giáo viên thì phải.” “Hiểu rồi, nhờ các cậu liên lạc với Chu Hy Kiệt, yêu cầu ngày mai đến công an thành phố, gặp Vương Hiến Giang hoặc Thai Vỹ.” “Vâng.” Vương cảm ơn rồi gác máy, gạch chéo lên cái tên “Thang Lạc Bình” trên danh sách. Thai Vỹ và bác sĩ Đỗ theo nhau bước vào phòng họp. Thai Vỹ thấy thế liền hỏi ngay, “Chuyện gì vậy thầy?” “Không có gì, danh sách có sự điều chỉnh thôi.” Vương quăng
bút xuống bàn. “Người ngoài thế rồi?” “Cục Đăng kiểm sàng lọc ra 71 người, hôm nay chúng ta kiểm tra một nửa trong số họ, 35 người. Nửa kia để mai. Đã có 32 người đến rồi.” “Trong số những người chưa tới, có ai tên là Thang Lạc Bình không?” Thai Vỹ nhìn danh sách trong tay, “Có. Ở khu B.” “Gạch đi, không phải đợi cậu ta nữa.” “Những người chưa tới khác thì sao?” Vương hỏi, “Theo anh thì sao?” Thai Vỹ ngẩn người, Đỗ cười cười, “Không đến tức là chột dạ, càng đỡ việc cho chúng ta.” Thai Vỹ hơi ngượng, “Chắc là được rồi đấy, bắt đầu thôi nhỉ?” Vương nhìn Đỗ, “Tiến hành thế nào đây?” “Mười người một nhóm, tôi sẽ lấy máu.” Đỗ trỏ điện thoại trên bàn. “Vỹ giúp tôi, anh cứ đợi điện thoại là được. Cứ xong một nhóm là tôi báo với anh, anh lo xếp người, tôi bảo Vỹ đến dẫn họ sang.” Thai Vỹ đăm chiêu, “Giải thích với họ thế nào đây?” Vương bĩu môi, “Cảnh sát phá án thì phải giải thích cái gì. Họ cứ làm theo yêu cầu là được.” Thai Vỹ lè lưỡi, không nói nữa. Vương vuốt tóc, “Anh Đỗ, nhanh nhất thì bao giờ có kết quả?” “Tôi đã tính sơ qua.” Đỗ trầm ngâm. “Trung tâm Huấn luyện Số 2 chắc chắn làm được, nhưng mẫu nhiều quá, chắc sẽ chậm. Tinh Liêu Ninh đã sử dụng kĩ thuật này từ năm 1988. Hay là anh báo cáo với phó giám đốc Hồ, lấy danh nghĩa công an tỉnh nhờ
Liêu Ninh hỗ trợ, may ra nhanh hơn gửi đến Trung tâm Số 2.” “Được.” Vương đứng lên. “Tôi đi thu xếp ngay đây. Nếu anh cần tìm tôi thì cứ nhắn tin nhé.” Đỗ gật đầu rồi cùng Thai Vỹ ra ngoài. Vương đi theo, trông thấy Thai Vỹ đã đứng trước đám đông chọn ra nhóm đầu tiên. Vương lách qua hàng người dày đặc, đi về phía cầu thang. Bước lên bậc thang đầu tiên, ông ngoái lại nhìn hàng người. Không biết hung thủ đã cướp đi ba sinh mạng có nằm trong số này hay không, và không biết liệu thời khắc vạch trần tội ác đã cận kề hay còn xa tít. Cố Hạo ngồi hút thuốc cạnh điện thoại, thi thoảng lại nhìn đồng hồ treo tường. Mười lăm phút đã trôi qua kể từ lần gần nhất ông nhắn tin cho Thai Vỹ. Cố Hạo di đầu mẩu thuốc, quyết định không đợi thêm nữa. Ông kiểm đếm lại đồ đạc trong túi vải bạt: áo mưa, găng tay, khẩu trang, đèn pin, pin, ủng, lại nhét thêm một gói bánh mì và bình giữ nhiệt đổ đầy nước nóng, cuối cùng vơ lấy thuốc và bật lửa rồi khoác túi lên vai, đứng dậy đi ra. Vừa chạm vào tay nắm cửa thì nghe điện thoại trên bàn reo vang, Cố Hạo vội bước tới nhấc máy, “Alô?” “Bác tìm con sao?” Thai Vỹ hình như đang ở một chỗ rất ồn ào, tiếng nói nhốn nháo. “Mày đang làm gì đấy?” “Con đang ở cơ quan, làm việc chứ làm gì.” Thai Vỹ đột nhiên hét lên. “Tất cả ngậm miệng! Đóng cửa lại! Bác Cố, bác nói đi.” “Hừm, mày làm đi, để sau hãy hay.”
“Không sao, bác nói đi, lát nữa con lại phải chạy ra ngoài.” “Là thế này... Mày đang điều tra vụ ba thi thể phụ nữ trôi ra khỏi cống ngầm?” “Vâng.” “Mày có lùng sục kĩ càng dưới đó không?” “Có ạ.” Thai Vỹ hơi bối rối. “Sao bác lại hỏi chuyện này?” “Mày có bản vẽ cống ngầm hay đại loại thế không?” “Có ạ.” Thai Vỹ vỡ lẽ. “À, liên quan đến cô bé hàng xóm nhà bác hả?” “Ừ. Tao đã điều tra, nơi cuối cùng nó xuất hiện chính là cống ngầm.” “Cái huy hiệu kia là của em ấy?” “Giờ vẫn chưa biết.” “Không phải bác định chui xuống cống đấy chứ?” “Việc đã đến nước này, phải chui xuống một phen xem sao.” “Cống nước thải hay cống nước mưa?” “Hả?” Cố Hạo ngập ngừng. “Tao không rõ nữa... Hai cống khác nhau hả?” “Trời, tuy gọi là cống thôi nhưng phức tạp lắm đấy.” Thai Vỹ lại hét lên. “Ông già, đừng hành động hấp tấp. Đợi con đến đã, đừng có nhỡ chân rồi đi lạc.” “Cái thằng này! Mày coi tao là trẻ con hả?” “Bác nghe con, đợi con ở nhà. Con bận rồi, cúp máy đây.” Cố Hạo đặt điện thoại xuống, cân nhắc một hồi rồi quyết định đi tiền trạm. Đổi xe buýt hai lần, lại cuốc bộ một chặng, nửa giờ sau, Cố Hạo
đến khu chung cư Khương Đình ở. Chẳng mấy chốc ông đã tìm thấy cống ngầm ở khoảng đất trống giữa hai tòa nhà. Hai chữ “Nước mưa” trên nắp sắt cho thấy đây là cống nước mưa mà Thai Vỹ đã nhắc. Cố Hạo thay sang ủng, đi vòng quanh miệng cống, ngồi xổm xuống, móc ngón tay vào lỗ thoát nước và cố gắng kéo nắp cống lên. Tuy nhiên, cái của nợ bằng sắt nặng trịch này chi hé ra một khe hở nhỏ. Cố Hạo đành bỏ cuộc, trong lúc ngó nghiêng xung quanh, ông trông thấy Khương Đình chạy tới. Cô bé hụt hơi dừng lại trước mặt ông, mặt đỏ bừng bừng. “Sao cháu lại tới đây?” “Cháu nhìn thấy bác từ trên lầu.” “Hôm nay là thứ Sáu kia mà?” Cố Hạo ngẫm nghĩ. “Tại sao không đi học?” “Khối Mười hai thi thử, trưng dụng phòng học của khối Mười và Mười một ạ.” Khương Đình đi đến bãi cỏ bên cạnh nhặt một cành cây ngắn. “Lần trước cháu dùng cái này.” Cố Hạo nhận cành cây, cắm vào lỗ thoát nước, cố sức bẩy nắp cống lên rồi kéo sang bên cạnh. Miệng cống đen ngòm hiện ra. “Cảm ơn.” Cố Hạo buông cành cây. “Cháu về đi.” “Không.” Khương Đình thò đầu nhìn xuống cống. “Cháu sẽ đi với bác.” “Không được.” Cố Hạo khoát tay. “Cháu về mau đi, kẻo mẹ lo.” “Mẹ cháu đi làm rồi. “Khương Đình nhăn mặt trêu. “Không biết đâu.” Bấy giờ Cố Hạo mới nhận ra cô bé mặc đồ thể thao và xỏ ủng màu tím chấm trắng, xem vẻ đã chuẩn bị sẵn sàng. “Thế cũng không ổn.” Ông nghiêm mặt. “Cháu tưởng xuống
đấy là trò đùa hả?” Khương Đình lấy trong túi ra vài cuộn cước trắng, lúc lắc trước mặt Cố Hạo, “Cái này có ích cho bác.” Cố Hạo híp mắt, “Cái gì đấy?” “Dây câu bố cháu thường dùng trước đây” Cố Hạo suy nghĩ một chút, chìa tay ra, “Chu đáo đấy!” Cô bé giấu cuộn dây sau lưng, nghiêng đầu nhìn ông với vẻ tự đắc. Cố Hạo bất lực, “Xuống đó rồi nhất nhất phải tuân theo chỉ dẫn của tôi, bảo cháu làm gì cháu làm nấy, hiểu chưa?” Khương Đình ném đống dây câu cho Cố Hạo rồi đi trước đến bên cống, đặt chân xuống thang sắt. Cố Hạo ngó quanh, thầm mong đừng ai bắt gặp cảnh một lão già dắt một bé gái xuống cống. Cống ngầm sâu chừng 4 mét. Khương Đình đã xuống tới đáy, lập tức nhích ra nhường chỗ cho Cố Hạo cũng đang leo xuống. Miệng cống hẹp nhưng lòng cống rất rộng. Tuy nhiên, trừ luồng sáng rọi tới qua miệng cống, xung quanh tối om om. Xuống đến nơi, Cố Hạo nhận ra họ đang ở trong một ống cống bê tông hình tròn. Chiều cao đủ để một người lớn đứng thẳng, dưới đáy có nước đọng, chắc là còn lẫn bùn, vì đế ủng có cảm giác trơn trượt. Cố Hạo mở túi vải bạt lấy đèn pin, rọi sang hai bên trái phải, thì thấy đều là những ống cống bất tận như nhau. Khương Đình xem chừng khá hào hứng, nhưng cũng hơi sợ hãi, “Bác Cố, đi đằng nào đây?” Cố Hạo suy nghĩ một lúc, “Cháu nhặt được chìa khóa ở đâu?” Khương Đình nhớ lại rồi trở xuống chân, “Có lẽ là vị trí này.”
Cố Hạo rọi đèn pin vào ống cống bên phải, “Đi hú họa thôi.” Ông bảo Khương Đình buộc một đầu dây câu vào thang sắt, mình thì xỏ găng bông và cầm cuộn dây. “Đi theo tôi, chú ý dưới chân nhé.” Ông dặn thêm. “Đừng chạm vào bất cứ thứ gì.” Khương Đình gật đầu. Cố Hạo hít một hơi thật sâu, một tay cầm đèn pin, tay kia từ từ thả dây câu, tiến sâu vào cống nước mưa tối om. Di chuyển được hơn chục mét, ông ngoái nhìn nơi mình đã xuống. Luồng sáng lặng lẽ đứng tại chỗ, như vẫn mang theo hơi ấm. Trong chốc lát, Cố Hạo gần như muốn lao trở về, lập tức rời khỏi nơi lạnh lẽo tối tăm này. Tuy nhiên, cứ nghĩ Tô Lâm đang mò mẫm tiến bước trong bóng tối, ông bèn thôi ngoái lại, nghiến răng lội nước, tiếp tục tiến bước. Ít nhất trước mắt mình vẫn còn ánh sáng. Ít nhất mình còn có một người bạn đồng hành, cho dù người bạn ấy cứ co ro đi sát đằng sau, không dám bước xa quá. Quả thật, lòng can đảm của Khương Đình đã bay biến ngay khi rời khỏi phạm vi ánh sáng. Ngoại trừ các chỗ đèn pin rọi tới, tất cả đều tối đen. Bóng dáng ông già phía trước khiến em vững dạ đôi chút, cũng là chỗ dựa duy nhất cho em ở nơi mù mịt này. Khương Đình bắt đầu hối hận vì sự bồng bột của mình. Tuy nhiên, em không muốn bỏ cuộc, trực giác mạnh mẽ mách bảo em rằng Tô Lâm vẫn ở đây. Có lẽ là vì sợ hãi, chẳng mấy chốc Khương Đình đã thấy lạnh buốt cả người, nhất là đôi chân dù đang xỏ ủng. Nước trong cống lạnh vô cùng, cứ như đã gần đến điểm đóng băng. Khương Đình
đang tự hỏi tại sao mình không đi tất dày, thì cảm thấy có thứ gì đó trượt qua ủng mình. Em vô thức thét lên và đá mấy phát vào vũng nước đọng. Cố Hạo ngoái đầu lại, “Sao vậy?” “Có... có con gì...” Khương Đình tái mặt, hốt hoảng nhìn quanh. “Bò qua chân cháu.” “Không sao.” Cố Hạo nhẹ nhàng nói. “Chắc là chuột đấy.” Mặt Khương Đình trắng bệch, “Ở đây có chuột?” “Nếu không cháu nghĩ chúng nó sống ở đâu?” Cố Hạo cười cười. “Thôi, cháu lần theo dây câu trở lại đi.” Khương Đình im lặng vài giây, “Không ạ.” Em đẩy cánh tay Cố Hạo. “Đi nào.” Hai bác cháu tiếp tục đi dọc theo ống cống. Ban đầu, Cố Hạo còn chú ý xem xét các dấu vết dưới chân và trên thành cống, nhưng ông nhanh chóng từ bỏ suy nghĩ tìm được bất kì manh mối nào ở đấy. Ngấn mờ trên thành cống cho thấy mực nước nơi này phải gần một mét, bất cứ thứ gì rớt lại cũng sẽ bị dòng nước cuốn phăng. Ông không phân tâm nữa mà tập trung vào hành trình của mình. Khương Đình theo sát phía sau. Không ai bảo ai, họ đều im lặng. Ngoại trừ tiếng lội nước oàm oạp và tiếng thở của họ, ở đây không còn tiếng động nào khác. Không khí khó mà nói là trong lành, một mùi khăn khẳn cứ thoảng qua lỗ mũi. Cố Hạo bắt đầu chóng mặt. Ông dừng lại, lấy trong túi đeo vai ra hai chiếc khẩu trang cho mình và Khương Đình, rồi đi tiếp. Bịt mũi bịt miệng có thể tạm thời ngăn chặn mùi khó ngửi, nhưng lại làm tăng tình trạng khó thở. Nửa giờ trôi qua, Cố Hạo thở hồng hộc. Khương Đình phía sau cũng thở
hổn hển, bước chân lê lết. Cố Hạo bắt đầu hoài nghi liệu mình có đi tiếp được nữa không. Vòng qua rất nhiều chỗ ngoặt, dùng sang cuộn dây câu thứ hai, cuối cùng họ cũng đi đến hết đoạn ống cống hiện tại. Trước mặt hiện ra một đoạn cống ngang, cao hơn và rộng hơn, có các bậc thang bằng đá granit nối xuống ống cống họ đang đứng. Cố Hạo cẩn thận bước qua các bậc đá trơn trượt, rồi quay lại đỡ Khương Đình theo. Sau đó, ông giơ đèn pin rọi bên trái và bên phải, đều chỉ thấy bóng tối vô tận. Cố Hạo đứng im vài giây, thình lình hét lên, “Tô Lâm!” Tiếng hét của ông va đập vào thành công, và lan dần ra xa. Khương Đình giật mình, lập tức nín thở, cẩn thận lắng nghe âm thanh. Sâu thẳm bóng tối vẫn tịch mịch như chết. Khương Đình nhìn Cố Hạo, “Nên đi đằng nào bây giờ hở bác?” Cố Hạo suy nghĩ một lúc rồi rọi đèn pin xuống chân. Dòng nước đang từ từ chảy sang phải, có vẻ lối ra là ở bên này. Hơn nữa, mọi người thường chọn bên phải khi không chắc chắn về hướng đi, hoặc khi đang tràn đầy cảm xúc. Cố Hạo quyết định kéo dây câu đi về phía bên phải, “Nào, hôm nay chúng ta đặt cược vào bên này.” Ngả mới không khác gì ngả họ vừa đi qua, chi được cái rộng rãi hơn nên mùi khó chịu cũng loãng hơn. Cố Hạo kéo khẩu trang xuống cằm, cẩn thận thả dây câu rồi khụt khịt mũi tiến tới. Đi được một quãng rất dài, khi cuộn dây câu thứ hai thả hết, Cố Hạo phát hiện trên thành cống xuất hiện một ô cửa, chắc lại dẫn vào một ống cống khác. Cố Hạo đoán rằng đoạn họ vừa đi
qua là cống chính trong hệ thống cống nước mưa dưới lòng đô thị, đoạn mới phát hiện đây thì là cống nhánh. Điều này phù hợp với hình dung ban đầu của ông. Mạng lưới cống ngầm chết tiệt này tỏa đi nhiều hướng và rất phức tạp. Không phải vô cớ mà Thai Vỹ lo ông “đi lạc”. Cố Hạo cố gắng tiến bước, và nhận thấy rằng ở cả hai bên thành cống chính, cứ cách một đoạn lại có ô cửa dẫn sang cống nhánh. Nghĩa là Tô Lâm có thể đi theo bất cứ ngả nào. Khương Đình cũng nhận ra điều này. Khi đi qua một ô cửa khác, em leo lên các bậc thang và nhìn vào cống nhánh, do dự một chút rồi run rẩy gọi, “Tô Lâm.” Không có phản hồi. Khương Đình cúi đầu, quay xuống thang với vẻ ủ rũ. Cố Hạo nhìn em, “Mệt không?” Khương Đình im lặng gật đầu. Cố Hạo mở túi vải bạt, lấy áo mưa trải xuống bậc thang. Nghĩ sao, ông lót giày bên dưới áo mưa và ra hiệu cho Khương Đình ngồi xuống, lấy bánh mì và bình giữ nhiệt ra, đưa cho em. Xem chừng đói thật, Khương Đình lập tức xé một miếng bánh mì lớn, chỉ cần hai ba miếng là hết, đoạn rót nước nóng ra nắp bình giữ nhiệt rồi nhấp từng ngụm nhỏ. Cố Hạo cũng ngồi xuống, ăn một miếng bánh mì và uống một ít nước nóng. Dù có áo mưa ngăn cách, nền đá cứng trơ lạnh lẽo vẫn khiến người ta khó chịu. Tuy nhiên, Cố Hạo không muốn đứng dậy. Đôi chân tê nhức cần được nghỉ ngơi, và ông cũng cần suy xét rõ ràng về một số việc. Trong đó, quan trọng nhất là: Tô Lâm còn sống không?
Giả thuyết 1: Còn sống, suy ra đang mắc kẹt trong cống. Chứ nếu đã lên được mặt đất, Tô Lâm sẽ gọi công an hoặc về nhà ngay lập tức, và không xảy ra những việc sau này. Tuy nhiên, nó đã mất tích một thời gian rồi, làm thế nào nó sống sót được ở đây? Chí ít như ông quan sát được, ngoài nước, không có gì để ăn ở cống ngầm. Điều này củng cố giả thuyết thứ hai. Giả thuyết 2: Tô Lâm đã chết ở đây, xác đã trôi ra sông Lệ Thông do mưa lớn. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra của Thai Vỹ thì chưa tìm thấy xác chết nào không rõ danh tính. Do đó, Cố Hạo vẫn luôn chú ý phân biệt các mùi trong không khí bẩn của công ngầm. Hồi đẩy lùi quân Ấn, ông đã quá quen với mùi khắm của xác chết phân hủy, dù trải nghiệm này đã khá lâu, đấy vẫn là thứ mùi không dễ gì quên được. Mặc dù tìm kiếm chưa có kết quả, ông vẫn chuẩn bị tinh thần để nhìn thấy một cái xác rữa nát với khuôn mặt gớm ghiếc, trương phềnh và thậm chí bị chuột gặm nhấm. Cố Hạo nhìn Khương Đình đang co ro bên cạnh. Dù thế nào cũng không thể để đứa trẻ này chứng kiến cảnh ấy. Mặc dù giả thuyết thứ hai có nhiều khả năng hơn, Cố Hạo vẫn muốn tin vào giả thuyết đầu tiên. Đây rõ ràng là một hi vọng vô vọng, nhưng hi vọng lại là điều đẹp đẽ nhất trên đời. Nếu còn sống trong cống ngầm, chắc Tô Lâm đang ở một vị trí thích hợp cho sinh tồn. Suy ra, cống chính và công nhánh đều không phù hợp yêu cầu. Chưa nói gì khác, chỉ riêng nước đọng đã đủ khiến người ta không thể nấn ná lâu dài. Về thức ăn, hãy cứ tin rằng nó có thể và sẽ bắt được chuột, thạch thùng... rồi ăn sống.
Cố Hạo hút hai điếu thuốc, quay đầu nhìn Khương Đình, “Cô bé, đi tiếp được chứ?” Khương Đình uống hết nước nóng trong nắp bình rồi gật đầu. Cố Hạo cất áo mưa, giày, bình giữ nhiệt và bánh mì thừa vào túi vải bạt rồi lại kéo dây câu, “Đi nào.” Cuộc tìm kiếm bất tận lại bắt đầu. Vẫn nước đọng. Vẫn thành cống phủ rêu. Vẫn các bậc thang và những ô cửa dẫn sang cống nhánh. Vẫn bóng tối và tịch mịch. Đôi khi, Cố Hạo ngờ rằng họ chỉ loanh quanh tại chỗ, chứ cống chính làm sao mà dài đến vậy được. Hễ gặp cống nhánh, họ sẽ dừng lại một lúc, chui vào tìm kiếm một đoạn và gọi to tên Tô Lâm. Cái nơi quỷ quái này cứ như có ma thuật khiến người ta muốn im lặng, tưởng đâu phát ra tiếng động là sẽ chọc giận con quái vật đang lặng lẽ thu mình dưới vực sâu tăm tối. Vì vậy, mỗi khi hét lên, họ (nhất là Khương Đình) đều hoảng hốt. Cô vừa mong cô bạn kia trả lời, vừa sợ phải nghe thấy một âm thanh kinh dị. Tiến bước không biết bao lâu, Cố Hạo đột ngột dừng lại, đồng thời thở dài. Khương Đình cũng dừng lại theo và nhìn ánh đèn pin rọi xuống chân ông... Dây câu đang bập bềnh trong nước. Em nghe lòng chùng xuống, bất giác liếc cuộn dây trên tay Cố Hạo. Chỉ còn lõi ống. Cố Hạo nhặt dây câu, quấn hai vòng vào lõi mà không nói một lời. Khương Đình hiểu rằng đây là cuộn cuối cùng, cuộc tìm kiếm hôm nay không thể tiếp tục được nữa. Em đứng lặng, không xác định được mình đang thất vọng hay vui mừng. Cố Hạo ngẫm nghĩ một lúc rồi ngập ngừng hỏi, “Cháu cầm lõi
ống đợi tôi ở đây nhé? Tôi sẽ lần mò thêm một đoạn xem sao. Khương Đình lập tức mở to mắt kinh hãi, lắc đầu quầy quậy. Cố Hạo cũng không thuyết phục nữa, tuy ông chắc chắn mình sẽ tìm được đường quay lại thôi, nhưng bỏ cô bé này một mình trong bóng tối quả thật là làm khó nó, mà chính ông cũng không yên tâm. Chưa nản lòng, nhưng bất lực, ông cầm đèn pin rọi xa rọi gần một lúc rồi định rút lui. Đột nhiên, ông thoáng thấy gì đó trên thành cống cách mình tầm chục mét, màu sắc khác với màu bê tông bên cạnh, hình dạng cũng khác. Ông quay sang Khương Đình, “Cháu ở đây chờ nhé, tôi sẽ quay lại sớm.” “Không, không.” Cô bé lắc đầu như trống bỏi. “Cháu không muốn ở đây một mình.” “Tôi ra đằng kia thôi mà.” Cố Hạo giơ tay chỉ. “Trong tầm mắt cháu thôi.” Khương Đình kéo tay áo ông, “Không, cháu đi cùng bác.” Cố Hạo khó xử, nghĩ ngợi một lát thì lấy bình giữ nhiệt trong túi ra, thử sức nặng rồi quấn dây câu quanh bình, đặt xuống nước. “Đi nào.” Vẫn đội hình bác trước cháu sau, cả hai chậm rãi tiến về phía đó, đèn pin rà trên thành cống. Đến gần hơn, Cố Hạo nhìn thấy một cánh cửa sắt tròn đang mở, to đủ cho một người đi qua. Ông ghé sát lại, rọi đèn pin, và phát hiện bên trong có một cái hang. Sát cửa sắt là mấy bậc thang, nước mấp mé ở cửa, các bậc dưới cùng đều chìm trong nước. Làn nước đục ngầu, ước chừng ngập sâu một mét. Không gian này tương tự như “tiền sảnh” , kết nối
với một không gian rộng hơn ở sâu hơn. Cố Hạo giơ đèn rọi xa, lờ mờ thấy tường bám rêu xanh, hình như góc tường có gắn thang sắt. Nơi này trông giống một cái ao khổng lồ. Khương Đình ló ra từ đằng sau, tò mò nhìn ngó. “Nhiều nước thế này...” Em đột nhiên khịt mũi, nhíu mày. “Đây là mùi gì?” Cố Hạo không trả lời, chỉ ra hiệu cho Khương Đình dừng ngoài cửa sắt, rồi tiếp tục rọi đèn pin xuống vùng nước chết. Ngay từ đầu ông đã ngửi thấy mùi khó chịu lơ lửng trên khoảng không của cái ao... Mùi xác chết. Đủ để đánh thức trí nhớ khứu giác của ông. Có gì đó đã chết ở đây. Dù là người hay động vật thì cũng sẽ trương phềnh như cái trống và nổi trên mặt nước. Tuy nhiên, xét trong tầm chiếu của đèn pin thì mặt nước rất phẳng lặng, chẳng có gì ngoài vài nhánh cây và cỏ lá khô héo. Hay nó đang chìm dưới đáy? Trang bị hiện có không thích hợp để lặn xuống thăm dò. Hơn nữa, ngay cả khi tìm được thứ gì thật, Cố Hạo cũng không muốn Khương Đình bắt gặp. Để xác minh nguồn gốc mùi xác chết này, e rằng phải đến vào một ngày khác. Cố Hạo quay lại, thấy Khương Đình đã lên theo vào, đang tò mò ngó nhìn xuống bậc đá. “Ở đây không có gì cả, ra ngoài thôi.” “Bác Cố, ” Khương Đình vẫn duy trì tư thế cái nhìn, giơ tay chi, “Kia là cái gì?” Cố Hạo soi đèn pin, phát hiện ở góc giữa bậc thang và tường có
một búi đen thùi lùi dập dềnh trong nước. Ông cố nhìn thật kĩ, nhưng vẫn không nhận ra hình dáng ban đầu của nó. Cố Hạo lưỡng lữ rồi nằm sấp xuống thêm, nhoài người ra với, ngón tay bắt được cảm giác trơn nhuội ghê rợn. Búi đen ngấm nước và khá nặng. Cố Hạo kéo nó lên thềm, trải rộng và nhận ra là một chiếc áo khoác dạ ngắn màu tím sẫm của nữ. Ông nhìn kĩ hơn, rồi ngước lên hỏi Khương Đình, “Lúc đi học các cháu không được mặc loại trang phục này đâu nhi?” “Vâng.” Khương Đình nhìn chiếc áo khoác dạ sũng nước, cau ... mày. “Bắt buộc phải mặc đồng phục.” Cố Hạo ngẫm nghĩ, rồi móc đầu ngón chân rê chiếc áo khoác ra cửa. “Hôm nay thế thôi. Về nào.” Cả hai quay ra cống chính, tìm chiếc bình giữ nhiệt quấn dây rồi trở về. Có dây câu định hướng và họ cũng không muốn nấn ná thêm nữa nên tốc độ di chuyển nhanh hơn nhiều so với khi vào. Cuối cùng, họ cũng nhìn thấy luồng sáng rọi vào cống. Cố Hạo tháo dây câu khỏi thang sắt và đỡ Khương Đình leo lên thang trước. Tuy nhiên, cô bé ngừng di chuyển ngay khi nhoài người lên mặt đất, đôi chân dài vẫn ở trên thang. Cố Hạo bị kẹt lưng chừng, lên không được xuống không xong, cứ luôn miệng giục giã. Mất một lúc nữa Khương Đình mới leo được ra ngoài, Cố Hạo lồm cồm bò khỏi miệng cống, vừa định hít thở không khí trong lành thì sững lại, mắt mở to. Ngọc Thục đứng ngay bên miệng cống, tức giận nhìn ông. “Bác Cố!” Chị từ trên cao nhìn xuống, giọng hung hăng. “Tôi
nghĩ là đã nói rõ với bác, chúng tôi không muốn nhúng tay vào vụ này nữa.” “Cô... đừng nóng giận, nghe tôi giải thích.” Cố Hạo chống hai tay xuống đất. “Để tôi lên hẳn đã nhé.” Ngọc Thục khịt mũi, tránh ra nhường đường. Cố Hạo chật vật bò khỏi miệng cống. Đứng dưới nắng trời, ông mới nhận ra người mình và Khương Đình đầy bụi bặm, mạng nhện, vết bẩn, lại còn bốc mùi hôi. Khương Đình vặn vẹo hai tay, lúng túng đứng bên mẹ, “Mẹ, mẹ đang đi làm cơ mà?” “Đi làm? Tôi về nấu cơm cho cô đấy!” Ngọc Thục tức giận. “Cô có biết tôi tìm cô bao lâu rồi không?” “Cô đừng mắng cháu nó.” Cố Hạo phủi bụi trên người. “Đều tại tôi cả...” “Tất nhiên là tại bác rồi!” Ngọc Thục lại quay phắt sang ông già. “Đưa một đứa bé xuống cái nơi nguy hiểm như vậy, bác đã tính đến hậu quả chưa?” Khương Đình lẩm bẩm, “Không nguy hiểm chút nào, chi hơi tối thôi...” “Hành động của tôi đúng là không ổn.” Cố Hạo cúi đầu với Ngọc Thục. “Tôi xin lỗi cô.” “Sao mẹ lại trách Bác Cố chứ!” Nhìn bộ dạng luống cuống của Cố Hạo, Khương Đình bất bình càu nhàu. “Con đòi đi mà.” “Con đòi đi làm gì? Con giỏi lắm hả?” Ngọc Thục đẩy Khương Đình. “Nếu không về nấu cơm, mẹ đã không...” “Suốt ngày cơm với nước!” Khương Đình chỉ xuống dưới chân. “Mẹ có nghĩ đến Tô Lâm không? Bạn ấy có gì ăn, mẹ đã quan tâm
bao giờ chưa?” Dứt lời, em quay mình rời đi. Ngọc Thục nhìn con gái, nhìn Cố Hạo, rồi giậm chân chạy theo con. Cố Hạo không biết nên lên tiếng hay không, cứ thế giương mắt nhìn hai mẹ con lần lượt khuất dạng ở góc ngoặt của tòa nhà. Ông thở dài, cúi xuống đây lại nắp cống, thay sang giày, tháo khẩu trang và găng tay, chậm rãi đi về đằng xa. Bẩn thỉu và hôi hám, Cố Hạo bỏ ý định bắt xe buýt. Cuốc bộ gần một tiếng đồng hồ mới về đến nhà. Sau khi rửa mặt rửa tay, ông tống cả túi vải bạt lẫn quần áo giày ủng bẩn thỉu vừa thay vào góc nhà. Định nằm nghỉ nửa tiếng rồi dậy nấu ăn, nhưng đầu vừa chạm gối ông đã ngủ li bì. Khi thức giấc, trời đã tối đen, Cố Hạo nằm yên trên giường hơn mười phút mới lồm cồm bò dậy, tự nhủ phải tìm cái gì bỏ bụng. Vừa mở tủ lạnh thì nghe gõ cửa dồn dập, Cố Hạo lại quay ra. Cửa mở, Thai Vỹ thò ngay đầu vào, nhìn ông từ đầu xuống chân, “Sao bác không nghe điện thoại?” Cố Hạo ngẩn người, “Tao ngủ mới dậy, nên không nghe thấy. Sao vậy?” “Con tưởng bác gặp chuyện gì rồi.” Thai Vỹ thở phào nhẹ nhõm. “Xong việc là con vội vàng chạy qua đây luôn đấy.” “Chưa ăn gì?” “Bác nghĩ sao?” Thai Vỹ cau có nói rồi ngồi phịch xuống giường hít hà. “Mùi gì thế này?” Mắt liếc đến đống quần áo và giày ủng bẩn trong góc nhà, anh chợt hiểu ra, liền cau mày. “Bác thật ương bướng. Con đã bảo là không được xuống một mình
mà.” “Tao đi tiền trạm xem sao.” Cố Hạo lấy trong tủ lạnh ra hai quả trứng. “Ăn chút mì tương đen lót dạ nhá?” “Sao cũng được.” Thai Vỹ mở cửa sổ cho thoáng, lại đi tới gần túi vải bạt, ngồi xổm xuống lục xem. “Chuẩn bị đầy đủ ghê. Bác có tìm được gì không?” “Chẳng tìm được gì. Cống rộng quá, tao không đi được bao xa." Cố Hạo với lấy tạp dề treo trên tường. “Tao tìm thấy một nơi như ao nước, vớt được một chiếc áo khoác dạ.” Thai Vỹ ngẩng đầu chớp mắt, “Áo khoác dạ?” “Chà, màu tím, của nữ.” Cố Hạo bước tới cửa. “Không biết là của ai, trông còn khá mới.” Thai Vỹ níu lấy ông già, trợn to mắt, “Bác nói lại lần nữa xem nào!”
T 19 chứng minh hứ Sáu, 17/6/1994. Trời quang đãng, sau nhiều mây. Vincent bị thương rất nặng. Anh ta đang ngồi xổm bên bếp cồn nhỏ, chậm chạp khuấy bột ngô trong chậu inox, không hó hé một lời. Đầu anh ta trông to hẳn lên trong ánh lửa. Một là do sưng tấy, hai là do nhiều lớp vải quấn quanh, máu cứ loang rộng dần. Anh ta bị thương, là tại một quyết định của tôi. Mấy hôm nay tôi cứ giặt quần áo suốt. Sau nhiều lần và chà, bộ đồng phục trông đã đỡ bẩn hơn. Tuy nhiên, để trong bóng tối dưới lòng đất này thì còn lâu mới khô, đôi lúc tôi phải mang theo ra ngoài khi đi làm đêm cho nó được hong gió. Đôi giày thể thao trắng thì khó đối phó hơn nhiều. Nước bẩn ngấm vào còn dễ xử, nhiều nhất cũng chỉ khiến giày ngả vàng, chứ vết mực xanh Tô Triết nhỏ lên mới là không thể xóa được. Vincent không hiểu tại sao tôi phải chăng khăng giặt giày như thế, theo anh ta, giày mang được là đủ, màu sắc thế nào thì quan trọng gì. Anh ta không hiểu suy nghĩ của tôi, càng không hiểu được hành động của tôi. Vì vậy, trong khi tôi loay hoay giặt đôi giày, anh ta cứ chồm hỗm bên cạnh, hết nhìn tôi lại nhìn đôi giày bằng ánh mắt nghi hoặc. Có lẽ đoán được tôi muốn xóa những vết mực xanh đó, anh ta bèn làm một điều ngu ngốc. Với suy nghĩ dùng dao có thể cạo sạch mực, nhè lúc tôi ngủ, thiên tài
Vincent bắt đầu thử nghiệm của mình. Anh ta độn một miếng gỗ vào trong giày để kê cao mặt giày lên và lấy dao nạo sồn sột. Quả thật mực có mờ đi. Như được tiếp sức, anh ta bèn ráo riết đưa dao, hậu quả là là mặt giày thủng một lỗ to. Tôi nổi điên với anh ta, sau đó khóc bù lu bù loa. Tôi khóc lóc thảm thiết như thế không phải vì đôi giày. Thực tế cố lắm thì vẫn đi được, chỉ là chưa đủ hoàn hảo mà thôi. Tôi không hiểu nổi tại sao những gì mình trân trọng luôn bị phá hủy một cách dễ dàng như vậy? Chẳng lẽ là tại tôi không xứng đáng? Không xứng đáng với cả một đôi giày cũ đã đi quá lâu và loang lổ vết mực? Vincent hoảng hốt đến mức buổi tối gọi tôi đi làm cũng rất dè dặt. Tất nhiên là tôi phớt lờ, anh ta hậm hực bỏ đi một mình, và đi suốt cả đêm với nguyên một ngày nữa. Trong hơn hai mươi tiếng đồng hồ ấy, tôi đi từ giận dữ đến nghi ngờ, sợ hãi, và cuối cùng là lo lắng sâu sắc. Anh ta có để thức ăn lại, nên tôi không đói, nhưng tôi thực sự tưởng rằng mình đã bị bỏ rơi mãi mãi. Một con bé chuyên lãng phí thức ăn, nước uống, nến thắp của anh ta, lại thường xuyên đưa ra những yêu cầu kì quái, tính khí thì khó chịu... Có gì đáng để lưu luyến? Đúng lúc tôi định lên mặt đất để tìm thì Vincent quay về. Thấy anh ta chui vào cửa sắt, tôi nuốt lại tiếng reo vui. Dưới ánh nến, bộ dạng anh ta thật khủng khiếp. Nửa mặt dính đầy máu đông, còn lại là u cục bầm tím. Nhưng anh ta tung tăng chạy đến gần tôi với vẻ hạnh phúc. Tôi chộp lấy cánh tay anh ta, “Anh sao vậy?” Vincent rú lên, “Ối ôi!” Tôi nhìn đầu anh ta thì thấy mảng tóc
bên trái bết dính, sờ vào thì hóa ra là máu chưa khô. Tôi vội vã lấy cồn, lại xé vạt chiếc áo mùa thu màu hồng không hiểu Vincent moi đầu ra, thấm nước rồi cẩn thận lau từng chút máu trên đầu anh ta. Vén tóc ra thì thấy một vết nứt dài tứa máu, tôi vừa hoảng vừa cáu, bèn quát hỏi, “Anh đã làm gì?” Vincent cúi đầu để tôi xử lý vết thương, trong mồm lúng túng những gì không rõ. Tôi chỉ nghe ra được “phía Đông” “rất đông”. Tôi xé tiếp một mảnh ở chiếc áo mùa thu, nhúng vào cồn rồi lau lên vết thương. Anh ta run bắn, rút bàn tay đang đút trong ngực ra, ném một gói giấy xuống đất và la lối, “Ối ối!” “Đừng nhúc nhích, đừng nhúc nhích.” Tôi ấn với anh ta. “Chịu đựng một chút, sẽ xong nhanh thôi.” Vincent ngoan ngoãn không vùng vẫy nữa. Tuy nhiên, thân hình run rẩy cho tôi biết anh ta đang rất đau. Tôi bắt mình cứng rắn lên, lau đi lau lại vết thương. Cuối cùng xé toàn bộ chiếc áo thành những dải dài, quấn quanh đầu anh ta. Giờ thì trong đầu anh ta to tướng, bộ dạng vừa đáng thương vừa hài hước. Tôi ngồi trước mặt, nhìn vào mắt Vincent, nghiêm túc hỏi, “Anh đã ở đâu? Làm sao lại bị thương?” Anh ta ngây ngốc nhìn tôi, lẩm bẩm “phía Đông” rồi cười toe, đưa tay nhặt gói giấy dưới đất lên, đắc thắng mở ra. Đó là một đôi giày thể thao. Trắng muốt. Mới toanh. Tôi nhìn đôi giày không chớp mắt, cho đến khi tầm nhìn nhòe đi. Cuối cùng tôi đã hiểu, Vincent đến bãi rác phía Đông. Nơi này nằm ngoài “địa bàn làm việc” của anh ta. Tôi không tưởng tượng nổi làm sao anh ta chộp được chiến lợi phẩm ngay dưới mũi các “đồng nghiệp” thù địch đó, càng không muốn hình dung cảnh
anh ta cãi vã, la hét và ẩu đả với họ, để máu me bê bết và mang vài món có giá trị về đổi lấy đôi giày thể thao màu trắng này. Đó có lẽ là một Vincent tôi chưa từng thấy, một Vincent hung bạo như con thú. Anh ta liều mình như vậy chỉ để thỏa mãn khát khao nực cười của tôi. Bây giờ, con thú Vincent đang ngồi xổm cạnh bếp cồn, ngân nga một khúc nhạc lạc điệu và khuấy bữa tối, dường như đã quên bẵng vết thương đẫm máu trên đầu. Tôi thì ngồi trong góc phòng và viết những dòng này, lòng chan chứa xót xa, đau buồn, nhưng lại nhen nhóm cả hân hoan. Bởi vì, Vincent vừa chứng minh với tôi rằng, tôi xứng đáng. Tôi xứng đáng. Điện thoại reo. “A lô!” Không thấy trả lời. Cố Hạo chột dạ, Đỗ Thiến chăng? Ông định hỏi thì giọng Ngọc Thục lọt vào tai, “Bác Cố, tôi là mẹ Khương Đình.” “Ừm, tôi nhận ra rồi.” Cố Hạo thầm kinh ngạc. “Cô... cháu nó vẫn ổn chứ?” “Xin lỗi vì hôm qua nổi nóng với bác.” “Không sao.” Cố Hạo vội vàng nói. “Quả là tôi đã hành động thiếu suy nghĩ. Khương Đình dù sao vẫn còn là con trẻ.” Tiếng thở dài khe khẽ vọng ra từ ống nghe, “Tôi đã trao đổi với Đình Đình. Nói thế nào nhỉ, tình hình của chúng tôi hiện giờ hơi nhạy cảm, phải cẩn thận về nhiều mặt.” Tâm trạng Ngọc Thục xem chừng sa sút. “Nghe cháu kể là không tìm thấy Tô Lâm?” “Không. Nhưng chúng tôi đã tìm thấy một nơi giống cái ao và một chiếc áo khoác dạ. Vì vậy lát nữa tôi phải đến công an thành
phố.” “Công an thành phố? Tại sao?” “Tôi không rõ, hình như các manh mối này liên quan đến cả vụ án khác. Một người thân của tôi bên công an sẽ đưa cho tôi bản đồ hệ thống cống nước mưa ngầm. Có bản đồ rồi, tôi không phải mò mẫm như rắn mất đầu nữa.” “Tức là bác vẫn tiếp tục tìm đứa trẻ đó?” “Tất nhiên. Đã mất công đến mức này, cũng phải thu được kết quả nào chứ.” “Ừm.” Ngọc Thục im lặng một lúc. “Khi nào bác đến công an thành phố?” “Bây giờ đây.” “Ồ!” Ngọc Thục dường như đã hạ quyết tâm. “Tôi đi với.” “Cô đi với?” Cố Hạo rất kinh ngạc. “Cũng... không cần thiết đâu.” “Gặp nhau ở cổng trụ sở công an nhé.” Ngọc Thục nói nhanh. “Bấy giờ tôi sẽ nói rõ.” Khi gặp mặt, Cố Hạo thấy Ngọc Thục nở nụ cười rất gượng gạo, xem chừng trĩu nặng tâm sự. Sau vài câu chào hỏi lấy lệ, Ngọc Thục đưa mắt về phía bốt gác có cảnh sát vũ trang canh giữ và tòa nhà năm tầng cách đó không xa. “Lần đầu tiên cô đến công an thành phố à?” “Vâng!” Ngọc Thục cười khổ. “Tôi là dân đen, có giao thiệp với cảnh sát bao giờ đâu.” Cố Hạo ngẫm nghĩ, “Tại sao cô muốn đi với tôi?” “Giống như bác nói, mất công đến mức này phải thu được kết
quả gì chứ.” Ngọc Thục thở dài. “Chúng tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng tiếp theo đây, tôi sẽ là người tìm cùng bác.” Cố Hạo kinh ngạc trố mắt, “Sao lại thành ra thế?” “Vụ này khiến Đình Đình băn khoăn nhiều lắm.” Ngọc Thục lắc đầu. “Thật ra hôm qua mẹ con tôi cãi nhau rất gay gắt. Cháu nó khăng khăng đòi giúp bác tìm Tô Lâm. Còn tôi... Tôi không muốn con trẻ dính líu vào những việc như vậy.” Chị nhìn Cố Hạo. “Bác Cố, tôi mong bác không nghĩ tôi là người ích kỷ. Thật ra, tôi cũng rất xót xa cho đứa trẻ đó. Nhất là sau khi gặp bố mẹ nó, tôi nóng lòng muốn tìm được nó ngay, đưa nó về nhà tôi.” Cố Hạo mỉm cười, “Cô là người tốt.” “Cũng không thể nói thế.” Ngọc Thục đỏ mặt. “Cuối cùng, tôi và Đình Đình đã thỏa thuận được với nhau. Nó chuyên tâm học hành, tôi đi tìm Tô Lâm.” “Liệu đám Mã Na... có gây sự với Khương Đình không?” “Nó dám à!” Ngọc Thục thốt lên. “Lần trước nó tát Đình Đình, tôi vẫn chưa tính sổ đây. Làm cái gì có lý thì thôi chứ! Không thể để người tốt bị bắt nạt mãi được.” Cố Hạo gật đầu, “Đúng lắm.” Lúc này, Thai Vỹ bước ra khỏi tòa nhà năm tầng, thấy Cố Hạo đang đứng cùng một phụ nữ lạ mặt thì không khỏi lộ vẻ nghi hoặc. “Bác Cố, ” anh bước đến gần, nhìn Ngọc Thục. “Đây là...?” “Chuyện dài lắm.” Cố Hạo ra hiệu cho Thai Vỹ dẫn đường. “Vào trong rồi nói.” Có hai người đàn ông đang ngồi bên bàn họp dài, một tầm trung niên, một lớn tuổi hơn đôi chút. Thấy Thai Vỹ đi vào cùng Cố Hạo và Ngọc Thục, hai người lần lượt đứng dậy.
“Đây là cha đỡ đầu của con, Cố Hạo, ” Thai Vỹ giới thiệu với họ. “Còn đây...” “Là người đi cùng tôi, họ Khương.” Cố Hạo chìa tay ra. “Làm phiền mọi người rồi.” “Phiền gì đâu! Tôi là Vương Hiến Giang, sư phụ của Vỹ.” Người đàn ông lớn tuổi bắt tay Cố Hạo. “Đây là chuyên viên Trần ở Viện Quy hoạch thành phố.” Chào hỏi xong, ai nấy ngồi vào chỗ. Vương hắng giọng, “Vào đề luôn nhé. Vỹ bảo bác tìm thấy một chiếc áo khoác nữ bằng dạ màu tím dưới cống nước mưa?” Cố Hạo gật đầu, “Đúng vậy.” Thai Vỹ lấy một tập tài liệu trên bàn, rút ra một tấm ảnh đưa cho Cố Hạo, “Bác xem có phải cái này không?” Nơi chụp ảnh chắc là công viên thành phố. Một phụ nữ ngồi xổm trên đất, tay ôm một cậu bé, mim cười và làm dấu chữ V với ống kính. Cô mặc áo khoác ngắn bằng dạ màu tím. Cố Hạo nhìn kĩ rồi gật đầu, “Đúng vậy, chính là kiểu dáng này.” Thai Vỹ vung mạnh nắm đấm phải, vẻ mặt phấn khích. Vương vẫn thản nhiên, “Bác tìm thấy ở đâu?” Cố Hạo nhớ lại, và miêu tả không gian cho họ nghe. Vương nhìn sang chuyên viên Viện Quy hoạch. Trần đẩy kính và suy tư một lúc, “Nghe bác nói, thì rất giống bể chứa của hệ thống cống nước mưa.” Vương hấp háy mắt, “Bể chứa này có tác dụng gì?” “Nước mưa khác với nước thải sinh hoạt. Xả khơi khơi thì rất lãng phí. Vì thế dưới cống ngầm thành phố có làm một vài bể chứa để thu gom nước mưa. Nhỡ cần thì dùng.”
Vương lại quay sang Cố Hạo, “Bác còn tìm được chỗ đó không?” Cố Hạo chậm rãi châm điếu thuốc, “Trước tiên anh cho tôi biết, chiếc áo khoác tôi tìm thấy là gì, được không?” Thai Vỹ nhìn Vương, thấy ông gật đầu, bèn nói, “Bác có nhớ con từng kể về vụ án hiếp dâm giết người ở kênh Vệ Hồng không?” Thai Vỹ hất mặt về phía tấm ảnh. “Chúng con ngờ rằng chiếc áo bác tìm thấy là của một trong các nạn nhân.” Ngọc Thục bật thốt, rồi che miệng lại. Vương lên tiếng, “Nói cách khác, nơi bác đến có lẽ là hiện trường ném xác.” “Hiểu rồi.” Vẻ mặt Cố Hạo trở nên nghiêm nghị. “Cần thì đi lần nữa, tôi nghĩ không sao đâu.” “Không phải vất vả như vậy.” Trần xua tay, “Bác đi từ miệng cống nào xuống?” “Địa chỉ cụ thể...” Cố Hạo quay sang Ngọc Thục, “Cô cho họ biết nhé!” Mặt xám xịt, Ngọc Thục cho biết tên khu chung cư nhà mình. Trần lấy bản vẽ hệ thống cống nước mưa, cẩn thận tìm kiếm rồi khoanh một vòng tròn vào miệng cống nào đấy. “Hẳn là ở đây.” Anh đẩy bức vẽ đến trước mặt Cố Hạo. “Bác đi hướng nào?” Cố Hạo nhìn bản vẽ, cố khớp những đường kẻ mỏng manh đan chéo vào hệ thống đường ống bê tông tối tăm, ẩm thấp hôm qua, “Sau khi xuống cống, tôi đi sang phải...” Ông cầm bút chì Trần đưa và chậm rãi di chuyển trên bản vẽ. “Ngoặt qua vài chỗ rẽ, rồi bước ra một đoạn cống cắt ngang, to hơn và rộng hơn...”
Trần gật đầu, “Cống chính đấy. Sau đó thì sao?” “Sau đó tiếp tục sang phải, đi mãi...” Cố Hạo hồi tưởng lộ trình và nhìn tỉ lệ bản vẽ. “Chúng tôi dùng cả thảy ba cuộn dây câu...” Ngòi bút dừng ở một khoanh vuông bên cạnh cống chính. “Chắc là đây.” Trần ghé lại gần bản vẽ, “Bể chứa dưới bảo tàng.” Thai Vỹ bật dậy, chạy tới tấm bản đồ lớn treo ở đầu phòng họp, ngẩng đầu nhìn. Vài giây sau, anh quay lại, bắt gặp ánh mắt dò hỏi của Vương thì đáp, “Khu B.” “Tốt lắm.” Vương rốt cuộc cũng có sắc mừng. “Chúng ta...” Thình lình cửa phòng họp bị đẩy ra, một thanh niên đeo kính thò nửa người vào. Mọi người ngồi quanh bàn nhất loạt nhìn ra. Ngọc Thục cau mày, trông quen quá, hình như chị đã gặp ở đâu. Thanh niên lộ vẻ nghi hoặc, “Cho tôi hỏi cảnh sát Vương Hiến Giang?” Vương nhìn từ đầu xuống chân người khách, “Tôi đây.” “À, đồn công an gần nhà gọi điện bảo tôi đến công an thành phố tìm anh.” Thanh niên bước vào. “Tôi tên là Chu Hy Kiệt.” “Chu gì nhỉ?” Vương cau mày, rồi đột nhiên vỗ trán. “Thai Vỹ, đưa cậu ta sang gặp bác sĩ Đỗ.” “Cảnh sát Vương, ” Chu Hy Việt vẫn nghi hoặc. “Cho tôi hỏi các anh tìm tôi vì chuyện gì được không?” Vương trỏ Thai Vỹ, “Cậu ấy sẽ cho cậu biết việc cần làm.” Sau một thoáng do dự, Chu Hy Kiệt gật đầu theo Thai Vỹ ra khỏi phòng họp. Vương cũng đứng lên, “Giờ tôi phải đi gặp bên kĩ thuật. Mọi người đợi tôi một lúc. Thai Vỹ về thì chúng ta cùng lên đường.”
Ông lại nhìn Cố Hạo. “Lát nữa phiền bác đi với chúng tôi nhé.” Cố Hạo gật đầu, “Được. Bản vẽ cống ngầm này, phô tô cho tôi một bản được không?” “Được chứ. Bảo Thai Vỹ sao cho bác.” Vương lại nhìn Ngọc Thục. “Còn cô...” Mặt vẫn tái nhợt, Ngọc Thục nói, “Tôi cũng đi.” Nhưng hơn một giờ sau, khi theo đông đảo cảnh sát xuống cống ngầm bên dưới bảo tàng, chị buộc phải thừa nhận đã đánh giá quá cao lòng dũng cảm của mình. Cho dù có cảnh sát ở cả trước và sau, cho dù có đèn rọi sáng trưng, nhưng cứ nghĩ ở đây từng có ba xác chết bập bềnh, chị không khỏi thở gấp, da đầu tê cả đi. Có bản đồ, họ nhanh chóng tìm ra cái gọi là bể chứa nước mưa. Không khí nhộn nhịp hẳn lên nhờ chiếc áo khoác dạ nữ màu tím ướt sũng mà Cố Hạo bỏ lại bên cánh cửa sắt tròn. Ngay sau đó, đèn rọi được dựng lên trong bể, giám định viên hiện trường lập tức khám nghiệm cửa sắt. Một số cảnh sát trẻ cởi hết, chi để độc quần lót nhảy xuống nước lặn tìm. Trong phút chốc, mặt nước trống trải rộng lớn loa loa toàn flash máy ảnh và ánh đèn pin siêu sáng. Áo khoác dạ tím được thu cất vào túi nhựa lớn và niêm phong lại. Tiếp đó, nhiều thứ khác được trục vớt từ bể chứa. Ví da phồng rộp vì ngâm nước. Chìa khóa han gỉ. Thắt lưng. Quần bò. Áo ngực, quần lót... Ngọc Thục vẫn đứng bên ngoài cống chính, dù đang xỏ đôi ủng Thai Vỹ mang cho, chị vẫn lạnh tái người, và càng thêm rùng mình khi nhìn những món đồ cảnh sát mang ra. Đáng sợ quá! Chị như nhìn thấy ở nơi tối tăm cách mình vài mét, ba phụ
nữ trần truồng không còn sự sống bị ném xuống lòng nước giá buốt. Sau một cơn mưa lớn, không cưỡng được dòng chảy mạnh, họ trôi giạt, sóng sánh, xô va vào nhau, cuối cùng dâng cao theo mực nước, bật ra qua cánh cửa sắt hẹp, bập bềnh theo công chính lao xuôi xuống đầu chưa biết, bộ dạng gớm ghiếc và khốn khổ. Ngọc Thục càng kinh hãi hơn khi nghĩ chính làn nước dưới chân mình từng ngâm thân thể tái xanh của họ, nhưng chị cũng không tránh vào đâu được. Cố Hạo thì cố thủ bên cửa sắt, lặng lẽ nhìn cảnh sát tác nghiệp. Vương đứng cạnh ông, vẻ mặt nặng nề. Thai Vỹ niêm phong xong một túi vật chứng, nhìn hộp trang điểm màu đỏ thẫm bên trong, quay lại nói với Cố Hạo, “Công bác lần này lớn lắm!” Cố Hạo cười cười, “Chó ngáp phải ruồi thôi.” Vương nhìn Thai Vỹ, “Thái độ của Chu Hy Kiệt thế nào?” “Rất hợp tác. Không lèo nhèo hỏi han như những người khác.” Thai Vỹ nhún vai. “Lấy máu xong thì về.” Vương ngẫm nghĩ, “Bác sĩ Đỗ bảo sao?” “Nghe bảo phó giám đốc Hồ đã vận dụng quan hệ cá nhân để xếp vụ của chúng ta vào hàng ưu tiên ở tỉnh Liêu Ninh.” Thai Vỹ tỏ vẻ tự tin. “Ước tính một tuần nữa sẽ có kết quả.” “Về nhắn bác sĩ Đỗ, bảo nhờ Liêu Ninh kiểm tra các mẫu gửi từ khu B trước nhất.” “Vâng.” Sực nhớ ra điều gì, Cố Hạo kéo tay áo Thai Vỹ, “Sao bản vẽ cho tao chưa?” “Suýt nữa con quên, may bác nhắc.” Thai Vỹ võ trán, lấy trong
túi ra một tờ giấy gấp. “Mà việc của bác vẫn chưa xong nhỉ.” Cố Hạo mở bản vẽ nhìn lướt qua, rồi lại vô thức liếc Ngọc Thục. Người phụ nữ ôm vai đứng trơ trọi ở góc khuất ánh đèn, bộ dạng khiếp sợ. Cố Hạo bước tới, lấy bình giữ nhiệt trong túi, rót một ít nước nóng ra nắp đưa cho chị, “Uống cho ấm người.” Ngọc Thục cảm kích nhận lấy, từ tốn uống từng ngụm, “Khi nào họ làm xong?” “Chưa biết nữa. Chắc sẽ lâu đấy, hình như họ định rút cạn bể chứa để xem còn sót gì không.” “Vậy chúng ta...” Cố Hạo suy nghĩ một lúc rồi nhìn sang chuyên viên Viện Quy hoạch đứng ở đầu kia cửa sắt, thấy anh ta cũng đang hút thuốc cho qua thời gian như mình. Ông cầm bản vẽ bước tới, “Phiền cậu một lát được không?” “Có gì phiền đầu bác, tạm thời người ta cũng chưa cần đến tôi.” Trần vẫn ngậm điếu thuốc trong miệng. “Bác nói đi ạ.” “Chẳng là, chúng tôi cần tìm một người trong cống ngầm này.” “Hả?” Trần nhướng mày ra dấu về phía các cảnh sát đang bận rộn. “Không phải vụ đó.” Cố Hạo lắc đầu. “Người chúng tôi đang tìm có thể còn sống.” “Ở đây á?” Trần càng thêm kinh ngạc. “Ai thế?” “Thật ra bể chứa đã cho tôi một số gợi ý.” Cố Hạo chỉ vào bản vẽ. “Tôi muốn hỏi anh, trong hệ thống cống nước mưa, có nơi nào phù hợp để sinh sống một thời gian không?” Trần trầm ngâm một lúc, “Không thể sinh sống trong cống
được. Nơi này ngập nước quanh năm, ngồi hay nằm đều không thể. Tuy nhiên, chỗ bể chứa nước mưa bác bảo, thì có thể đấy.” “Có thể là sao?” Cố Hạo nhìn cửa sắt tròn lọt sáng ra. “Cũng ngập nước mà.” “Bể chứa nước mưa thường được xây dựng bên dưới các khu cây xanh, thường là vùng đất trũng. Chẳng hạn có mưa bão lớn, nước sẽ theo ống cống chảy vào bể chứa, đây rồi thì chảy ra cống chính.” Trần gãi gáy. “Nước trong bể này tích lại từ trận mưa hôm 23 tháng Năm vừa rồi. Tuy nhiên, giả sử cống tắc thì bể sẽ không đầy nước đâu.” “Nói cách khác, có những nơi khô ráo?” “Phải.” “Cống tắc...” Cố Hạo lẩm bẩm, bất chợt nhớ lại tờ báo đọc vào sáng 24 tháng Năm. “Có mấy bể chứa thế này ở thành phố ta?” “Bốn.” “Một trong số chúng nằm bên dưới trảng cỏ Quảng trường Văn hóa, đúng không?” “Đúng.” Trần xem bản vẽ. “Cách đây một dạo, hình như đằng ấy có báo sửa. Chắc là phế liệu của công trình xây dựng nào đấy bị chôn lấp bừa bãi, làm tắc ống cống.” “Đã hiểu.” Mắt Cố Hạo sáng lên. “Nếu tôi muốn xuống bể chứa đó thì đi qua miệng cống nào là tiện nhất?” Trần ghé sát vào bản vẽ, vừa rê ngón tay qua các điểm đánh dấu vừa lẩm bẩm, cuối cùng chỉ vào một điểm, “Đây, cách chỗ này gần nhất.” “Cảm ơn cậu.” Cố Hạo bắt tay với Trần, cẩn thận cất bản vẽ về
túi vải bạt, quay ra gọi. “Vỹ ơi, tao đi trước đây!” Thai Vỹ rảo bước tới, “Bác Cố...” “Tao phải đi tìm đứa trẻ đó.” Cố Hạo hất mặt về phía Vương. “Nói giùm với sư phụ mày một tiếng nhé.” Thai Vỹ ngập ngừng, “Con đi với bác.” “Không, đừng để ảnh hưởng công việc.” Cố Hạo vỗ vỗ túi vải. “Tao có bản vẽ, không đi lạc được đâu.” “Thế... cũng được.” Thai Vỹ gật đầu. “Bác đi cẩn thận.” Cố Hạo vẫy tay gọi Ngọc Thục, “Lên thôi cô ơi!” Lòng đất tối tăm khiến người ta mất đi khái niệm về thời gian. Hai người chui lên khỏi cống ngầm thì thấy trời đã tối, đổi hai chuyến xe buýt mới đến được Quảng trường Văn hóa. Cố Hạo và Ngọc Thục thay ủng ra, cuốc bộ đến trạm xe buýt ngong ngóng chờ xe 13. Cố Hạo thỉnh thoảng nhìn đồng hồ. Ngọc Thục ở bên cạnh tự hít ngửi mình một lúc, chỉ sợ vẫn còn mùi khó chịu. Lên xe rồi, chị trốn tuốt về phía đuôi xe, cố gắng tránh tiếp xúc với các hành khách khác. Khoảng nửa giờ sau, họ đến Quảng trường Văn hóa. Ở đây có nhiều người đi dạo, thả diều, chụp ảnh rất sôi động. Cố Hạo mua một ít que phát sáng của người bán hàng rong, rồi cầm bản vẽ đi len qua đám đông, theo sau là Ngọc Thục thở hổn hển. Theo chỉ dẫn trên bản vẽ, họ nhanh chóng tìm thấy miệng cống trên con đường nhựa nằm giữa hai trảng cỏ cây. Vị trí này tương đối hẻo lánh, bên cạnh có một bụi cây lớn che chắn. Cố Hạo và Ngọc Thục xỏ lại ủng. Cố Hạo bê nắp cống ra, lại bẻ một vài cành cây đặt xuống cạnh miệng cống để cảnh báo người qua lại. Hai người
lần lượt chui xuống. Lần này chỉ có hai người, một chiếc đèn pin và mấy que phát sáng, Ngọc Thục căng thẳng hơn rất nhiều, gần như đeo sát Cố Hạo. May mắn thay, các kí hiệu trên bản vẽ đủ rõ ràng. Từ cống nhánh rẽ sang cống chính không bao lâu, đèn pin quét qua thành công, rọi đến một cửa sắt tròn. Cố Hạo thận trọng bước tới, rọi đèn pin vào cửa sắt rồi cố vặn van. Dù rin rít vì han gỉ, van vẫn xoay đi, và cửa mở ra cùng tiếng ken két. Cố Hạo nhìn Ngọc Thục, thấy chị ngó lom lom vào khe cửa, sắc mặt xanh mét dưới que phát sáng, trông vừa kích động vừa sợ hãi. Cố Hạo kéo cửa đi trước. Vừa đặt chân vào trong, ông lập tức nhận ra sàn rất khô. Đồng thời, một mùi khó tả ập vào mặt, là hỗn hợp của sáp, bánh bao nhân thịt để qua đêm, cháo ngô nguội ngắt, xà phòng, bia thiu... Trong một khoảnh khắc, ông còn tưởng mình đang quay về căn bếp chung ở nhà. Ngọc Thục khịt mũi, hiển nhiên đã nhận ra sự dị thường ở đây. Hai người rảo bước, đặt chân lên bậc thang bằng đá granit. Tâm chiếu của đèn pin lan xa, tiết lộ thêm nhiều thứ trước mắt. Đầu tiên, Cố Hạo chú ý đến một tấm nệm trải dưới sàn, bên trên có tấm chăn gấp vuông vắn. Ngoài ra, còn mấy vỏ chai bia cắm nến, thùng nước lớn, chậu inox đựng cháo ngô đã khô, và vài chiếc lon trông giống bếp cồn tự chế... Ngọc Thục thở dốc, Cố Hạo bất giác đưa mắt nhìn chị, Ngọc Thục cũng nhìn lại ông, ánh mắt long lanh. Có người sinh sống ở đây, không nghi ngờ gì nữa. Cố Hạo nhấc chậu inox lên, chọc ngón tay vào cháo ngô, một lớp vỏ quánh đã hình thành trên
mặt cháo, nhưng bên dưới vẫn chưa đóng rắn, cho thấy cháo để chưa quá lâu. Ngoài ra, những mẩu nến tàn đặt rải rác trên sàn trống cũng khẳng định có người đã sinh sống ở đây một thời gian. Tim Cố Hạo bắt đầu đập loạn xạ. Người đó có phải là Tô Lâm? Ông nhanh tay lục soát “căn phòng” , cố tìm những đồ vật hoặc dấu vết ngõ hầu hé lộ lại lịch người cư ngụ. Càng lúc càng phát hiện được nhiều thứ: đầu mẩu bút chì, áo cotton mùa thu xé thành dải, vỏ thuốc lá rồng nhãn hiệu Hồng Mai, chai cồn nhỏ... Đột nhiên, Ngọc Thục buột miệng thốt lên, Cố Hạo nhìn lại thì thấy chị đang ngó chằm chằm vào bức tường trong bóng tối, “Bác Cố, trông kìa, cái gì kia?” Cố Hạo rọi đèn pin lên thì thấy một sợi dây thép chăng ra trên tường, hai đầu đóng đinh, trên đó vắt vài chiếc quần áo, một trong số quần áo là bộ đồ kiểu thể thao xanh trắng. Gần như ngừng thở, Cố Hạo nhảy xổ đến cầm bộ quần áo lên quan sát, rồi đưa mắt nhìn Ngọc Thục. “Đúng, giống hệt đồng phục của Khương Đình.” Nước mắt trào ra, Ngọc Thục nắm lấy tay áo Cố Hạo lắc qua lắc lại, mếu máo. “Bác Cố, chúng ta tìm thấy đứa nhỏ rồi!” “Đừng vội mừng!” Cố Hạo vẫn chưa tin nổi, đầu óc quay cuồng. “Vỏn vẹn một bộ quần áo, không chứng minh được điều gì... Ngộ nhỡ là ai nhặt được thì sao?” “Giặt sạch đây này. Nếu nhặt về làm giẻ, không ai giặt làm gì.” Ngọc Thục náo nức ghé bộ đồ vào mũi Cố Hạo. “Bác ngửi đi, có mùi bột giặt.” Cố Hạo vừa cầm lấy bộ đồ, Ngọc Thục đã giật đèn pin rọi vào
bóng tối. Và chỉ tích tắc sau, chị hét to, lao xuống nệm, lôi một chiếc cặp học sinh từ dưới lớp chăn. Chị hấp tấp dốc ngược cặp, cầm một quyển vở lên xem, ném xuống, lại cầm một cuốn sách có vẻ là sách giáo khoa lên, mở ra. Vẫn quỳ trên nệm, chị chìa ngay sách về phía Cố Hạo. Ông già nhận lấy, và đọc thấy ở trang đầu tiên: Tô Lâm, lớp 11D. Bốn chữ. Một dấu phẩy. Cố Hạo trân trối xem đến hơn mười giây, rốt cuộc cũng nở nụ cười. “Cô Khương, chúng ta tìm được nó rồi.” Ngọc Thục đột nhiên bưng miệng, vẫn ngồi trên nệm, bật khóc sụt sùi, “Con bé... sống ở một nơi thế này... ăn những thứ này...” Cố Hạo thương xót đứa trẻ, cũng không biết làm thế nào để an ủi Ngọc Thục, đành từ tốn cho lại các món vào cặp, ngồi xuống bên cạnh người phụ nữ, châm điếu thuốc, im lặng rít một hơi. Sau vài phút, tiếng khóc của Ngọc Thục ngớt dần, chị lau nước mắt, ngượng ngùng thì thầm, “Không người mẹ nào đành lòng nhìn cảnh này được.” “Tôi hiểu mà.” Cố Hạo mỉm cười. “May mắn thay, chúng ta đã không tốn công vô ích.” “Nhưng mà...” Ngọc Thục nhìn quanh. “Con bé đi đâu vậy?” “Chắc là đi tìm đồ ăn?” Cố Hạo suy nghĩ một chút. “Không sao, nó đã sống ở đây thì nhất định sẽ quay lại thôi.” “Nhưng, ” Ngọc Thục do dự. “Hình như con bé không ở một mình.” Cố Hạo gật đầu. Thật vậy, mấy vỏ bao thuốc và vỏ chai bia kia chắc chắn không phải của Tô Lâm. Hơn nữa, ông cũng không
cho rằng một cô gái có thể sống dưới lòng đất lâu như vậy mà thiếu sự giúp đỡ của người khác. Bù lại, Tô Lâm có phải trả giá cho sự giúp đỡ này không hay trả giá thế nào, ông không muốn nghĩ đến. “Chờ nó đi.” Cố Hạo tư lự nói. “Gặp nó rồi, mọi việc sẽ sáng tỏ.” Ngọc Thục trầm ngâm, “Tìm được Tô Lâm, bác định làm gì?” Cố Hạo hiểu ngụ ý trong câu hỏi. Việc Tô Lâm “sống lại” sẽ đẩy gia đình họ Tô vào cảnh khó xử, buộc họ lựa chọn. Và cô gái tội nghiệp vẫn phải đối mặt với số phận bị ruồng bỏ bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, Cố Hạo đã có câu trả lời cho điều này từ lâu. “...? Còn làm gì được?” Cố Hạo cười. “Dùng cách của cô thôi.” Ngọc Thục nhướng mày, “Hả?” Cố Hạo ngừng cười, nghiêm nghị nói. “Tôi sẽ nhận đứa trẻ làm con nuôi. Nếu nó cảm thấy bất tiện khi sống gần cha mẹ ruột, chúng tôi sẽ dọn đi nơi khác.” Ông vươn vai, “Tuy đã lớn tuổi, nhưng tôi thừa sức bầu bạn với con bé cả chục năm nữa, ít nhất là nuôi nó cho xong đại học.” Ngọc Thục mỉm cười, nhắm mắt lại, lắc đầu, “Bác đúng là người tốt.” “Không tốt lắm.” Cố Hạo thở dài thườn thượt. “Tuổi già xế bóng còn nhặt được một cô con gái, lợi phần tôi thôi.” “Đừng nghĩ đơn giản quá, nhà họ Tô có thể quấy rầy bác đấy.” “Quấy đi! Tôi không quan tâm.” Cố Hạo châm một điếu thuốc khác. “Sau khi con bé tốt nghiệp đại học, muốn định hướng cuộc đời thế nào là quyền của nó.” Ngọc Thục cảm động quá, cúi đầu không nói được gì.