Nguoi Dan Ong Mang Ten Ove

hồi còi sương mù. Đường ray dưới chân ông rung lên bần bật tựa như

hồi còi sương mù. Đường ray dưới chân ông rung lên bần bật tựa như

hồi còi sương mù. Đường ray dưới chân ông rung lên bần bật tựa như một con bò đực hăng tiết đang sắp sửa lao đến. Ove chầm chậm thở ra. Trong màn sương điên rồ của sự rung lắc, những tiếng la hét và tiếng rít lạnh gáy phát ra từ hệ thống hãm phanh của đoàn tàu, ông cảm thấy vô cùng thư thái. Thế là xong. Đối với Ove, những thời khắc tiếp theo bỗng kéo dài ra tựa hồ thời gian cũng đạp phanh và làm cho mọi thứ quanh ông chuyển động như trong phim chiếu chậm. Những âm thanh hỗn loạn nhỏ lại thành một tiếng rì rầm trong tai ông, đoàn tàu tiến tới chậm chạp đến nỗi tưởng như được kéo bởi hai con bò già. Những ngọn đèn pha nhấp nháy vô vọng trước mắt ông. Và trong khoảng tối giữa hai ánh chớp sáng, khi ông không bị lóa mắt, Ove trông thấy ánh mắt của người lái tàu. Cậu ta không thể nào lớn hơn hai mươi tuổi. Có lẽ cậu ta vẫn còn bị các đồng nghiệp lớn tuổi hơn gọi là “thằng nhóc”. Ông nhìn chăm chú khuôn mặt của cậu nhóc. Hai nắm tay của ông co lại trong túi quần, trong khi ông tự nguyền rủa mình vì chuyện sắp xảy ra. Nhưng chẳng ích gì, ông nghĩ bụng. Có một cách đúng đắn để giải quyết tình huống này. Dù nó dở hơi. Thế là, khi đoàn tàu còn cách ông khoảng mười lăm, hai mươi mét, Ove bực bội văng tục, và với sự điềm tĩnh giống như lúc pha cho mình một tách cà phê, ông rời khỏi đường ray, trèo lên sân ga trở lại. Đoàn tàu chạy đến tận chỗ ông thì người lái tàu mới dừng được nó. Sự hoảng sợ đã làm cho khuôn mặt của cậu nhóc cắt không còn hột máu. Rõ ràng cậu ta đang cố gắng kiềm chế để không khóc nấc lên. Hai ông cháu nhìn nhau qua cửa sổ đầu máy như thể cả hai vừa mới thoát khỏi một thảm họa và nhận ra mình không phải là người duy nhất còn sống trên trái đất. Một người cảm thấy nhẹ nhõm với suy nghĩ đó, còn người kia lại thấy thất vọng.

Cậu nhóc trong đầu máy xe lửa thận trọng gật đầu. Ông Ove nhẫn nhục gật đầu đáp lại. Chuyện ông không muốn sống nữa là một nhẽ. Nhưng ông không phải loại người phá hỏng cuộc đời của một ai đó bằng cách nhìn vào mắt anh ta ngay trước khi ông tan xương nát thịt trên kính chắn gió của đoàn tàu mà anh ta đang lái. Cả bố ông lẫn Sonja sẽ không bao giờ tha thứ cho ông về chuyện đó. — Ông có sao không? - Một công nhân cất tiếng phía sau lưng Ove. — Chậm một phút thôi là ông thành người quá cố rồi đấy! - Một công nhân khác thốt lên. Họ đứng đó nhìn ông theo cách gần giống như khi họ nhìn xuống hố. Có vẻ như đó là năng lực chủ đạo của họ: nhìn các thứ. Ông nhìn lại. — Ý tôi là vài giây. - Người công nhân thứ ba nói, tay vẫn còn cầm quả chuối đang ăn dở. — Chuyện này suýt nữa đã kết thúc một cách tồi tệ. - Người công nhân đầu tiên cười mỉm. — Còn phải nói. - Người thứ hai đồng tình. — Chết người luôn ấy chứ. - Người thứ ba bồi thêm. — Ông đúng là anh hùng! — Ông đã cứu đời anh ta. — Cứu mạng, chứ không phải cứu đời. - Ove chỉnh lại và cảm thấy như mình đang nói bằng giọng điệu của Sonja. — Suýt nữa thì tiêu rồi. - Người thứ ba nói, tiện mồm cắn một miếng chuối. Nằm trên đường ray, đoàn tàu đã bật toàn bộ đèn báo động đỏ, xịt khói và kêu ré lên như một gã mập ú vừa lao đầu vào tường. Một số lượng lớn những hình mẫu điển hình cho đám chuyên viên tư vấn IT và những kẻ đáng ngờ khác theo suy đoán của ông chạy ùa ra ngoài, đứng lố nhố trên sân ga.

— Tôi đoán bây giờ các anh sẽ có rất nhiều đoàn tàu bị chậm giờ. - Ông nói và ngán ngẩm nhìn đám người lộn xộn trên sân ga. — Vâng. - Người công nhân thứ nhất công nhận. — Đúng rồi ạ. - Người thứ hai nói. — Rất, rất nhiều. - Người thứ ba gật gù. Ông Ove phát ra một âm thanh giống như tiếng một cái ngăn kéo bàn nặng trĩu mở ra trên thanh ray han gỉ. Không nói gì nữa, ông đi thẳng qua chỗ họ. — Ơ, ông đi đâu đấy? Ông là người hùng mà! - Người công nhân thứ nhất ngạc nhiên gọi với theo ông Ove. — Phải đấy. - Người thứ hai thốt lên. — Một người hùng! - Người thứ ba đế thêm. Ove không đáp. Ông đi ngang qua chỗ người nhân viên ngồi trong quầy phía sau tấm kính và quay ra con đường phủ đầy tuyết trắng để trở về nhà. Quanh ông, đường phố chầm chậm thức giấc cùng với những chiếc ô tô nước ngoài, đống dữ liệu máy tính, những món nợ trong thẻ tín dụng và các thứ vớ vẩn khác. Ngày hôm nay thế là hỏng bét, ông cay đắng tự nhủ. Lúc đi tới chỗ nhà để xe đạp trong khu đỗ xe, Ove trông thấy chiếc Skoda màu trắng chạy tới từ hướng nhà của Anita và Rune. Một phụ nữ cương nghị đeo kính ngồi ở ghế hành khách, trên tay cầm một đống hồ sơ giấy tờ. Cầm lái chiếc xe là người đàn ông mặc áo sơ mi trắng. Ông phải nhảy tránh sang một bên để không bị chiếc xe đâm vào khi nó đua tốc độ vòng qua góc đường. Qua kính chắn gió, người tài xế giơ điếu thuốc lá cháy đỏ về phía Ove, nhếch mép cười ngạo nghễ. Làm như thể lỗi là ở phía ông vì đã cản đường, còn anh ta là người hào hiệp cho qua. — Đồ ngu! - Ove gào tướng lên với chiếc Skoda, nhưng người đàn ông áo trắng hình như không hề phản ứng.

Ông ghi nhớ biển số trước khi chiếc xe biến mất sau cua ngoặt. — Rồi có ngày sẽ đến lượt ông thôi, ông già. - Một giọng nói độc địa vang lên phía sau lưng Ove. Ông quay người và theo bản năng giơ nắm đấm lên, để rồi trông thấy hình ảnh của mình phản chiếu trong cặp kính mát của cây sậy tóc vàng. Cô ta đang bế con chó chết tiệt đó trong tay. Nó gầm gừ với Ove. — Người của bên bảo trợ xã hội đó. - Cô ta vừa nói vừa hất đầu về hướng chiếc xe vừa khuất dạng. Lúc đó ông Ove trông thấy Anders đang lùi chiếc Audi ra khỏi nhà để xe của anh ta. Nó có cặp đèn pha LED mới tinh, theo ghi nhận của ông. Chắc là để cho không ai không nhận ra chiếc xe được một gã đỏm dáng lái kể cả khi trời tối. — Chuyện đó thì liên quan gì với cô? - Ông nói với cây sậy. Cái miệng của cô ta cong lên thành một hình dạng gần giống với nụ cười của một phụ nữ đã bơm vào môi mình cả đống chất thải môi trường và độc tố thần kinh. — Liên quan chứ, bởi vì lần này họ sẽ tống lão già ở ngôi nhà cuối đường vào trại dưỡng lão. Và sau lão ta sẽ là ông! Cô ta nhổ một bãi nước bọt và tiến đến chỗ chiếc Audi. Ove nhìn theo, ngực phập phồng dưới lớp vải áo. Khi chiếc xe đổi hướng, cô ta giơ ngón tay giữa với ông qua kính chắn gió. Thoạt đầu bản năng thúc đẩy ông đuổi theo và phá tan tành con quái vật đúc bằng sắt đó, cùng với nó là những kẻ đểu giả, ốm nhách, sủa nhặng xị và cặp đèn pha LED. Nhưng rồi đột nhiên ông thấy khó thở như thể vừa chạy nước rút trên tuyết. Ông gập người về phía trước, chống hai tay vào đầu gối, và tức tối nhận ra mình đang thở hổn hển. Tim ông đập điên cuồng vào xương ức như một kẻ bị nhốt trong buồng thang máy gặp sự cố. Vài phút sau ông đứng thẳng người lại. Tầm nhìn của ông hơi có vấn đề ở phía đuôi mắt phải. Chiếc Audi đã biến mất. Ove quay người và chậm rãi đi

về nhà, một bàn tay áp trên ngực. Khi về đến nơi, ông dừng chân cạnh lán cất dụng cụ. Đập vào mắt ông là cái hố có hình thân mèo ở chỗ đụn tuyết. Trong hố có một con mèo đang nằm. Lẽ ra ông phải nhận ra nó từ trước.

16 (NGÀY TRƯỚC) CHIẾC XE TẢI TRONG RỪNG Trước cái ngày mà chàng trai lầm lì hơi vụng về có thân hình lực lưỡng và đôi mắt xanh buồn vời vợi ngồi xuống bên cạnh Sonja trên tàu hỏa, chỉ có ba thứ trên đời được cô yêu thương một cách vô điều kiện: những cuốn sách, bố cô và lũ mèo. Cô được khá nhiều người để ý, đương nhiên rồi. Những người theo đuổi cô rất đa dạng cả về dáng dấp lẫn diện mạo. Cao to tóc đen hoặc thấp lùn tóc vàng, hoạt bát hoặc tẻ nhạt, lịch lãm và huênh hoang, đẹp trai nhưng ham ăn, tất thảy đều có cả, và họ sẽ đeo đuổi tích cực hơn nếu không chùn bước trước tin đồn trong làng rằng bố cô đã thủ sẵn vài khẩu súng trong ngôi nhà gỗ biệt lập giữa rừng. Nhưng không ai trong số họ nhìn cô theo cái cách mà chàng trai ấy nhìn lúc anh ngồi xuống cạnh cô trên tàu. Ánh mắt anh dường như muốn nói rằng cô là cô gái duy nhất trên trái đất này. Thỉnh thoảng, đặc biệt là trong những năm đầu tiên, vài người trong đám bạn gái vẫn thắc mắc về sự lựa chọn của Sonja. Cô rất xinh đẹp, đa phần những người xung quanh cô luôn cảm thấy họ phải nhắc đi nhắc lại với cô như vậy. Ngoài ra cô lại còn thích cười và thuộc kiểu người nhìn ra được những điểm tích cực nơi bất cứ thứ gì mà cuộc đời ném vào mình. Còn Ove thì hỡi ơi. Đó là câu mà những người xung quanh Sonja cứ nói mãi. Ove đã là một ông già cộc cằn từ hồi học tiểu học. Và cô hoàn toàn có thể chọn một người tốt hơn nhiều.

Nhưng với Sonja, Ove chưa bao giờ là một người nghiêm khắc, vụng về và cay nghiệt. Với cô, anh là những bông hoa hơi giập trong cuộc hẹn ăn tối đầu tiên của họ. Anh là chiếc áo vest màu nâu của bố, chật căng nơi đôi vai rộng. Anh đặt niềm tin quá nhiều vào lẽ công bằng, sự trung thực, tính cần cù, và một thế giới đúng sai rạch ròi. Không phải vì người ta có thể được nhận huy chương hoặc một cái vỗ vai khen ngợi về điều đó, mà chỉ vì nó nên như vậy. Kiểu người như Ove đã tuyệt chủng rồi, Sonja hiểu. Thế nên cô bám ngay lấy người đàn ông này. Ove không thể làm thơ viết nhạc tặng cô hoặc mua cho cô những món quà đắt tiền. Nhưng chẳng có chàng trai nào bắt những chuyến tàu không phải của mình mỗi ngày chỉ vì thích được ngồi cạnh nghe cô nói chuyện. Và khi cô nắm cánh tay to như cái bắp đùi của mình, rồi cù nhẹ cho đến khi khuôn mặt lầm lì của anh nở nụ cười, tưởng như một lớp thạch cao nứt ra cho thấy những viên ngọc bên trong. Mỗi khi chuyện đó xảy ra, cô cảm thấy trong lòng mình có thứ gì đó cất cao tiếng hát. Và chúng chỉ thuộc về cô mà thôi, những khoảnh khắc ấy. Sonja không giận Ove vào cuộc hẹn ăn tối đầu tiên, khi anh thú nhận mình đã nói dối về việc đi nghĩa vụ quân sự. Tất nhiên là cô có vô số lần giận Ove sau này, nhưng trong buổi tối đó thì không. — Có người đã nói rằng những người đàn ông tốt nhất sinh ra với đầy lỗi lầm và sau đó tiến bộ lên, chứ không phải họ không bao giờ làm điều gì sai. - Cô dịu dàng nói. — Ai đã nói như vậy? - Ove hỏi, mắt nhìn vào ba món dao nĩa trên bàn, giống như cách một người nhìn vào cái hộp mở sẵn trong lúc ai đó bảo anh ta chọn loại vũ khí cho cuộc quyết đấu. — Shakespeare. — Thế thì sao? - Ove thắc mắc. — Thì tuyệt vời chứ sao! - Sonja gật đầu và mỉm cười. — Anh chưa bao giờ nghe ông ta cả.

— Đọc chứ! - Sonja chỉnh lại và âu yếm đặt tay lên tay anh. Trong gần bốn mươi năm họ sống cùng nhau, Sonja đã dạy hàng trăm học sinh gặp khó khăn trong việc học đọc và viết. Bà đã thành công trong việc làm chúng đọc các tác phẩm của Shakespeare, nhưng chưa bao giờ ép Ove đọc được dù chỉ một vở kịch. Ngay khi họ chuyển đến khu dân cư này, suốt mấy tuần liền tối nào Ove cũng rút vào trong lán. Khi ông xong việc, một cái tủ sách đẹp chưa từng thấy đã mọc lên trong phòng khách nhà họ. “Em phải cất chúng ở đâu đó chứ,” ông đã lẩm bẩm như thế trong lúc dùng đầu nhọn của chiếc tua vít cạy cạy vết đứt nhỏ nơi ngón cái. Sonja đã sà vào vòng tay Ove và nói rằng bà yêu ông. Ông gật đầu. Duy nhất một lần Sonja hỏi về những vết bỏng trên cánh tay ông. Bà đã phải xâu chuỗi lại hoàn cảnh cụ thể của việc Ove bị mất ngôi nhà bố mẹ để lại từ những mảnh nhỏ rời rạc mà ông miễn cưỡng cung cấp. Nhưng cuối cùng bà cũng biết được lý do tay ông bị sẹo. Và khi một người bạn gái hỏi Sonja vì sao lại yêu Ove, bà đáp rằng hầu hết đàn ông bỏ chạy khi đứng trước một vụ hỏa hoạn. Còn những người như ông lao thẳng vào đó. Ove có thể đếm trên đầu ngón tay số lần gặp bố của Sonja. Ông già sống ở một nơi khá xa trên phía bắc. Dường như bố của Sonja đã xem bản đồ phân bố dân cư của Thụy Điển và quyết định rằng đó là nơi cách xa các đồng bào của mình nhất mà ông có thể sống được. Mẹ của Sonja đã mất trong khi lâm bồn. Bố cô không bao giờ tục huyền. “Tôi có vợ chứ. Chỉ là bà ấy không có nhà vào lúc này thôi,” ông già nói thế mỗi khi có ai đó dám khơi lại vấn đề. Sonja dọn tới thành phố khi bắt đầu học trung học với chuyên ban khoa học xã hội. Bố đã phẫn nộ nhìn cô khi Sonja đề nghị ông dọn đến ở cùng với mình. “Rồi bố làm gì ở đó? Gặp người ta à?” Ông đã gằn giọng như thế. Bố luôn phát âm hai chữ “người ta” như thể nó bậy bạ lắm vậy. Thế là Sonja đành thôi. Ngoài những dịp cuối tuần được con gái về thăm và những chuyến đi tới cửa tiệm tạp hóa tại ngôi làng gần đó, ông già chỉ có mỗi Ernest làm

bầu bạn. Ernest là chú mèo nông trại lớn nhất thế giới.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 17

Đang tải bình luận...