CHƯƠNG 3 AI CẬP Thoát khỏi cảnh nô lệ ặc dù có sự gián đoạn căn bản nhưng cũng có nhiều điểm liên tục giữa thế giới xưa của vòng sinh tử và thế giới mới của cuộc hành trình của Avraham. Avraham không phải ngay một đêm trở thành người mặc khải trong hoang địa với hai mắt mở to ngạc nhiên, kiếm tìm mỗi Thiên Chúa. Avraham đi tìm những điều mà tất cả những người tỉnh táo muốn tìm - đó chính là niềm vui thích và sự an toàn - mặc dù Avraham hy vọng về một điều gì đó hơn thế nữa, một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ. Và chỉ duy nhất một điều bất biến mà Avraham hy vọng chính là những người thừa hưởng cơ thể ông. Nhưng niềm hy vọng của ông lớn hơn nhiều so với sự màu mỡ phổ biến của Sumer, ở đó các con điếm được hiến tế (cả nam lẫn nữ) hay lui tới các khu đền và các xác chết trôi lềnh bềnh dọc theo sông Euphrates. Từ giờ trở đi, các người thừa hưởng của Avraham sẽ không chỉ trông cậy vào những nghi thức giao hợp thần thánh mà còn trông cậy vào Thiên Chúa để đảm bảo cho dòng dõi và xứ sở của họ. Chúa là Đấng Tạo Hóa: Người thử thách họ chứ họ không thử thách Người. Người khởi đầu một cuộc đối thoại và quan sát toàn bộ diễn biến cuộc đối thoại đó. Chúa khác họ hoàn toàn, không phải là hiện thân hay người yêu quý của họ, cũng không phải là một nhân vật thần thoại thông thường với những ý định có thể đoán được bằng linh cảm hay là người có thể bị các nghi lễ của con người chi phối. Chúa cho và nhận vượt quá lý lẽ và sự biện minh của con người. Bởi vì những động cơ của Người không thể giải thích được và mọi ý nghĩ cũng như hành động của Người không thể đoán trước được, bất cứ cái gì - và mọi thứ - đều có thể xảy ra. Nhiều cái mới được sinh ra là kết quả của mối quan hệ này, nhưng đức tin là trên hết, đức tin có trước Avraham không nằm trong tình cảm và trí tưởng tượng về tôn giáo. Bởi vì mọi thứ đều có thể xảy ra, đức tin cũng có thể có thậm chí là rất cần thiết.
74 Mặc dù việc Avraham, trên đường đi đến Canaan, đã lập nên một bàn thờ tại Shekhem, nhưng cũng đúng khi nói rằng ở một mức độ sâu sắc hơn tất cả các nơi thần thánh trên thế giới và tất cả các biểu tượng thần thánh đều đã bị vứt bỏ đi. Giờ đây mọi thứ đều thiêng liêng, mọi thứ đều trần tục. Tổ phụ Avraham và con cháu của ông không xức dầu thánh cho những bức tượng đặc biệt; cũng không theo các vì sao từ các thần điện sáng lấp lánh mà chỉ tin vào lời Thiên Chúa và cuộc hành trình đang diễn ra. Đức tin thay thế khả năng tiên đoán chung chung của thế giới xưa bằng khả năng thành công lẫn thất bại, hạnh phúc lẫn bi kịch trong hiện thực - đó chính là một cuộc hành trình có thực mà kết quả vẫn chưa có. Câu chuyện của Avraham là câu chuyện có thật trong lịch sử và không thể thay đổi được, nó không phải là một màn kịch trần gian về một kiểu mẫu trên thiên đàng. “Avraham đã ra đi” - thật sự đã ra đi. Tôn giáo theo chu kỳ không xuất phát từ nơi nào hết vì, bên trong sự nhận thức, không có tương lai khi chúng ta bắt đầu hiểu được tôn giáo, mà chỉ là một chu kỳ tiếp theo của Vòng sinh tử. Vì thời gian không còn theo chu kỳ nữa mà chỉ đi theo một chiều không bao giờ trở lại, lịch sử cá nhân giờ đây có thể trở thành hiện thực và cuộc sống cá nhân có thể có giá trị. Giá trị mới lúc đầu rất khó hiểu, nhưng trong những mô tả cổ xưa nhất về Avraham và gia đình của ông, chúng ta bắt gặp những bảng phả hệ được soạn thảo kỹ lưỡng về những con người bình thường, một điều gì đó mà chắc là người Sumer không bao giờ nghĩ là sẽ ghi nhận lại, vì họ cho rằng điều đó chẳng có ý nghĩa gì đối với trí nhớ cá nhân. Đối với họ, chỉ có sự tồn tại khách quan như vương quyền, mùa vụ mới là quan trọng; còn những gì thuộc về cá nhân, khác thường, phi thường, kỳ quái - những con người hay sự kiện không phù hợp với nguyên mẫu - thì chẳng có ý nghĩa gì cả. Và nếu không có cá nhân thì thời gian và lịch sử cũng sẽ không bao giờ xảy ra. Nhưng Thiên Chúa của Avraham, Thiên Chúa của Yitzhak và Thiên Chúa của Yaakov - không còn là thần thánh cổ đại tiêu biểu nữa, cũng không còn là người có cử chỉ nguyên mẫu nữa - mà là một người có nhân cách thật sự, đã can thiệp vào lịch sử hiện thực, làm thay đổi tiến trình lịch sử và cướp đi tính dự đoán trước của lịch sử.
75 Người sẽ còn tiếp tục can thiệp. Và những sự can thiệp này dần dần mang lại cho các hậu duệ của Avraham những sự đổi thay lớn lao trong trí óc và con tim, một trong số những sự can thiệp của Chúa chỉ được gợi ý trong các truyện kể của các tổ phụ. Chỉ lấy một ví dụ duy nhất: Yaakov, người có tội lỗi khắc khoải đối với anh trai của mình tên là Esav đã thôi thúc ông nghĩ là mình sẽ bị giết chết dưới bàn tay của anh trai mình một khi họ gặp lại nhau, nhưng cuối cùng đã hòa giải với anh trai mình; và trong khoảnh khắc giải quyết vấn đề một cách tốt đẹp này, Yaakov, người đã nhìn thấy khuôn mặt của Chúa, thốt lên những lời kỳ lạ: “Chỉ nhìn thấy khuôn mặt của anh là giống như nhìn thấy được khuôn mặt của Chúa, giờ đây anh đã rất tốt bụng khi thừa nhận em”. Người thuật chuyện cũng như phong tục của anh ta không giúp ích gì cho chúng ta trong việc phân tích câu nói có tính châm ngôn này. Nhưng chúng ta biết rằng trong thế giới cổ đại “để nhìn thấy khuôn mặt của một ai đó” là phải biết về người đó, phải hiểu được tính cách và nắm được lai lịch của người đó. Vì Yaakov đã nhìn thấy khuôn mặt của Chúa nên ông cũng có thể nhìn thấy từng cá nhân con người để biết người đó là ai; và vì lý do nào đó kinh nghiệm này cũng giống như kinh nghiệm của Chúa. Điều này sẽ có ý nghĩa gì đối với tương lai thì vẫn chưa thể giải thích tường tận được, nhưng con người giống như một quân cờ (Sara, các con gái của Lot, vợ của Lot, Yitzhak) thì lại lặng lẽ và huyền bí để đưa ra tầm nhìn cao hơn về con người là cái gì. Tại điểm này trong câu chuyện, chúng ta chỉ có được gợi ý mờ nhạt về một sự phát triển như thế. Nhưng khi dõi theo những cuộc du cư của con cháu Avraham qua nhiều thế kỷ, chúng ta sẽ chứng kiến nhiều sự phát triển như thế. Quả thực, chúng ta sẽ là những bằng chứng cho sự tiến triển chậm chạp của toàn bộ hệ thống các giá trị cua mình. Những câu chuyện về các ông tổ không sát với câu chuyện về Yaakov/Israel. Israel cùng với hai bà vợ và hai cô hầu gái có tất cả mười hai người con trai sau này trở thành mười hai chi tộc Israel8 . Rachel, người vợ ông yêu thích nhất, đã sinh cho ông người con trai ông yêu quý nhất tên là Joseph. Joseph là người cuối cùng trong số mười hai ông tổ của mười hai chi tộc Israel và là người đã thiết lập
76 những sự kiện trong sự vận động không chỉ làm cho người dân Do Thái định cư lâu dài trên miền đất Hứa, có lẽ như người ta đã mong đợi, mà còn làm cho người dân Do Thái rơi vào cảnh nô lệ tưởng chừng như vĩnh viễn ở Ai Cập. 8. Tên tuổi những ông tổ của mươi hai chi tộc Israel (và, sau đó, chính là tên tuổi của các chi tộc) được ghi lại trong sách Sáng Thế là Reuben, Simeon, Levi, Judah, Issachar và Zebulun do Leah, vợ của Israel sinh ra. Bilhah, người hầu gái, sinh ra Gat và Asher. Rachel, người hầu gái, sinh ra Dan và Naphtali. Sau cùng, bà Rachel sinh ra Joseph và Benjamin. Trong các danh sách sau này, chi tộc của Simeon có khuynh hướng biến mất trong vùng đất do Judah kiểm soát; chi tộc thầy tu Levs không có đất nên đã bỏ di; và Joseph được chia thành những chi tộc của hai người con trai là Ephraim và Manasseh.
77 Các anh của Joseph thấy cha quan tâm thương yêu Joseph hơn nên đã sinh lòng ganh ghét và bày mưu bán Joseph cho một đoàn người buôn nô lệ đang đi ngang qua Canaan và họ đã dẫn Joseph đến Ai Cập, ở đó ông lại được bán cho một chủ hộ tên là Potiphar. Bằng cách cự tuyệt những quan tâm về tình dục của vợ Potiphar, Joseph tự đẩy mình vào chốn ngục tù, ở đó Joseph nổi danh nhờ khả năng đọc được các giấc mơ của các tù nhân, trong đó có một người tiến rượu cho nhà vua Ai Cập. Khi người hầu rượu đã được tha bổng và lấy lại địa vị trong nhà Pharaoh thì ông ta đã giới thiệu với chủ nhân của mình về tài giải mộng của Joseph, vì chính vị chủ nhân cũng đã bị quấy rầy trong giấc ngủ. Sự phân tích của Joseph về các giấc mơ của Pharaoh (theo Joseph tiên đoán sắp tới là bảy năm sung túc tiếp theo sau những năm đó là bảy năm đói kém) đã để lại cho nhà vua một ấn tượng sâu sắc khiến nhà vua đã phong cho Joseph một địa vị đặc biệt nhất - tế tướng và là địa vị cao thứ hai ở Ai Cập. Trong chức vị tể tướng, Joseph bắt đầu chuẩn bị cho vương quốc của Pharaoh đối phó với thời kỳ đói kém bằng cách cất trữ nhiều lúa mì thu hoạch được. Ngay trước thời điểm nạn đói bắt đầu, việc cất trữ của Joseph với vua Ai Cập và danh tiếng của ông khó có thể cao hơn được nữa; và chính vào lúc này, các anh trai của Joseph bị thúc ép bởi nạn đói nên đã đến Ai Cập, nạn đói đã lan khắp nơi. Câu chuyện của Joseph kết thúc bằng sự mỉa mai làm thỏa mãn nhất: các anh trai của Joseph chịu giảng hòa với ông, nhưng không phải trước khi họ hoàn toàn bị làm bẽ mặt và buộc phải thấy rằng Joseph chính là người thống trị không thể phủ nhận của họ. Cha Yaakov quay trở về định cư với gia đình ở Ai Cập, ở đó ông được sống trong sự sum vầy của con cháu và ông đã chết trong toại nguyện, chúc lành đặc biệt tới con cái Ai Cập của Joseph. Ông Joseph chưa bao giờ nghe Tiếng Nói của Chúa và ba ông tổ của ông cũng vậy. Nhưng cùng với sự lừa dối trong câu chuyện của Rivka, chúng ta được biết tất cả đang diễn ra theo thiện chí của Chúa. Đúng như nỗi dằn vặt của Yitzhak về việc ban lời chúc phúc cho người con trai “tồi” là một nỗi đau tất yếu vì nó bảo đảm cho thiện chí của Chúa dành cho dòng giống của Avraham. Nỗi
78 đau của Joseph trong bàn tay của các anh trai và chế độ nô lệ tiếp sau của mình thật sự cần thiết đối với sự sống còn cuối cùng của những con cái Israel trong thời kỳ đói kém. Joseph giải thích cho các anh trai mình ‘Việc Chúa đã sai em đến trước các anh là để cứu lấy cuộc sống”. Chúa có thể sử dụng con người dù họ có muốn thực hiện theo thiện chí của Người hay không. Kinh Thánh rơi vào im lặng trong việc thuật lại câu chuyện về các thế hệ của Avraham. Vào lúc Kinh Thánh kiếm được một chuyện kể - trong sách Xuất Hành, tác phẩm thứ hai - thì nhiều thế kỷ đã trôi qua9 . Những con cái Israel “sinh sôi nảy nở, trở nên đông đúc và ngày càng hùng mạnh; họ lan tràn khắp xứ”. Và rồi “một tân quốc vương lên trị vì Ai Cập”, theo cách diễn đạt lạnh lùng trong phiên bản của vua James thì vị vua này “không biết Joseph” - đây là vị vua thứ ba của Ai Cập trong Kinh Thánh. 9. Bao nhiêu thế kỷ thì vẫn còn đang tranh luận. Đối với các ngày chính xác của các sự kiện chính trong kinh Cựu ước, xem bảng niên đại ở cuối sách. Đối với mục lục được chú thích trong kinh Cựu ước, xem “Các tác phẩm kinh Cựu ước” ở cuối sách.
79 Vị vua Ai Cập đầu tiên là một ông vua ngu ngốc - một ông vua thần thánh chỉ biết ngồi một chỗ để cho Avram lo toan mọi việc. Thứ hai là vị vua của Joseph được đánh giá cao: ông đủ thông minh để giao trọng trách cho Joseph. Dường như tất cả đều cho thấy rằng ông vua này là một kẻ xâm phạm quyền lợi người khác và là một người Semite, một trong những người Hyksos đã trị vì Ai Cập từ thời Hammurabi vào thế kỷ thứ XVIII TCN. Cho đến giữa thế kỷ thứ XIV trong cùng kỷ nguyên, lúc đó các con cháu hoàng tộc cũ của Ai Cập đang tự khẳng định lại vị trí của họ. Một trong những vị vua Ai Cập hậu Hyksos là Akhnaton, người mà trong một thời gian ngắn ngủi đã ra chiếu chỉ rằng chỉ có một thần duy nhất, đó là Aton, Thần mặt trời, được thờ phụng trong dân chúng ở Ai Cập. Nhưng sự cải cách kỳ dị này chỉ có những người được hưởng đặc quyền đặc lợi thực hiện (đó là giới thầy tu và những người sùng đạo của tất cả các vị thần khác) và đã sớm được bãi bỏ bởi một vị vua tiếp theo, Tutankhamon vĩ đại, và được loại ra khỏi trí nhớ của dân chúng. Vị vua “không biết Joseph” này hầu như chắc chắn là vua Seti đệ nhất, người đã giành được ngai vàng của Ai Cập trong 34 năm sau vua Tutankhamon và hơn nửa thế kỷ sau Akhnaton. Vị vua Ai Cập này (trong Kinh Thánh không đề cập đến tên riêng của ông) luôn bị ám ảnh bởi một nỗi sợ hãi đến mức chúng ta có thể gọi đó là chứng hoang tưởng: nhà vua sợ rằng giờ đây “Dòng giống người Do Thái” sẽ rất “đông đúc và hùng mạnh” có nguy cơ lấn át cả chúng ta - một dấu hiệu chắc chắn của chứng hoang tưởng, vì người Do Thái chắc khó trở nên đông đúc - và rằng “nếu chiến tranh xảy ra, dân tộc này cũng có thể đứng về phía quân thù chống lại chúng ta hoặc di tản khỏi xứ!”. Biện pháp của ông là: hành hạ người Do Thái bằng những việc khổ sai như xây cho nhà vua các thành quách làm kho lương thực ở Pitom và Ramses. Vẫn lo sợ về sự đông đúc của người dân Do Thái, ông tìm cách tranh thủ các bà đỡ nhằm thực hiện mưu đồ làm cho dân tộc Do Thái bị tuyệt chủng - lần đầu tiên nhưng không phải là cuối cùng Dòng giống Do Thái sẽ cam chịu, ông triệu tập hai bà đỡ được mệnh danh là “bà đỡ của người Do Thái”. Trái ngược với
80 cách đối xử phi nhân tính của nhà vua Ai Cập, vị quốc vương thần thánh của toàn thể dân chúng Ai Cập, người thuật chuyện ghi lại tên tuổi của hai người phụ nữ nhún nhường này, đó là: Shifra và Pua. Dường như chính danh xưng này đã gợi lại quá khứ xa xôi của họ; và chúng ta hầu như có thể thấy họ đang đứng trước mặt nhà vua: một người phụ nữ trẻ đẹp có cái tên cũng trẻ đẹp và một người phụ nữ già nua xấu xí có cái tên cũng già nua xấu xí, nghe nhà vua ra lệnh: “Khi đỡ đẻ cho những sản phụ người Do Thái, các người hãy nhìn vào đứa trẻ: Nếu là trai thì giết đi, Còn nếu là gái thì để cho sống”. Người ta phản đối rằng cảnh này không thể nào mang tính lịch sử: nếu muốn tiêu diệt một dân tộc, bạn phải ám sát tất cả các phụ nữ của dân tộc đó, tiêu diệt các cỗ máy sinh đẻ chứ không phải tiêu diệt những người đàn ông. Những gì nhà vua thúc ép là hoàn toàn phi lý, điều này được thể hiện ở hai cấp độ: ông ta đang ra sức hủy diệt chính lực lượng lao động của mình - và việc ông ta làm sẽ hoàn toàn không mang lại hiệu quả. Hoặc chính bản thân hai bà đỡ cũng không thể nào làm xuể nếu người dân Do Thái trở nên đông đúc. Nhưng từ “hai hòn” có nghĩa là gì? (Theo ý kiến của một số nhà phê bình) từ này có nghĩa là một cái gì đó ở trên loại ghế sinh đẻ thời trung cổ, nhưng tại sao lại là hai mà không phải là một? Kinh Thánh thường dùng phép uyển ngữ để mô tả bộ phận sinh dục (đặc biệt bộ phận sinh dục của nam giới). Theo tôi “hai hòn’ ở đây có nghĩa là: giây phút bà đỡ nhìn thấy đứa bé chào đời có hai hòn dái thì phải bóp chết đứa bé. Và tại sao chúng ta phải nghĩ vị vua này có lý trí? Chẳng phải chúng ta hoàn toàn không có bằng chứng để chứng minh việc ông ta nghĩ dòng giống người Do Thái đang “đông đúc và hùng mạnh hơn” người Ai Cập là hoàn toàn phi lý đó sao? Chằng lẽ chỉ dưới con mắt của nhà vua Ai Cập thì dòng giống người Do Thái mới là ‘đông lúc nhúc’ như thể họ đang đẻ ra côn trùng hay sao? Liệu đây có phải là vị vua thần thánh yếu đuối và luôn bị ám ánh bởi những ý nghĩ kỳ
81 quặc, một người mà luôn lo sợ uy lực của dân Do Thái, giống như những ông chủ đồn điền yếu ớt ở miền Nam nước Mỹ lo sợ uy lực của những người nô lệ da đen, đặc biệt là những nô lệ có “hai hòn”? Liệu nỗ lực tiêu diệt dòng giống người Do Thái của Nazi là có lý hơn nhiều so với nỗ lực kém hiệu quả này? Tới không nghi ngờ về những gì chúng ta có ở đây là sự miêu tả một cách khéo léo về một người Ai Cập mất lý trí lúc nào cũng có cảm giác không an toàn, một vị vua thần thánh đầy quyền lực mà sợ rằng có một ai đó có thể có quyền lực hơn mình. “Nhưng”, cũng theo cách kể chuyện thông thường và hiệu quả của mình, người thuật chuyện lại tiếp tục: Các bà đỡ có lòng kính sợ Thiên Chúa, Nên không làm những việc mà vua Ai Cập đã phán, họ vẫn để những đứa trẻ sống. Đúng là những lời đơn giản và đẹp đẽ làm sao! Vì họ không phủ phục trước quyền uy thật sự, nên họ không dễ gì bị cám dỗ để cúi đầu trước việc giết người vô nghĩa và vì thế họ đã làm điều đúng. Cũng không rõ là có phải “những bà đỡ cho sản phụ người Do Thái” là con cháu của miền đất Hứa hay không; có lẽ các bà đỡ là những người tà giáo mang trong tim mình một Thiên Chúa chân chính, cũng giống như Hagar, họ có thể là những người Ai Cập có thể nhìn thấy Chúa. Nhưng trong sự nhận thức tinh tế về luân lý của mình (“họ để cho các đứa trẻ sống”) thì các bà đỡ là những con người tiến bộ - những con người thật sự xứng với tên tuổi của mình chứ không như vị vua thần thánh tầm thường kia. Chúng ta cũng không thể quên rằng họ là những người phụ nữ có cái nhìn sắc sảo vào sự thật sâu xa của các sự việc được coi như là một bước tiến cách mạng khổng lồ vượt xa quân cờ Sara, vượt xa bản thân Avraham, một người sẵn lòng bỏ vợ để cứu mạng sống của mình. Diễn biến tiếp theo của câu chuyện thậm chí còn thỏa chí hơn. Khi nhà vua biết được chuyện hai bà đỡ không tuân lệnh, ông bèn gọi các bà đến một lần nữa với thái độ cáu gắt:
82 “Tại sao các người lại làm như thế [để cho những đứa con trai Do Thái] sống?” Các bà thưa với nhà vua: “Thật ra đàn bà Do Thái không như đàn bà Ai Cập, họ khỏe lắm: bà đỡ chưa kịp đến thì họ đã sinh rồi!” Vị vua thần thánh phi nhân tính đó đã tiến một bước xa hơn nữa, đó là ra lệnh cho mọi con trai Do Thái sinh ra đều bị ném xuống sông Nile. Chính vì vậy, đúng là chúng ta được biết đến một người mẹ Do Thái, một người phụ nữ có mang và sinh ra một đứa con trai. Thấy đứa bé kháu khỉnh nàng giấu nó ba tháng trời. Và khi không thể giấu lâu hơn được nữa, nàng lấy một cái thúng cói, trét hắc ín và nhựa chai, bỏ con vào, rồi đặt thúng trong đám sậy ở bờ sông Nile. Chị đứa bé đứng đàng xa để trông xem có gì sẽ xảy ra cho em nó. Đoạn văn êm ái, tràn đầy tình thương và sự quan tâm trìu mến này - thật hiếm có người thuật chuyện nào lại cho phép bản thân mình đặt trong các chi tiết nhún nhường đến thế đã cho chúng ta thấy được một người mẹ yêu con và một người chị thương em như thế nào, những người đã tỏ ra những tính cách mà chúng ta hy vọng là dòng dõi Avraham,