phần chính của điều luật thuộc về phong tục của người Do Thái được dùng để cai trị mọi mặt của đời sống và đã phát triển thành tầm vóc to lớn từ cuối thời kỳ cổ điển đến hiện tại, Chẳng hạn, chỉ có một câu trong sách Xuất Hành - “Không ai giết người trong trứng nước”, chắc là sự bài trừ hành động tàn ác - sẽ trở thành cơ sở cho một phần rộng lớn của các điều luật quy định về chế độ ăn kiêng của người Do Thái như tuyệt đối không được để thịt và thịt chim chung với sữa và toàn bộ thức ăn được làm từ sữa, thậm chí không được để chung hai bộ chén đĩa và dụng cụ làm bếp với nhau. Những điều luật được xây dựng công phu trên cơ sở các phong tục tập quán trong quyển Torah, sau đó được mở rộng trong quyển Mishna, bộ luật của những giáo sĩ Do Thái trước đây vào
118 cuối thế kỷ thứ hai của kỷ nguyên chúng ta, rồi được giải thích sâu hơn trong quyển Talmuds vào giai đoạn đầu của thời kỳ Trung cổ và được phân tích lại kỹ hơn trong những bài bình luận của các giáo sĩ Do Thái (thường là những người theo chính sách ngu dân) cho đến tận ngày nay như thế chưa bao giờ tạo được ảnh hưởng lớn vượt ra ngoài những phạm vi tương đối nhỏ của những người Do Thái tinh ý và cũng chưa bao giờ đi vào xu hướng chủ đạo của tư tưởng và ý thức của phương Tây. Những tinh túy luật pháp được những giáo sĩ Do Thái tạo ra qua nhiều thế kỷ đã đưa ra thuật ngữ “talmudic” có hàm ý “phân biệt với vấn đề vô lý”. Những điều luật đó còn đặt người Do Thái vào trong tình thế chống lại người Do Thái, vì thế mãi đến ngày nay, chúng ta vẫn nghe thấy lời buộc tội xúc phạm đến tự ái của dòng tu siêu chính thống rằng các nghi thức linh hoạt hơn của đạo Do Thái không phải là đạo Do Thái. Nhưng ngay tại điều kỳ dị nhất của nó, những điều luật này vẫn được xem là bằng chứng chứng nhận sự thật rằng người Do Thái là những người đầu tiên phát triển một quan điểm sống hợp nhất và các giao ước của nó. Hơn cả việc hình dung những yêu cầu về luật và những yêu cầu về sự khôn khéo như những vương quốc riêng biệt (như người Sumer, người Hy Lạp và người Ai Cập đã làm), họ đã hình dung rằng toàn bộ cuộc sống được tạo ra bởi Đấng Tạo hóa thì lại bị cai trị chỉ bởi một quan điểm độc nhất. Vật chất và tinh thần, tri thức và đạo đức là một: Hãy lắng nghe hỡi những người Do Thái: Đấng chí tôn thượng đế Chúa của chúng ta, Đấng chí tôn thượng đế là một! Công thức tuyệt vời này không phải là có duy nhất một Chúa trời mà “Chúa trời là duy nhất”, vấn đề bản chất này không chỉ tạo nên những xu hướng phổ quát luận và hợp nhất của triết học phương Tây mà còn tạo nên cả khả năng luận của khoa học hiện đại. Vì cuộc sống không phải là một loạt những kinh nghiệm rời rạc chịu sự tác động của những sức mạnh hoàn toàn khác nhau. Chúng ta không sống trong một thế giới bị vỡ vụn, bị kiểm soát bởi những vị thần xung khắc và không kiên định. Như Bob Dylan đã hát: Hãy đeo cho họ những cái chuông, Martha đáng yêu,
119 cho con trai của kẻ nghèo. Hãy đeo cho họ những cái chuông để báo cho cả thế giới biết Chúa là duy nhất. Chúa và “con trai của kẻ nghèo” hòa hợp với nhau. Bởi vì Chúa là Một, cuộc sống là một thể liên tục về mặt luân lý - và thực tại làm nên ý thức. Sự đổ máu theo sau sự phản bội điên cuồng. Moshe từ đỉnh núi đi xuống, tay cầm hai tấm Bia giao ước, nghe “âm thanh của bài Thánh ca” - nét đặc trưng của Thánh ca và hát đối - và nhìn thấy “con bê và những người đang nhảy múa”, tại đó. Cơn thịnh nộ của Moshe nổi lên, Ông ném hai bức phù điêu đang cầm trên tay, và đập vỡ nát chúng ở dưới chân núi. Bây giờ Thỏa ước đó đúng là bị phá vỡ. Moshe nấu chảy tượng thần, tán nhuyễn thành bột, trộn với nước, rồi bắt con cháu Israel uống cái thứ hỗn hợp cực kỳ ghê tởm. Sau đó, quay lại với Aharon, hầu như cầu xin Aharon giải tội cho mình và việc đó đã được Aharon giải quyết một cách khéo léo: Xin Ngài chớ bừng bừng nổi giận Chính Ngài biết: dân này có khuynh hướng xấu Họ nói với tôi: ‘Xin ông làm cho chúng tôi một vị thần dẫn đầu chúng tôi Vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra đối với ông Moshe, người đã cưu mang chúng tôi ra khỏi đất Ai Cập”. Tôi nói với họ: “Ai có vàng?” họ đã gỡ vàng đưa cho tôi tôi ném vào lửa, và đã ra con bê này. Giờ đây, lúc Moshe nhìn thấy một dân tộc sống buông thả, vì ông Aharon đã để họ sống buông thả bất chấp những bàn tán xầm xì từ địch thủ của họ. Moshe đứng ở cổng trại và hô: “Ai thờ Đức Chúa thì theo tôi!” Ông bảo họ:
120 “Đức Chúa, Thiên Chúa của Do Thái, phán thế này: Mỗi người hãy đeo gươm vào. Hãy đi đi lại lại trong khắp trại, từ cửa này sang cửa khác mà giết: kẻ thì giết anh em, người thì giết bạn hữu, kẻ thì giết người thân cận mình”. Con cái ông Levi đã làm theo lời ông Moshe Trong ngày ấy có ba ngàn người trong dân chúng ngã gục. Liệu có cách nào để hiểu đoạn văn này nói về một Thiên Chúa khó lòng hoàn tất việc đưa ra một mệnh lệnh tuyệt đối chống lại sự giết người, trong khi lại truyền đi một mệnh lệnh về cuộc tàn sát toàn bộ? Moshe chỉ huy một bộ lạc sống trên sa mạc nguyên sơ chống lại sự nổi loạn công khai. Không có phiên tòa để chống án, không có luật pháp bên cạnh lời của Đấng chí tôn và quyết tâm của Moshe để làm cho nó có hiệu lực. Nếu Moshe không liên kết với các con trai thông thạo kiếm thuật của Levi thì câu chuyện trong sách Xuất Hành có lẽ đã kết thúc ở đây. Trong tình tiết ám chỉ về chủ nghĩa bè phái sau này - của những giáo sĩ người Bắc Levi trong cuộc tranh giành lấy phẩm cấp Aharonid dẫn đến việc kiểm soát thánh địa Jerusalem ở miền Nam này - có một sự kình địch được sắp xếp vào phía sau câu chuyện này. Nhưng cuộc tàn sát đã đè nặng lên tâm lý của độc giả. Chúng ta có thể thường xuyên tự nói với chính mình đây là một dân tộc nguyên thủy cần được đối xử một cách khắt khe hoặc muốn đoạn này được giải thích từ các sức ép của xã hội sau này. Chúng ta vẫn cần hiểu tại sao Chúa lại được trân trọng lưu giữ trong câu chuyện này như một trận chém giết tàn nhẫn. Có lẽ không có câu trả lời ngoại trừ câu trả lời của Augustine: “Chúng ta đang nói về Chúa. Điều kỳ diệu nào mà bạn nghĩ là mình hiểu? Nếu bạn hiểu, thì đó không phải là Chúa”. Nhưng có nhiều điều bí ẩn trong nguyên bản của sách Xuất Hành không đòi hỏi một phương sách để hóa giải - những điều bí ẩn đó về cơ bản là nguyên văn. Việc lên và xuống núi của Moshe thật khó giữ lại được dấu vết và sự biến mất của Moshe vào trong khói sương trên đỉnh núi trong bốn mươi ngày đã làm những người Do Thái chia cách và kích thích sự tái phạm của họ. Việc gây hoang mang (thậm chí đôi lúc làm bực tức) cho bất kỳ một độc giả hiện đại cụ thể nào
121 chính là những sự gián đoạn của câu chuyện bởi sự chèn vào các chi tiết dài dòng sau này - những sự phát sinh trong Mười điều răn nguyên gốc; những quy tắc dành cho nông dân và người chăn nuôi; những chi tiết được nêu về việc tạo nên một cái rương (hoặc một cái tủ có thể mang theo được) có thể bỏ kèm theo những bức phù điêu (rốt cuộc thì Moshe cũng kết thúc bằng khuynh hướng thứ hai) và để tạo nên một căn “Lều Hội Ngộ” dùng làm chỗ che chở cái rương khi Israel cắm trại. Mặc dù đang có sự yếu ớt về số lượng nhưng con cái Israel vẫn không chịu sửa đổi. Họ không nhiệt tình với sự thay đổi hoàn toàn những cánh đồng hoang, những lời than vãn không bao giờ dứt, họ nhanh chóng chống lại một lời đe dọa thường trực đối với toàn bộ sự nghiệp. Sau khi chịu đựng sự than vãn của họ trong hai năm, Chúa quyết định bắt họ lang thang khắp sa mạc Sinai trong bốn mươi năm trường trước khi định cư ở Canaan. Bất kỳ viện bảo tàng nghệ thuật có tiếng nào cũng có thể đưa ra cho chúng ta những hiểu biết tốt hơn về những xã hội cổ đại này hơn là kinh Thánh, thực ra kinh Thánh cũng xuất phát từ những nguồn gốc văn hóa lâu đời này. Nhưng kinh Thánh là lịch sử của tín hữu chứ không phải là lịch sử của nghệ thuật hay văn hóa và kinh Thánh là tất cả những gì rất gần với những sự cám dỗ đối với những chốn đế vương của Ai Cập và những hành động tàn ác của các giáo sĩ ở Sumer. Các tác giả viết kinh Thánh cảm thấy không cần phải đắm mình vào những sự miêu tả mang tính văn