Ấn Độ Dương
Mất khá lâu để Karlsson, Jonsson và khí cầu lướt đủ xa về phía biển rộng để không còn nghe thấy tiếng la hét của viên phi công nữa. Dù sao thì gió cũng thổi xuôi chiều.
Họ vẫn còn trông thấy bóng dáng anh ta thêm một lúc nữa sau khi người đã bặt tiếng - viên phi công đang vung vẩy hai tay. Đứng bên cạnh là tay quản lý khách sạn. Tay chân không khua khoắng mạnh như thế. Anh ta trông như đang kêu trời. Hoặc hơn thế. Tay quản lý đang chứng kiến 150.000 đô bay đi ngay trước mắt. Thằng bé chín tuổi tiếp tục cắm mặt vào cái bánh trong khi những người lớn còn đang bận rộn.
Thêm vài phút nữa trôi qua, đất liền đã hoàn toàn mất dạng khỏi tầm mắt hai ông già. Julius đã thôi chửi rủa cái cần gạt màu đỏ, bác vung tay ném nó ra ngoài sau khi đã từ bỏ nỗ lực gắn món đồ lại chỗ cũ.
Gas vẫn tuôn đều và ngọn lửa vẫn cháy đượm. Xét về mặt nào đó, thế này cũng tốt. Nếu không thì họ đã rơi xuống đại dương cùng cái giỏ và mọi thứ khác rồi.
Julius nhìn quanh. Bên cạnh bình gas, bác tìm thấy một thiết bị dẫn đường GPS. Âu cũng là tin tốt! Dù vẫn không ai biết cách lái khí cầu, ít ra bây giờ họ cũng biết lúc nào thì sắp thấy bờ.
Khi Julius cắm cúi tìm hiểu về địa lý, Allan mở chai đầu tiên trong bốn chai champagne mà họ mang theo. “Úi giời!” cụ thốt lên khi cái nút bay vọt qua thành giỏ.
Julius cảm thấy Allan không coi tình hình này là nghiêm trọng. Họ không biết mình đang đi đâu.
Biết chứ làm sao không, Allan nghĩ bụng. “Tôi đã đi vòng quanh thế giới biết bao lần nên đã bắt đầu ngộ ra nó tròn méo thế nào. Nếu gió cứ tiếp tục thổi hướng này thì ta sẽ đến Australia sau vài tuần nữa. Nhưng nếu nó đổi sang hướng này một chút thì sẽ phải chờ lâu hơn.”
“Rồi lúc đó mình sẽ rơi xuống đâu?”
“À, không phải Bắc cực đấu, tiếc là cậu muốn đến đó nhỉ. Nhưng có vẻ là Nam Cực.”
“Làm thế quái nào…” Julius định nói nhưng đã bị ngắt lời
“Nào, nào. Ly của cậu đây. Giờ ta mừng sinh nhật tôi nào. Và đừng có lo. Trước khi ta đến được Nam Cực thì gas trong bình đã hết từ lâu rồi. Ngồi đi.”
Julius làm như Allan bảo, ngồi xuống cạnh cụ bạn và ném vào khoảng không phía trước ánh nhìn trống rỗng. Allan có thể đọc vị Julius đang lo lắng chuyện gì. Bác ta cần được thoải mái một chút. “Đúng, mọi chuyện lúc này có vẻ u ám bạn của tôi ơi. Đời tôi cũng đã từng tối như đêm ba mươi, thế mà giờ tôi vẫn ngồi đây. Cậu sẽ thấy, rồi gió sẽ đổi chiều. Hoặc điều gì đó xảy ra.”
Julius cảm thấy vẻ ung dung khó lý giải của Allan cũng giúp ích được phần nào. Có lẽ champagne sẽ lo nốt phần còn lại. “Làm ơn đưa tôi cái chai,” bác nói khẽ.
Và bác làm luôn bốn tợp to mà không cần đến ly.
Allan nói đúng: gas hết trước khi họ thấy bờ. Bình gas bắt đầu nổ lép bép và ngọn lửa nhảy múa không ngừng một lúc rồi tắt lịm ngay khi hai người bạn xử xong chai thứ nhất.
Đó là một cú hạ cánh êm đềm xuống bề mặt Ấn Độ Dương, mà lúc đó thực ra đã là Thái Bình Dương rồi.
“Cụ có nghĩ cái giỏ sẽ nổi không?” Julius hỏi khi mặt nước mỗi lúc một gần.
“Ta sẽ biết ngay thôi, Allan nói. “Nhìn này!”
Ông-một-trăm-lẻ-một-tuổi đang lục lọi cái hộp gỗ đựng những món nhu yếu phẩm cần thiết trong các sự cố không lường trước trên khí cầu. Cụ giơ lên một cái cần gạt dự phòng màu đỏ mới cứng.
“Tiếc là ta đã không tìm thấy khi món đồ vẫn còn hữu dụng. Nhìn này!”
Hai quả pháo sáng.
Cú rơi nhẹ nhàng hơn so với những gì Julius dám hi vọng. Cái giỏ của khí cầu va chạm với mặt nước, ngập nửa mét trong lòng biển vì tốc độ rơi và trọng lượng, nghiêng đi một góc 45 độ rồi lấy lại thăng bằng, nổi bập bềnh như cái phao câu cá với chuyển động giảm dần.
Hai ông già bổ nhào vì cú va chạm khiến cái giỏ bị nghiêng, ngã dúi vào nhau thành một đống. Julius nhanh chóng vùng dậy, dao sẵn trong tay cắt rời cái giỏ khỏi quả khí cầu xẹp lép lúc này đã hoàn toàn vô tích sự. Giờ nó còn dập dềnh trên mặt nước đấy, nhưng chẳng mấy nữa sẽ chìm và kéo theo cái giỏ cùng hai ông già xuống đáy biển nếu có cơ hội.
“Làm tốt lắm." Allan khen bác trong khi vẫn đang nằm bẹp.
“Cảm ơn” Julius nói, giúp ông bạn ngồi lại trên ghế băng. Sau đó Julius tháo cái bình gas nặng như cùm cùng giá đỡ bốn chân của nó và ném cả xuống biển. Nhờ vậy mà cái giỏ đột nhiên giảm được ít nhất 50 kí trọng lượng. Julius lau mồ hôi trên trán và ngồi xuống bên cạnh bạn. “Giờ thì sao đây?” bác hỏi.
“Tôi nghĩ ta nên khui chai champagne nữa để khỏi phải tỉnh táo ngồi đây. Cậu bắn một quả pháo sáng trong lúc tôi mở rượu được không?”
Nước đã ngấm vào bên trong giỏ nhưng vẫn đủ chậm để hai ông già cầm cự được ít nhất thêm vài giờ, Allan nghĩ. Có khi hơn, nếu họ tìm được thứ gì đó để tát nước ra. “Trong hai giờ đồng hồ, nhiều chuyện có thể xảy ra lắm, cụ nói.
“Như chuyện gì?” Julius thắc mắc. “À thì, vài thứ. Cũng có khi không.”
Julius tháo quả pháo sáng thứ nhất và cổ luận phần hướng dẫn bằng tiếng Indonesia. Bác đã ngà ngà say và không còn đủ sức để liều như bác vốn thế. Một mặt bác biết rằng mình sắp chết. Mặt khác, bác đang ngồi cùng một người hình như bất tử. Một người mà tướng Franco không thể hành quyết, cơ quan di trú Mỹ chẳng thể giam giữ suốt đời; người đã thoát được án treo cổ của Stalin (dù dây thừng đã kề cổ), không bị Kim Nhật Thành hay Mao Trạch Đông trừ khử, cũng không trúng viên đạn nào của lính biên phòng; không một sợi tóc nào trên cái đầu hói ấy bị động tới trong suốt 25 năm làm điệp viên hai mang giữa giới chóp bu của Chiến tranh Lạnh, không bị Brezhnev đoạt mạng, cũng không chết chùm trong vụ ngã ngựa của tổng thống Nixon.
Điều duy nhất gợi ý Allan có thể chết thật, sau khi đã chết hụt trong bao nhiêu năm trời, là thực tế cụ đang ngồi trong một cái giỏ đan bị rơi xuống biển, đâu đó giữa Indonesia, Australia và châu Nam Cực. Nhưng nếu ông mới-sang-trăm-lẻ-một-tuổi mà sống sót qua cả vụ này nữa thì chẳng nhẽ gì Julius không làm theo được.
“Tôi cho là ta chỉ cần kéo thế này," bác nói, giật đúng sợi dây nhưng lại chĩa sai hướng, thành thử quả pháo sáng cứu sinh bắn thẳng xuống biển và cứ thế mà lặn, cho đến khi tắt ngấm đâu đó dưới độ sâu chừng trăm mét.
Julius đã tính bỏ cuộc. Nhưng Allan mở tiếp một chai champagne mới, chìa ra và bảo bác làm vài tợp - có ly hay không thì tùy - vì trông bộ bác có vẻ cần nó.
“Rồi cậu thử lại với quả kia xem sao. Nhưng cứ thoải mái ngắm lên trời mà bắn - tôi nghĩ thế khéo người ta lại dễ thấy hơn."