Tanzania, Kenya
Sabine vẫn không hiểu nổi có chuyện gì sai ở đây. Olekorinko là một thầy mo. Mà bà cũng đã tự nhận mình là phù thủy.
“À, chuyện phức tạp hơn bà tưởng đấy,” Meitkini nói. “Bà có muốn tôi giải thích không?”
“Rất muốn.”
Thế là Meitkini giải thích.
Phù thủy bị coi là thứ xấu xa trên khắp châu Phi. Cách tốt nhất để xử lý một phù thủy là đánh họ đến chết. Hoặc tốt hơn nữa là tưới xăng mà đốt. Không loại trừ đó chính là điều mà người của Olekorinko định làm với Sabine. Thế nên họ phải đi ngay.
Sabine rùng mình. “Nhưng tôi đã đọc về Nữ hoàng ở Nairobi. Một phù thủy có dinh thự xa hoa với mười lăm chiếc xe. Có vẻ là một phụ nữ thành đạt đầy tự hào.”
Meitkini nhìn bà dò xét. Ồ, hóa ra cô Sabine đã nghe chuyện về Nữ hoàng? Nhưng bà ấy không phải là phù thủy, bà ấy là nganga. Từ này đã bị dịch sai trong một vài ngôn ngữ. Phù thủy là người sống lẫn trong dân. Nếu sét đánh vào một ngôi làng, người ta sẽ bảo đó là phù thủy đang làm phép. Khi ấy, một thầy bói sẽ được mời đến để xem gương và ruột động vật, thậm chí còn soi cả quả cầu pha lê để thông báo mụ phù thủy bị tình nghi vừa phóng sét đang ở đâu. Người ta sẽ đốt bà ta cùng ngôi nhà luôn cho chắc ăn.
“Không cần bằng chứng sao?” Sabine nói.
“Không, không phải. Có bằng chứng chứ. Là người thầy bói đấy.”
Tuy thế phù thủy cũng khôn lắm. Hoặc ít ra là thế nếu họ cảm thấy mình đang trong vòng nguy hiểm, có thể bị đấu tố là phù thủy.
“Vòng nguy hiểm?”
“Đúng rồi. Các bà sồn sồn sung túc. Thường là các bà góa. Ai đó mà dân làng ghen ghét.
“Một phụ nữ thành đạt,” Allan nói. “Họ thách thức đàn ông mọi lứa tuổi, ở mọi châu lục.”
“Dạo này bố biết nhiều ghê,” Julius nói. Bác ước ông bạn
Allan của mình giống như xưa, trước khi bị thứ quái quỷ gì ám.
Allan trầm ngâm gật gù. “Đó là mặt trái của cái máy tính bảng đen, cụ nói. “Tôi hết sức xin lỗi”
Meitkini không biết ở nơi khác thế nào, chứ ở châu Phi thì các bà góa có tiền thường là thầy bói quả cầu pha lê.
“Anh vừa nói phù thủy cũng khôn lắm,” Sabine nói. “Ý anh là gì?”
Meitkini vui vẻ đóng vai thầy giáo. Cô Sabine và mọi người thực tình biết quá ít về cuộc sống ở nơi này.
“Cột thu lôi ở lục địa này đắt hàng hơn tất thảy các lục địa khác cộng lại. Dựng một cột thu lôi trên đồi không tốn nhiều shilling lắm. Sau đó sét cứ nhè vào đấy mà đánh. Và phù thủy bị tình nghi vẫn tiếp tục bị tình nghi thêm một thời gian nữa.”
“Nhưng Nữ hoàng ở Nairobi thì không cần cột thu lôi hay sao?”
“Đúng vậy. Vì, như tôi đã nói, bà ấy không phải phù thủy, mà là một mganga. Tôi đoán cô Sabine muốn tôi giải thích mganga là gì?”
Rồi anh không chờ được trả lời.
Được rồi, trước hết, một mganga tin vào Chúa - không cần gì thêm cả. Nhưng niềm tin vào Chúa đó lại pha trộn với một chút các thứ khác nữa. Chẳng hạn như thảo dược, nghi lễ và các thứ rễ cây có năng lực thần kỳ. Một mganga thực thụ hiểu rằng mọi đau khổ mà loài người phải đối mặt đều do các nguyên nhân vật chất và thần linh. Một ca ruột thừa có mổ cũng vô ích nếu không hiểu nguyên do bên dưới. HIV và AIDS cũng vậy. Trong các ca này thì năng lượng vô hình hiệu quả hơn nhiều.
“Năng lượng vô hình à?”
“Phép màu, phép trừ tà. Hay ngay cả một cốc thần dược được ban phúc của Olekorinko, sao không? Luôn là nhằm làm điều tốt, không thì... cẩn thận, trò phù thủy đấy.
Julius lắng nghe cuộc trò chuyện mà không xen vào. Nhưng bây giờ bác bỗng tò mò một chuyện. “Nghe này, Meitkini. Măng tây xanh. Liệu có phép màu nào trong nó không?” Bác đang hình dung ra một cơ hội làm ăn vượt qua mọi ý tưởng mình từng có. Măng tây phép thuật Gustay Svensson! Chữa bách bệnh! Mua ngay kẻo hết!”
“Cũng có thể” Mcitkini đáp. “Nhưng nếu ruột thừa của tôi có bị đau, thì xin cho đến viện mổ.”
Sabine cần thời gian để suy nghĩ. Có phải những câu chuyện của Gertrud mẹ bà đều xuất phát từ nhầm lẫn về ngôn ngữ? Liệu giờ đã đến lúc gác lại các nguyên tắc của mẹ bà và chấp nhận rằng không thể kiếm chác gì thêm từ chúng? Hay còn cách nào khác?
Mất ba giờ mới tới được biên giới giữa Tanzania và Kenya. Nó được đánh dấu bằng một phiến đá lớn bên lề đường và không ai trong số những người Thụy Điển nhìn thấy nếu anh lái xe không chạy chậm lại để chỉ.
“Chào mừng đến xứ sở của tôi, anh nói khi chạy ngang qua phiến đá.
“Nhìn kìa, chiếc xe thuê vẫn bám theo từ lúc ta chạy khỏi Olekorinko và bọn vệ sĩ đấy,” Sabine vẫn còn bối rối và chấn động bởi những gì vừa trải qua.
Bà không khao khát bị thiêu, dù bằng xăng hay bằng củi.
Allan ngoái lại nhìn. Cụ mượn Meitkini cái ống nhòm.
Cái xe ở hơi xa một chút, nhưng có vẻ chỉ có một người lái. Một người đàn bà. Mặc áo hiệu. Ở xavan châu Phi ư? Vẫn là cái áo hiệu đó, thậm chí, có vẻ...
“Nếu cậu dừng lại một chút, Meitkini, tôi sẽ nói chuyện với người đàn bà đi sau chúng ta. Tôi nghĩ đó là một người quen cũ”
Bụi bắt đầu lắng xuống và người Maasai xem xét xung quanh. Một đàn ngựa vằn hiền lành đang bước lên cái gò bên tay phải họ. Yên! Bên tay trái, một bầy khỉ đầu chó đang sửa soạn chỗ qua đêm. Cũng yên. Và không thấy chim chóc nháo nhác trên trời. Tức là không có sư tử hay trâu rừng ở gần đấy. Meitkini bảo dừng lại an toàn, nhưng dù Karlsson đang định làm gì thì cũng nhanh nhanh lên. Chỉ 15 phút nữa là trời tối, mà lúc ấy thì không ai được thò chân ra khỏi xe đâu.
Dừng lại? Ở đây? Ông ấy bảo “người quen” là sao? Ai lại quen biết gì ở giữa nơi đồng không mông quạnh thế này? Julius cũng bị lây nỗi lo lắng của Sabine. Tin vào linh cảm khác người của ông-một-trăm-lẻ-một-tuổi ở giữa nơi hoang dã không đâu bằng thế này thật không nên. Sao không tiếp tục đi?
“Thở sâu một hơi đi nào, nhà nông trồng măng tây. Cứ ngồi đấy đi. Sẽ ổn cả thôi, rồi cậu sẽ thấy,” Allan nói.
Khi Meitkini dừng xe bên vệ đường, chiếc xe thuê cũng làm giống thế, cách chừng trăm rưỡi thước. Allan trèo xuống khỏi chiếc Land Cruiser. Cụ bước vài bước về phía chiếc xe đằng sau, đưa ống nhòm lên và nhận ra rằng mình đã đúng. Cụ hạ ống nhòm xuống và gọi người đàn bà mặc áo hiệu, “Đến đây đi, cô Môi giới Bất động sản! Đừng ngại!”