“Nhìn xem, đây là... giày ủng của đàn ông; dưới kia là dấu chân có hình thù khác - vậy thì có hai người. Người có chân to hơn đi đến đây trước. Nhưng người sau cùng rời khỏi nơi đây thì có dấu chân này - nhỏ hơn, có lẽ là một đứa trẻ... hoặc một phụ nữ.”
“Một phụ nữ hả? Anh có chắc đó không phải là dấu chân từ hôm qua chứ? Đó có thể là người phụ nữ lo thu gom thi hài không?”
Jacob lắc đầu.
Donald cảm nhận niềm vui chiến thắng khi khám phá ngăn kệ đựng bột bị lệch ra từ khoảng trống phía dưới, nhưng chính Jacob là người tìm thấy chỗ cất giấu dưới vài hòn đá. Bí ẩn về gia sản của Jammet được giải đáp - trong một cái thùng lót lớp chì có ba khẩu súng trường Mỹ, một ít đồng tiền vàng và một xấp đô la Mỹ được gói trong vải dầu. Jacob thốt lên một tiếng kinh ngạc. Donald suy tính phải làm gì với các thứ này, và quyết định giấu về chỗ cũ cho đến khi họ có thể quay lại với một chiếc xe cút kít. Họ xếp đặt lại các hòn đá rồi Jacob lấy lá cây rải lên để chỗ cất giấu trông như tự nhiên. Một ý nghĩ nghi kỵ thoáng qua trong đầu và anh tự trách mình vì nghi Jacob có thể dấy lên lòng tham đối với gia sản này, vốn cao hơn khoản tiền anh này kiếm được trong mười năm. Donald nhận ra rằng mình không thể suy đoán từ vẻ mặt của Jacob như anh tin mình suy đoán được từ người da trắng. Anh mong Jacob không nhận biết anh thiếu tin tưởng qua nét mặt của mình.
***
Ann Pretty ngạc nhiên vì gặp lại tôi nhanh đến thế sau khi đã vay cà phê của tôi, và thái độ của chị trở nên dè dặt, mặc dù tôi đến không phải để đòi lại khoản vay mượn. Ida đang ngồi bên bếp, lầm lì lật qua các trang giấy. Nó ngước nhìn lên, khuôn mặt nhợt nhạt như bị ma ám. Cô bé lên mười lăm tuổi và tôi thấy thú vị nơi nó, có lẽ là vì nó ở tuổi bằng với Olivia lúc trước. Cũng bởi vì nó thiếu hòa hợp với gia đình Pretty, như con quạ trong một đàn gà đang chạy trốn - nó người mảnh khảnh, có nước da ngăm đen, sống theo nội tâm, và theo lời người ta nói thì nó sáng dạ. Cô bé vừa khóc.
Ann nói vang lên tuy đang đứng gần tôi: “Chị Ross! Chị có tin tức gì về con trai không?”
“Angus đã đi tìm nó.”
Bây giờ, ở đây tôi không chắc mình giữ được mãi vẻ bề ngoài bình thản. Nếu Angus không nói chuyện với tôi thì tôi biết trò chuyện cùng ai?
“À, con cái hay làm khổ thế đó.” Chị liếc tia nhìn nghiêm khắc về phía Ida. Cô bé cắm cúi trên tấm vải, đang làm việc thêu may với những đường móc nhỏ sát nhau.
“Chồng tôi không được vui khi ra đi, nên tôi không hỏi anh đi đâu. Và khi trở lại, anh sẽ bối rối vì chuyện Jammet. Dù cho chị có nói gì về anh ấy, anh vẫn là người tốt. Anh tử tế đối với Jammet.”
“Quả là lúc gay go. Có Trời mà biết chúng ta rồi sẽ ra sao.”
Ida buông tiếng thở dài nhẹ. Đầu cô bé nghiêng xuống nên tôi không thấy khuôn mặt, nhưng tôi biết nó lại khóc.
Ann cũng thở dài, giọng sắc lẻm: “Này con kia, tao không biết tại sao mày lại khóc. Mày đâu có quen thân với anh ấy.”
Ida khụt khịt mà không nói gì.
Ann quay sang phía tôi, lắc đầu: “Tôi tội nghiệp cho mẹ của Jammet. Theo tôi được biết, bà ấy không có ai khác. Chị có biết hai tháng trước anh ấy đi Chicago không? Xin hỏi chị, một người như anh ấy đi Chicago để làm gì?”
“Tôi ước gì họ đi Chicago chứ đừng bận tâm về Francis nữa; cứ tiếp tục truy lùng nó mãi là vô lý.”
“À ra thế?”
Ida lại nấc lên một tiếng, và bây giờ bờ vai cô bé rung lên.
“Ida, thôi đi có được không? Đi lên lầu chứ đừng ngồi đó mà sụt sùi. Chúa tôi...”
Ida đứng dậy bước đi mà không nhìn hai chúng tôi.
“Cái đứa con gái đó, nó làm cho tôi điên lên. Chị phải vui vì không có con gái...” Khi vừa nói đến đây, chị nhớ đến Olivia, và tôi tin chị muốn tỏ lời xin lỗi, nhưng rồi loại bỏ ý nghĩ điên rồ này ra khỏi đầu óc. “Nhưng chị đã thử với đứa kia.”
Tôi nhìn nhận rằng đúng.
“Đó là dòng máu trong người phát tiết ra. Chị không làm gì được. Chị không hề biết cha mẹ của nó là ai, đúng không? Ai biết được họ không phải là trộm đạo và dân du thủ du thực? Đó là chất Ireland trong con người của nó. Không tin tưởng họ được. Khi còn ở Kitchener
[20]
, có một đám người Ireland, mình để hở một chút là họ ra tay ăn trộm. Ý tôi không phải nói về Francis của chị, xin chị nhớ cho, nhưng bản chất bọn họ là vậy. Bản chất là vậy, nên chị phải trông chừng.”
Tôi tin chị cố tỏ ra tử tế, cho dù thốt lên lời lẽ xúc phạm; chỉ vì chị không biết phải làm gì khác.
“Ida có chuyện gì thế? Chị không nên quá khắt khe với nó, chị cần nhớ mình ra sao ở tuổi nó.”
Ann khịt mũi: “Tôi không bao giờ ở tuổi đó. Từ lúc lên mười tôi đã trông nom nhà cửa, không có thời giờ rảnh rỗi mà ngồi than thở.” Chị liếc mắt nhìn tôi, ánh mắt ranh mãnh khôi hài thường theo sau là câu đùa cợt xói vào tôi: “Chị biết tôi nghĩ gì không? Tôi cho là nó yêu Francis của chị. Nó không nói ra, nhưng tôi nghĩ tôi biết.”
Tôi kinh ngạc đến mức gần như phá lên cười: “Ida?” Khó mà tin được; nó chỉ là một đứa con gái gầy trơ xương chứ không là gì khác. Và tôi không bao giờ nghĩ nhà Pretty có nhiều thời giờ mà để ý đến Francis. Có một chuyến đi cắm trại với kết quả thất bại toàn diện mà Angus và Jimmy nài ép hai đứa con trai đi cùng, rồi Francis chịu đi với George và Emlyn. Hai ngày sau, họ trở về và Francis không nói một lời về chuyện này. Sau vụ đó, tôi không còn muốn khuyến khích nó giao du với họ nữa.
“Chúng nó thân nhau ở trường, trước khi thằng bé ra đi.”
“Để tôi nói chuyện với cô bé. Tôi còn nhớ mình ra sao ở tuổi chị. Chị biết không, tôi luôn nghĩ cô bé nhắc cho tôi nhớ lại chính mình khi còn trẻ.” Tôi mỉm cười với Ann, thích thú với ý nghĩ là nếu con gái chị thật sự giống tôi thì đấy là cơn ác mộng tồi tệ nhất của chị.
Tôi dò theo tiếng nức nở để tìm thấy Ida trong phòng ngủ chật hẹp, đang nhìn ra khung cửa sổ. Ít nhất, tôi chắc chắn cô bé đang đăm đăm nhìn ra khung cửa sổ, cho dù cô đang nghiêng người.
“Mẹ cháu nói lúc này cháu thích đi học.”
Ida nhìn lên với đôi mắt đỏ hoe và làn môi cong cớn: “Thích hả? Không đúng.”
“Francis vẫn nói cháu là người sáng dạ.”
“Thật vậy sao?” Trong một chốc, nét mặt cô bé dịu đi. Thế là có lẽ Ann đã nói đúng.
“Nó bảo cháu giống như một học giả. Có lẽ cháu sẽ tiếp tục học được ở trường Coppermine - cháu đã nghĩ đến việc này chưa?”
“Hừm. Không biết Ma-ma và Pa-pa có cho không.”
“À, đã có đủ con trai trông nom nhà cửa rồi, đúng không?”
“Cháu nghĩ vậy.”
Tôi mỉm cười với cô bé, và nó gần như mỉm cười lại. Cô bé có khuôn mặt thon nhỏ, xương xẩu, với những vết nhám dưới hai con mắt. Không ai nghĩ nó đẹp.
“Bà Ross ạ, bà có được đi học nhiều không?”
“Có. Việc đi học là rất đáng giá.”
Gần như thế. Chắc chắn tôi đã học đến nơi đến chốn, nếu trong thời gian ấy tôi không ở trong bệnh viện tâm thần. Bây giờ cô bé nhìn tôi với vẻ ngưỡng mộ, và tôi ước ao mình là con người như trong ý nghĩ của nó. Tôi có thể là người dạy dỗ cho nó - trước đây tôi chưa từng có ý tưởng này, nhưng đấy là một ý tưởng vui vui. Có lẽ đấy là một phần bù đắp khi người ta có tuổi.
“Francis cần tiếp tục đi học. Anh ấy thật sự thông minh.” Má nó ửng đỏ khi không quen nói ra ý kiến cá nhân.
“À, có lẽ đúng. Thời gian gần đây nó không trò chuyện với tôi. Cháu sẽ hiểu ra: khi cháu làm mẹ, con cái cháu không muốn nghe cháu.”
“Cháu sẽ không kết hôn. Không bao giờ.”
Nét mặt cô bé lại thay đổi - trở lại vẻ u tối.
“Lúc trước tôi cũng đã từng nói như thế, cháu biết không? Nhưng sự đời không phải lúc nào cũng diễn ra như cháu nghĩ.”
Vì lý do nào đó, tôi đang mất cô bé. Lệ lại trào lên khóe mắt nó.
“Ida... Tôi không rõ Francis có nói gì với cháu trước khi nó đi không? Về việc nó đi đâu, hoặc đại khái như thế?”
Cô bé lắc đầu. Khi nó ngước mặt lên, tôi kinh ngạc thấy đôi mắt nó lộ nỗi đau khổ. Buồn rầu pha một vẻ gì đấy - tức giận chăng? Vẻ gì đấy đối với Francis.
“Không, anh ấy không nói gì.”
Tôi trở về nhà mà cảm thấy tồi tệ hơn so với lúc ra đi. Tôi thật sự không trông mong Angus sẽ trở về cùng với Francis, nên trong đêm khuya khi anh về một mình, tôi không lấy làm ngạc nhiên. Da dẻ anh nhăn nheo vì mệt nhọc và anh nói chuyện mà không nhìn đến tôi.
“Anh đi đến Hồ Swallow. Thấy dấu vết của ai đó - hơn một người, rõ như ban ngày. Nhưng nó không có ở đấy. Không có ai câu cá ở đó, anh thề mà nói thế. Nhưng vẫn tiếp tục tìm kiếm: Nếu Francis có đi qua đó thì nó đang chạy trốn.”
Tôi nghĩ thầm: Còn anh thì trở về. Anh quay bước về nhà. Tôi muốn đương đầu. Tôi đã quyết định mà mình không muốn suy nghĩ gì nữa.
“Thế thì em sẽ đi tìm nó.”
Anh không cười nhạo như phần lớn các ông chồng khác. Tôi không biết liệu mình thầm mong anh ngăn cản tôi không, ít nhất là tranh cãi và van xin tôi đừng đi, đừng làm việc gì ngu xuẩn và can đảm và nguy hiểm như thế. Dù sao chăng nữa, anh không làm gì cả. Tôi nghĩ về các nhân viên Công ty ở Caulfield - họ sẽ đến đây nhanh, để xem Francis đã về chưa. Nhìn tận bộ mặt ranh mãnh của chúng tôi để xem chúng tôi đang sợ hãi đến đâu. Tôi không còn sức lực nào mà giả vờ. Tôi sẽ nhìn thẳng vào họ và cho họ thấy tôi đang sợ hãi.
Tôi đang sợ đến chết khiếp.
***
Gần giữa trưa, Donald và Jacob quay lại Caulfield, và Donald đã kiếm được một chiếc xe cút kít để thu giữ gia sản được cất giấu của Jammet. Cảm thấy ngượng vì ý nghĩ của mình lúc trước, anh phái Jacob đi một mình để mang cái thùng về. Anh thấy nhẹ người vì việc này, và thêm lợi điểm là có thời gian dùng bữa trưa với bà Knox và hai cô con gái. Nhưng họ vừa bắt đầu với món thịt heo khi anh đặt chân đến nhà họ.
Anh bắt đầu một cách tự nhiên: “Tôi đang thắc mắc gặp được Ông Sturrock ở đây hay không khi quay lại. Tôi nghĩ ông ấy đã quen biết chồng bà từ lâu.”
Bà Knox nhìn anh với vẻ bị đánh động: “Ông Sturrock...? Thomas Sturrock...?” Hai cô gái nhanh chóng trao đổi nhau tia nhìn có ý nghĩa.
“À tôi chỉ biết họ chứ không biết tên ông ấy, nhưng... tôi nghe nói ông ấy quen với chồng bà... Xin lỗi... tôi có lắm lời không...?”
Đúng là Bà Knox tái mặt đi, nhưng giọng nói vẫn cố trấn tĩnh: “Không sao, anh Moody à, tôi chỉ ngạc nhiên, thế thôi. Trong một thời gian dài tôi không nghe đến tên ông ấy.”
Donald nhìn xuống đĩa thức ăn của mình, bối rối và ngượng nghịu. Susannah đang chăm chăm nhìn chị cô.
Maria đằng hắng rồi nói: “Anh Moody à, tôi muốn giải thích là chúng tôi có hai chị họ, Amy và Eve, đi chơi trong rừng rồi mất tích hẳn. Bác Charles dẫn vài người cố sức đi tìm, và Ông Sturrock ở trong nhóm này. Ông ấy được biết tiếng là Người Dò tìm - anh biết chứ, là người chuyên đi tìm trẻ con bị dân Da Đỏ bắt cóc. Ông ấy đi tìm một thời gian, nhưng không hề thấy gì.”
Susannah nhanh nhẩu tiếp: “Ông ấy chỉ tiêu hết tiền của bác Charles, khiến cho bác chết trong đau khổ.”
Maria nói với Donald: “Ông ấy lên cơn đột quỵ.”
Bà Knox im lặng quay mặt đi.
Donald kinh ngạc. Từ nét mặt của Susannah, anh hiểu rằng đó là chuyện mà ngày trước cô định kể cho anh nghe, mà không thêm thắt. Và cô đang phiền hà vì bị truất quyền kể chuyện.
Cuối cùng, anh nói: “Tôi lấy làm tiếc. Quả là một chuyện kinh khủng.”
Bà Knox nói: “Đúng vậy. Cả chị tôi và chồng cô ấy đều không hồi phục được. Maria nói ông ấy lên cơn đột quỵ là đúng, nhưng ông ấy chỉ hưởng thọ được năm mươi hai tuổi. Vụ việc khiến cho ông ấy suy sụp.”
Susannah ném ánh mắt trong niềm vui chiến thắng đến cô chị.
Trong khoảnh khắc im lặng tiếp theo, âm thanh duy nhất là từ chiếc nĩa của Donald chạm vào đĩa thức ăn, và bất chợt anh cảm thấy mình thô lỗ khi cứ tiếp tục ăn, nên bàn tay cầm chiếc nĩa giơ lửng lơ trên cao. Ngay cả tiếng anh nhai thức ăn nghe ồn ào một cách kinh tởm, nhưng bây giờ khi miệng đang đầy anh không làm gì được.
Bà Knox mỉm nụ cười rắn rỏi: “Tôi mong anh vừa miệng với món thịt heo.” Bà là người nội trợ luôn hãnh diện.
Donald nói nhỏ: “Ngon lắm.” Anh nhận ra là bên tay phải mình, Susannah đã buông nĩa xuống.
Maria nói: “Chuyện đó xảy ra lâu lắm rồi. Mười bảy hoặc mười tám năm. Nhưng anh chưa nói cho biết Francis Ross đã về nhà chưa? Hay là ngày mai anh sẽ đi ra chốn lùm bụi?”
Donald thấy cảm kích đối với cô: “Vào lúc này, anh ấy chưa về. Cha mẹ anh ấy đang lo lắng.”
“Họ có nghĩ anh ấy mất tích, giống như...” Susannah ngưng lại trước khi nói dứt câu.
“Francis Ross thích đi vào rừng. Anh ấy giống như người bản địa. Hẳn anh ấy biết rõ chốn hoang dã như trong lòng bàn tay.”
“Dù sao chăng nữa, chúng ta sẽ biết rõ vụ việc khi tìm ra anh ấy. Jacob là người theo dõi dấu vết rất giỏi. Trễ một ít ngày thì đối với anh ấy vẫn không sao.”
Bây giờ, sau bữa ăn trưa, Donald ngồi trong phòng đọc sách, xem qua ghi chép của anh từ ngày hôm qua và thêm vào những sự kiện buổi sáng. Anh vừa quyết định đi tìm người mang tên Sturrock thì Susannah bước vào mà không gõ cửa. Anh nhảy dựng lên, và điều khó tin xảy ra là khi vội vã anh đánh đổ chiếc ghế.
“Chết tiệt! Tôi xin lỗi, tôi...”
“Ôi, trời ơi...”
Susannah bước đến giúp anh nhấc lên chiếc ghế, hai người đứng sát nhau, cùng cười to, hai khuôn mặt cách nhau vài phân. Donald bước lùi ra sau, bỗng dưng cảm thấy kinh hãi là cô sẽ cảm nhận tim anh đang đập thình thịch.
Cô nói: “Tôi đến để xin lỗi. Chúng tôi đã không tiếp đãi anh đúng mức. Anh biết không, tôi đã mong chúng tôi sẽ đối xử với anh theo cách khác, khi gặp anh lần sau.”
Vẻ mặt cô trông khá nghiêm túc, nhưng đôi má thoáng ửng đỏ. Donald cảm thấy chấn động với niềm tin kỳ lạ là người con gái đẹp này yêu mến mình, và ý nghĩ này tràn ngập người anh như vừa nhấp một hớp rượu mạnh. Anh mong mình không nhe răng ra cười như một kẻ ngốc nghếch.
“Cô Knox à, cô không có gì phải xin lỗi.”
“Xin anh gọi tôi là Susannah.”
“Susannah.”
Đây là lần đầu tiên anh gọi tên cô khi đối diện với cô, và việc này làm cho anh nở nụ cười. Cảm giác của tên cô trên làn môi, và thấy khuôn mặt cô đang ngước lên anh, khiến cho tim anh cháy bỏng.
“Cô là người tiếp chuyện quyến rũ nhất, và cô giúp làm vui trong... công việc này. Tôi... tôi thấy vui khi đến đây - ý tôi nói là vui vì Mackinley đã chọn tôi đi cùng.”
“Nhưng tôi đoán ngày mai anh sẽ đi, rồi chúng tôi sẽ không gặp lại anh nữa.”
“À... tôi nghĩ Công ty sẽ cần theo dõi các sự việc ở đây... Ai biết được, tôi có thể quay lại sớm hơn là cô nghĩ.”
“À. Tôi hiểu.”
Cô ra vẻ buồn rầu khiến cho anh có đủ can đảm để nói tiếp: “Nhưng, cô biết không, nếu... cô viết thư cho tôi thì thật là tuyệt, và... kể cho tôi nghe về những chuyện ở đây.”
“Ý anh là, giống như một báo cáo?”
“À... đúng, dù rằng tôi cũng muốn biết... cô như thế nào. Tôi muốn viết thư cho cô, nếu cô không phiền.”
“Anh mong viết thư cho tôi hả?” Giọng nói của cô tỏ vẻ ngạc nhiên một cách dễ mến.
“Tôi rất mong.”
Một khoảnh khắc im lặng khi cả hai ngừng thở, nhận biết ra họ đã nói những gì, và rồi Susannah mỉm cười đáp: “Tôi cũng mong.”
Donald vui sướng một cách điên cuồng, cảm thấy người tràn đầy sinh lực mà từ lâu anh đã không nhận ra. Anh thầm cảm kích, rồi, không còn biết mình đang làm gì, chạy ra khỏi nhà, làm điều nghịch lý là muốn được một mình để vui mừng với niềm hạnh phúc trọn vẹn anh vừa tìm được. Anh đi đến cửa hàng của Scott, nghĩ rằng bất cứ chuyện gì diễn ra ở Caulfield thì John Scott hẳn phải biết. Anh đi nhanh qua khung cửa, cố giữ không nở nụ cười ngốc nghếch - dù sao chăng nữa thì một người đã chết - rồi thấy một phụ nữ có vóc người thanh mảnh, khuôn mặt bầu bĩnh, đang đứng sau quầy phục vụ. Bà nhìn lên khi nghe tiếng động ở ngạch cửa, thoạt đầu tỏ vẻ kinh hãi rồi nhanh chóng trấn tĩnh.
John Scott đi vắng, nhưng Bà Scott tỏ ra khá hữu ích. Donald nhận thấy bà có vẻ lơ đãng, và cố giữ tập trung khi cho anh biết rằng Ông Sturrock đang cư ngụ trong nhà bà, và có lẽ lúc này đang ở đấy; bà không chắc.
“Anh cứ tự nhiên đến gặp. Người giúp việc đang ở đó...” Bà Scott bỏ lửng câu nói, như thể vừa nhớ ra điều gì. “Không, để tôi cho người đi báo tin, như vậy hay hơn.”
Bà đi qua cánh cửa sau. Qua khung cửa sổ, Donald nhìn lên đám mây trên bầu trời trông giống những mẩu phó mát, và nhớ lại làn môi dịu mềm của Susannah.
Thomas Sturrock có cung cách khiến cho Donald cảm thấy dễ gần - khi được nghe nói ông là Người Dò tìm, anh đã hình dung một người sống trong hoang dã với cử chỉ thô kệch và có tính khí khó chịu như anh đã từng chịu đựng ở Pháo đài, nhưng rồi anh ngạc nhiên và vui mừng thấy mình gặp một quý ông thanh lịch.
“Xin phép cho tôi được hỏi, làm thế nào ông đi đến việc làm cái nghề này?”
Hai người đang uống thứ cà phê đắng của Scott, ngồi trên hai chiếc ghế mà Bà Scott đặt gần bếp lò.
Sturrock nhìn vào chiếc cốc với vẻ thất vọng rồi mới trả lời: “Tôi đã từng làm qua nhiều việc, và đã từng viết về chủ đề nếp sống của người Da Đỏ, rồi có người biết được và yêu cầu tôi trợ giúp trong vụ một đứa bé bị bắt cóc. Tôi giúp được, thế là những người khác nhờ tôi giúp. Tôi không hề chuẩn bị làm nghề này, nó chỉ tự nhiên mà tới. Bây giờ thì tôi đã quá già với nghề này.”
“Còn món vật mà ông đến tìm, ông có chứng cứ gì bằng văn tự cho biết Jammet muốn giao nó cho ông không?”
“Không. Lần cuối cùng tôi gặp anh ấy thì anh không dự kiến mình sẽ bị giết.”
“Ông không biết anh ấy có những kẻ thù nào sao?”
“Không. Anh ấy có thể đòi giá cao, nhưng đó không phải là động cơ để giết chết một người.”
“Đúng, không thể nào.”
“Lần đầu tiên anh ấy cho tôi xem mẩu xương, tôi xin phép chép lại chữ khắc ghi trên đó, khiến cho anh ấy biết tôi quan tâm nên anh từ chối, và nói sẽ bán mẩu xương cho tôi.”
“Nhưng lúc ấy ông không mua nó à?”
“Không. Anh thấy đó, tôi không có tiền. Nhưng anh ấy đồng ý giữ nó cho đến khi tôi có thể trả tiền. Bây giờ tôi có tiền, nhưng, dĩ nhiên là...” - ông dang tay trong dáng điệu thất vọng - “tôi không biết nó ở đâu.”
“Tôi sẽ trao đổi với Ông Knox về chuyện này. Chúng tôi chưa tìm ra di chúc. Nếu ông Knox đồng ý, tôi dám nói là ông ấy sẽ bán nó cho ông. Đấy là, giả dụ chúng tôi tìm ra được nó.”
Thình lình Donald nghĩ ra mà thầm hỏi liệu có phải Sturrock đã đi tìm mẩu xương ấy hay không. Anh nhớ lại những dấu chân bên ngoài ngôi nhà gỗ. Ba loại dấu chân. Ba người đã đến ngôi nhà gỗ đêm qua.
“Anh Moody à, anh thật là rộng lượng. Tôi cảm ơn.”
“Vật đó là loại gì? Nó là thứ gì đó từ La Mã hay Ai Cập hở?”
“Tôi không biết chắc đó là cái gì. Có vẻ như không giống cái gì như vậy, vì lý do đó mà tôi muốn mua - tôi định mang nó đến người làm việc ở bảo tàng có kiến thức về những thứ như vậy.”
Donald gật đầu, tuy vẫn không hiểu rõ tại sao Sturrock quan tâm đến món này. Nhưng anh biết chắc một điều là nếu có người quan tâm đặc biệt đến một món vật, thì cần phải cảnh giác tìm hiểu. Liệu có phải Sturrock đã tìm đến và Jammet từ chối bán mẩu xương, nên Sturrock giết anh ấy? Hoặc liệu Sturrock đã bán mẩu xương cho ai khác? Dù là trong tình huống nào thì có vẻ như Sturrock không phải là kẻ sát nhân. Nhưng đúng là ông không tìm ra mẩu xương, vốn rõ ràng là có giá. Thế thì, bây giờ ai đang giữ mẩu xương này?
Donald rời cửa hàng sau khi Sturrock cho biết ông sẽ lưu lại Caulfield trong vài ngày tới. Anh tự hỏi tại sao mình không nhớ ra mà hỏi ông về hai đứa con gái nhà Seton - có lẽ vì anh thấy khó tin là con người có cử chỉ lịch thiệp này lại là người lừa đảo như nhà Knox mô tả. Anh tự hỏi - không phải là lần thứ nhất - có phải vì thiếu kinh nghiệm mà mình có ấn tượng tốt quá nhanh hay không. Anh có nên đặt nghi vấn thêm, giống như Mackinley, vốn phán xét con người dựa trên nguyên tắc, cho rằng chẳng sớm thì muộn họ sẽ làm ông thất vọng - và điều này thường là đúng, hay không?
Trên đường, anh gặp Maria đang mang một chiếc giỏ. Anh nhấc mũ chào, và cô mỉm cười nhẹ. Có vẻ như cô tỏ ra thân thiện hơn hồi sáng, nhưng anh không muốn bắt chuyện với cô nếu cô không lên tiếng trước.
“Chào anh Moody. Cuộc điều tra diễn tiến ra sao?”
“À, tiến triển chậm, cám ơn cô.”
Cô im lặng, như thể chờ cho anh nói tiếp, nên anh nói: “Tôi vừa trao đổi với Ông Sturrock.”
Cô không tỏ vẻ ngạc nhiên, chỉ gật đầu như thể đã đoán trước: “Rồi thì sao?”
“Tôi nghĩ ông ấy là người dễ mến. Có học, nhạy cảm... không giống như những gì tôi hình dung lúc đầu.”
“Tôi nghĩ ông ấy phải có vẻ dễ mến mới lừa đảo hết tiền của bác tôi - số tiền khá lớn, tôi tin là vậy.”
Donald hẳn phải nhíu mày suy nghĩ, bởi vì cô nói tiếp: “Tôi biết bác tôi vì quá tha thiết nên sẵn sàng làm bất cứ việc gì, nhưng người có danh dự đáng lẽ phải nói cho ông ấy hiểu là không có hy vọng tìm ra hai đứa con gái, vì vậy nên từ chối lấy tiền. Đáng lẽ về sau này cần phải tỏ ra tử tế hơn. Chứ cuối cùng, bác tôi vừa mất con cái vừa mất cả tiền bạc cho cuộc sống, và ông ấy... à, tuồng như đã tự hủy hoại đời mình. Đó là sau khi bác gái tôi qua đời. Tôi nghĩ nói ra chuyện này thì nghe kinh khiếp, nhưng... tôi vẫn đoán hai đứa trẻ đã bị chó sói ăn thịt. Những người khác cũng nói thế, và tôi nghĩ họ nói đúng. Nhưng hai ông bà bác của tôi không bao giờ chấp nhận chuyện đó.”
“Làm thế nào họ chấp nhận cho được?”
“Như vậy có tồi tệ hơn nhiều so với điều họ nghĩ hay không?”
“Tôi nghĩ cuộc sống, với bất kỳ giá nào... vẫn tốt hơn là cái chết.”
Maria nhìn anh với đôi mắt dò xét - như một nông dân đang đánh giá một con ngựa. Anh nghĩ cô sẽ không bao giờ tìm được một người chồng nếu đánh giá đàn ông như thế.
“Có lẽ đàn sói mang tới một số phận tồi tệ hơn là cái chết.” Câu nói sáo rỗng phát ra từ cửa miệng cô nghe như lời đùa cợt xấu xa.
“Thực sự chắc cô không nghĩ như vậy.” Anh cảm thấy ngạc nhiên vì mình đã có can đảm đối nghịch với cô.
Maria nhún vai: “Vài năm trước, có hai đứa trẻ chết đuối trong vịnh. Đó là một tai nạn kinh hoàng. Dĩ nhiên là cha mẹ chúng than khóc, nhưng vẫn sống tiếp. Bây giờ họ có vẻ hạnh phúc - cũng hạnh phúc như bất kỳ ai trong chúng ta.”
“Có lẽ vì không biết chắc đã xảy ra chuyện gì nên người ta khó chịu đựng được.”
“Như vậy lại khiến cho kẻ vô liêm sỉ lợi dụng niềm hy vọng, cho đến khi vơ vét hết sạch.”
Donald lại ngạc nhiên về lý lẽ của cô. Anh mơ màng nhớ lại lời của người cha, nói trong giọng điệu giảng giải: “Ý muốn gây sốc là tính trẻ con, rồi sẽ mất đi khi trưởng thành.” Tuy vậy, Maria không có vẻ gì là thiếu trưởng thành. Anh tự nhủ rằng mình không còn cần phải đồng ý với người cha nữa; hai người đã cách xa nhau qua hai lục địa.
Donald nói như chống chế: “Ông Sturrock không có vẻ như người giàu có.”
Maria nhìn qua phía sau Donald xuống con đường, rồi nhìn đến anh với nụ cười. Đôi mắt cô màu xanh, không giống như đôi mắt Susannah. “Chỉ vì anh thích ai đó nhưng không có nghĩa là anh tin tưởng được họ.” Rồi khẽ nghiêng đầu - như cách chế giễu phép lịch sự - cô bước đi xa khỏi anh.
Suốt cả buổi chiều còn lại và buổi tối, Donald xem xét qua mấy món sự sản của Jammet, nhưng cũng như những người trước, anh không thể tìm ra món gì liên quan đến cái chết của Jammet. Tất cả sự sản của Jammet được gom vào một chỗ khô ráo trong nhà kho, Jacob đã giám sát việc tom góp ở ngôi nhà gỗ vì lý do bảo vệ, và anh cùng Jacob xếp lại các món trong các thùng và hộp. Tất cả cộng lại thành tài sản nhỏ nhoi đến mức đáng ngạc nhiên. Donald cố không nghĩ đến việc tài sản của mình sẽ nhỏ nhoi ra sao khi các đồng nghiệp của anh sắp xếp nếu anh thình lình xa lìa cõi trần ai này. Chẳng hạn so với tình cảm sâu đậm anh dành cho Susannah thì mớ tài sản đó chẳng là gì cả. Anh dặn lòng mình phải viết thư cho cô ngay sau khi rời Caulfield - là chuyện phi lý, vì hai người vẫn còn ở chung mái nhà, và vì Donald đã quyết định chờ cho đến khi Mackinley và Knox quay về, thế thì anh còn lưu lại đây một hoặc hai ngày nữa.
Anh sẽ xin một tấm ảnh của cô, để lưu giữ. Dĩ nhiên, không phải là anh dự trù mình sẽ bị giết. Chỉ dự phòng thôi.
***
Khi tôi còn là đứa con gái nhỏ, khi cha mẹ tôi còn sống, tôi thường bị khổ sở bởi những sự kiện mà người ta gọi là “có vấn đề”. Tôi có nỗi sợ hãi đến tê liệt cả người khiến cho tôi không thể cử động được, thậm chí cũng không nói được gì. Tôi có cảm tưởng như đất đang dần trôi đi, và dường như tôi không thể tin cậy nơi mặt đất dưới chân mình - quả là một cảm giác đáng sợ. Các bác sĩ đo nhịp mạch cho tôi và nhìn vào mắt tôi rồi nói với tôi rằng cái chứng gì đó sẽ biến mất khi tôi trưởng thành (tôi nghĩ họ có ý nói đến hôn nhân). Tuy nhiên, trước khi có thể kiểm chứng giả thuyết này, mẹ tôi qua đời trong tình huống mù mờ. Tôi tin rằng bà tự tử, dù cha tôi bảo không phải. Bà đã dùng thuốc laudanum
[21]
quá liều, dù có chủ đích hay không. Tôi càng thêm khổ sở với các cơn sợ hãi cho đến lúc cha tôi không chịu được nữa mà đưa tôi vào - không cần quanh co về điểm này - bệnh viện tâm thần, dù cho nó có một cái tên lạ lùng chỉ bệnh viện chữa trị người bị suy nhược. Rồi cha tôi cũng qua đời, để lại tôi cho một người giám hộ thiếu tận tâm, thế là tôi được đưa vào một bệnh viện tâm thần công - đấy là tôi trung thực nói ra bản chất đích thực của bệnh viện này.
Trong bệnh viện tâm thần công, laudanum được sử dụng rộng rãi. Ban đầu người ta cấp thứ thuốc này cho các cơn hoảng loạn đến dại người, rồi cuộc sống tôi phải tùy thuộc vào nó, thay cho cha mẹ và bạn bè mình. Thuốc được dùng để trấn áp bệnh nhân gây rối, nhưng chẳng bao lâu tôi nhận ra rằng tôi thích được tự mình dùng thuốc, nên tôi dùng mưu mẹo để tìm cách lấy được thuốc. Tôi thấy dễ thuyết phục các nhân viên nam cấp thuốc cho mình, và vị Giám đốc - một anh trai trẻ duy tâm có tên Watson - tôi có thể nắm thóp anh ta. Một khi bạn đã quen làm việc gì thì bạn thường quên tại sao khởi đầu bạn làm việc ấy.
Sau đó, khi chồng tôi nghĩ thói quen của tôi là rào cản cho tình thân quen giữa hai chúng tôi thì tôi không dùng thuốc nữa. Hay nói đúng hơn, anh ném đi phần thuốc laudanum của tôi, khiến cho tôi phải chịu đựng mà không có thuốc. Anh là người duy nhất nghĩ rằng cần phải trải qua sự phiền hà đó. Đấy giống như là tỉnh táo lại sau cơn say xỉn dài, và trong một thời gian tôi cảm thấy tuyệt vời. Nhưng trong cơn tỉnh táo, bạn nhớ lại những gì mà bạn đã quên - chẳng hạn tại sao ban đầu bạn cần đến loại thuốc ấy. Trong những năm về sau, khi gặp chuyện khó khăn, tôi biết rõ tại sao mình đã bị nghiện thuốc, thế nên trong mấy ngày qua tôi đã nghĩ đến laudanum thường xuyên như là tôi nghĩ đến Francis. Tôi biết rằng mình có thể đi đến hiệu thuốc để mua. Tôi nghĩ đến việc này cả ngày lẫn đêm. Lý do duy nhất ngăn cản tôi là vì tôi là chỗ dựa duy nhất trên đời cho Francis. Và cho đến lúc này tôi chẳng giúp gì được cho nó cả.
Năm ngày sau khi Francis rời khỏi nhà, trong khi đang đi bộ dọc theo con đường mòn dẫn đến ngôi nhà gỗ của Jammet, tôi nghe một tiếng động phía trước. Một con chó chạy băng ngang đường tôi đi kêu ăng ẳng; một con chó tôi chưa từng biết, to lớn, lông bờm xờm, có vẻ hoang dại - loại chó kéo xe trượt tuyết. Tôi dừng lại: có ai đấy ở trong ngôi nhà gỗ.
Trên khoảnh đất cao phía sau ngôi nhà, tôi lẻn vào một lùm bụi để ẩn núp. Một con côn trùng cắn vào cổ tay tôi. Cuối cùng, một người đàn ông đi ra khỏi ngôi nhà gỗ và huýt sáo. Hai con chó chạy đến bên ông, kể cả con chó tôi đã trông thấy trên con đường mòn lúc trước. Tôi nín thở nơi ẩn núp, và khi gương mặt ông quay về phía mình, tôi cảm thấy ớn lạnh cả sống lưng. So với người Da Đỏ thì người này cao lớn, lực lưỡng hơn, mặc áo choàng màu lam có mũ trùm đầu, và quần may bằng da thú. Nhưng chính gương mặt của ông khiến cho tôi nghĩ đến người nhân tạo. Ông có vầng trán thấp và rộng, hai gò má nhô cao, sống mũi và miệng chúc xuống giống như mỏ chim ưng, tạo dáng dấp hoang dã và tàn bạo. Những nếp nhăn hằn sâu dưới làn da màu đồng hai bên miệng. Tóc đen và bù xù. Tôi chưa từng thấy người nào xấu xí đến thế - khuôn mặt như thể được một chiếc rìu cùn tạc từ một thớt gỗ. Nếu Cô Shelley
[22]
cần có một hình mẫu cho quái vật kinh khiếp thì con người này hẳn sẽ là nguồn cảm ứng hoàn chỉnh.
Tôi chờ đợi, không dám thở mạnh cho đến khi ông ta quay vào ngôi nhà gỗ, rồi tôi rón rén đi ra khỏi chỗ ẩn núp. Trong một chốc, tôi suy tính phải làm gì - đi về tìm Angus và kể cho anh nghe, hoặc phóng đến Caulfield mà báo cho Knox? Hôm nay tôi quyết định không đối diện với người này, bởi vì tôi lập luận rằng hắn là con người nguy hiểm. Dù nghĩ gì chăng nữa, tôi thấy khó mà tin rằng người có bộ mặt như thế lại không có tính chất dữ dằn và tàn bạo. Cuối cùng, tôi trở về và thấy Angus đang ở nhà. Anh im lặng nghe tôi kể, rồi cầm lấy khẩu súng trường đi xuống con đường mòn.
Sau này, tôi biết được rằng anh đã đi đến ngôi nhà gỗ và bước thẳng vào bên trong. Angus gọi ông, và với lời lẽ mà tôi tin chắc là lễ độ nói rằng anh sẽ đưa ông đến Caulfield, vì đây là hiện trường một vụ án mà ông ta không có quyền hiện diện nơi đó. Người đàn ông lưỡng lự nhưng không chống cự. Ông nhấc khẩu súng trường của mình rồi đi trước anh, qua gần năm kilômét để đến Vịnh. Angus dẫn ông đến tận cửa sau nhà Knox. Trong khi cả hai chờ đợi, người đàn ông lạ mặt nhìn ra Vịnh với thái độ kiêu hãnh, xa cách, như thể không màng người ta sẽ đối xử với mình ra sao. Đến khi Angus quay về nhà, người lạ mặt đã bị bắt giữ. Angus lấy làm tội nghiệp cho hai con chó mà Knox không muốn cho vào sân vườn ông, nên anh dẫn chúng về nhà, cho rằng chúng không làm phiền gì cả. Tôi nghĩ hẳn anh có cảm tình với người lạ mặt nên mới chịu khó như thế.
***
Andrew Knox ngồi đối diện Mackinley, hút dọc tẩu. Ngọn lửa trong lò sưởi soi rọi một ánh sáng màu cam ấm áp lên khuôn mặt hai người - ngay cả khuôn mặt Mackinley cũng bớt tái đi. Knox không thể chia sẻ niềm thỏa mãn hiển nhiên của Knox. Họ thẩm vấn người lạ mặt trong một tiếng đồng hồ mà không thu lượm được thông tin gì quan trọng ngoại trừ tên ông này là William Parker, người đặt bẫy thú rừng cùng với Jammet trước đây. Ông khai mình không biết Jammet đã chết, mà chỉ đi ngang qua, ghé thăm anh ấy và thấy ngôi nhà gỗ trống trơn, ông đã lục soát ngôi nhà để tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra.
Mackinley phá tan bầu im lặng: “Ông bảo kẻ sát nhân không quay lại hiện trường vụ án. Nhưng nếu ông ta muốn có các khẩu súng hoặc đại loại như thế, mà lần đầu tiên không tìm được, thì hẳn ông ta có thể chờ cho đến khi tình hình lắng dịu rồi quay lại để tìm kiếm lần nữa.”
Knox nhìn nhận sự thật này.
“Hoặc có lẽ ông ta đã bỏ quên vật gì đó và quay lại để tìm.”
“Chúng ta đã không tìm thấy món gì lúc trước không có ở đó.”
“Có lẽ chúng ta đã sai sót.”
Hai hàm răng Knox cắn lấy đường rãnh mòn trên cái dọc tẩu; đấy là cảm giác dễ chịu - hàm răng và cán ăn khớp hoàn toàn với nhau sau thời gian dài sử dụng. Mackinley đã quá vội kết án người đặt bẫy thú rừng, muốn giải quyết vấn đề dựa theo sự kiện thay vì ngược lại. Knox muốn vạch ra điểm này nhưng không nỡ xúc phạm niềm tự hào của Mackinley - dù gì đi nữa, Mackinley vẫn là người chủ trì.
“Có khả năng là ông ấy đúng như lời anh nói: chỉ là người đặt bẫy có quen biết với Jammet, và không biết anh kia đã chết.”
“Nhưng ai lại rình mò quanh một ngôi nhà hoang chứ?”
“Đó không phải là hành vi phạm tội - mà cũng không phải bất thường.”
“Hành vi không phạm tội nhưng khả nghi. Chúng ta phải suy diễn theo cách đúng nhất theo những gì ta có.”
“Chúng ta không có gì cả. Tôi không chắc ta có đủ cơ sở để bắt giữ ông ấy hay không.”
Knox khăng khăng cho rằng người đàn ông không phải là tù nhân nên phải được đối xử tử tế. Ông đã sai Adam mang một khay thức ăn đến kho chứa hàng nơi ông ấy bị cầm giữ, và đốt một đống lửa. Ông ghét phải yêu cầu Scott cho một đặc ân khác, nhưng cũng không thể cho phép giam giữ người đàn ông trong một căn phòng, dù là căn phòng được khóa kín, trong cùng ngôi nhà của người vợ và hai con gái. Dù cho người đàn ông đã giải thích, vẫn có nét gì đó trên gương mặt ông khiến tạo ra ý nghĩ đen tối và kinh hoàng. Nó gợi cho ông nhớ đến những gương mặt trong các cuộc chiến tranh với người Da Đỏ: những gương mặt được sơn màu vằn vện, phạm thánh, xa lạ.
Lần thứ hai họ mở khóa cửa kho chứa hàng, giơ cao ngọn đèn bão, để soi rọi người đàn ông ngồi bất động gần đống lửa. Ông không quay mặt lại khi cánh cửa mở ra.
Knox gọi: “Ông Parker ạ, chúng tôi muốn trao đổi với ông thêm.”
Họ ngồi trên những chiếc ghế đã được mang vào từ trước cho mục đích này. Parker không nói gì mà cũng không quay lại để đối diện với họ. Chỉ có hơi thở ông, được ngưng tụ thành lớp hơi nước mờ nhạt trên mặt, cho thấy đó là một người còn sống.
Mackinley hỏi: “Làm thế nào ông mang tên Parker?” Giọng điệu của ông nghe xúc phạm, như thể ông kết tội người đàn ông đã dối trá về tung tích của mình.
“Cha tôi là công dân Anh, Samuel Parker. Ông nội tôi cũng là người Anh.”
“Cha ông có phải là nhân viên Công ty không?”
“Suốt đời ông ấy làm việc cho Công ty.”
“Nhưng ông thì không.”
“Tôi thì không.”
Mackinley đang nghiêng người về phía trước, việc nhắc đến Công ty thu hút ông như là thỏi nam châm. “Ông đã từng làm việc cho họ chứ?”
“Tôi học việc. Bây giờ tôi làm nghề đặt bẫy.”
“Và ông giao dịch với Jammet?”
“Đúng.”
“Bao lâu rồi?”
“Nhiều năm rồi.”
“Tại sao ông rời Công ty?”
“Để không phải mang ơn ai.”
“Ông có biết Laurent Jammet đã là nhân viên của Công ty Bắc Mỹ không?”
Người đàn ông nhìn Mackinley, có phần thích thú. Knox liếc qua nhìn Mackinley - liệu Mackinley biết chuyện ấy qua người Pháp kia không?
“Tôi không giao dịch với công ty nào; tôi giao dịch với Jammet.”
“Ông có phải là nhân viên của Công ty Bắc Mỹ không?”
Lần này Parker cười lên khô khan: “Tôi không phải là nhân viên của công ty nào hết. Tôi đặt bẫy rồi bán lông thú, thế thôi.”
“Nhưng hiện giờ ông không có lông thú gì cả.”
“Hiện giờ là mùa thu.”
Knox đặt một bàn tay cảnh báo lên cánh tay của Mackinley, cố giữ giọng thân thiện và đúng lý: “Ông cần hiểu tại sao chúng tôi đưa ra những câu hỏi này - Anh Jammet gặp phải một cái chết tàn bạo. Có thể cần tìm hiểu những gì liên quan đến anh ấy, nhằm đưa hung thủ ra trước công lý.”
“Anh ấy là bạn tôi.”
Knox thở dài. Trước khi ông có thể nói thêm gì khác Mackinley lại hỏi: “Vào ngày và đêm mười bốn tháng Mười một - sáu ngày trước - ông ở đâu?”
“Tôi đã nói với ông rồi. Tôi đang đi từ Nhà Sydney về miền nam.”
“Có ai trông thấy ông không?”
“Tôi đi một mình.”
“Ông rời Nhà Sydney lúc nào?”
Lần đầu tiên người đàn ông ngập ngừng: “Tôi không ở tại Nhà Sydney, mà chỉ đi về hướng đó.”
“Nhưng ông đã nói là ông đang đi từ Nhà Sydney.”
“Tôi nói Nhà Sydney để các ông biết tôi đã ở đâu. Đó là hướng tôi xuất phát. Tôi đi trong rừng.”
“Ông đang làm gì ở đó?”
“Săn thú.”
“Nhưng ông đã nói bây giờ không phải là mùa lông thú.”
“Săn thú lấy thịt.”
Mackinley nhìn qua Knox và nhíu mày: “Đấy là việc bình thường vào mùa này trong năm hay sao?”
Parker nhún vai: “Bình thường vào bất kỳ mùa nào trong năm.”
Knox hắng giọng: “Cám ơn, Ông Parker. À... bây giờ chỉ có thế.” Ông cảm thấy ngượng ngùng về giọng nói của mình, nghe như giọng của một người già, cầu kỳ, cũng giống như đàn bà.
Hai người đứng dậy chuẩn bị ra về, rồi Mackinley quay lại người đàn ông ngồi bên đống lửa. Ông cầm cốc nước của mình từ chiếc khay rồi rót nước dập tắt đống lửa.
“Đưa cho tôi túi thuốc của ông.”
Parker nhìn Mackinley; ông này không chớp mắt. Đôi mắt của Parker mờ đục trong ánh đèn bão. Ông ra vẻ như muốn giết chết Mackinley ngay tại chỗ. Ông tháo chầm chậm chiếc túi từ cổ mình rồi trao cho Mackinley. Mackinley đưa tay đón nhận nhưng Parker không muốn buông tay ra.
“Làm thế nào tôi biết mình sẽ được nhận lại?”
Knox bước đến, nóng lòng muốn giải tỏa không khí căng thẳng: “Ông sẽ được nhận lại. Đích thân tôi sẽ lo việc này.”
Parker buông tay ra. Hai người bước ra ngoài, mang theo ngọn đèn bão và để cho người bị cầm giữ ở lại trong bóng tối và khí lạnh. Knox hé mắt nhìn lại khi đóng cánh cửa, nhìn thấy - hoặc ông chỉ tưởng tượng ra? - người mang hai dòng máu như là nét tối đen trong khoảng không tối đen.
Khi hai người quay về thị trấn im lìm, Knox hỏi: “Tại sao ông làm vậy?”
“Ông muốn hắn ta phóng lửa đốt chỗ ấy rồi tẩu thoát hay sao? Tôi biết rõ hạng người này. Họ không bứt rứt gì cả. Ông có thấy cách hắn nhìn tôi không? Như thể hắn muốn lột da đầu tôi ngay lúc đó.”
Ông giơ cao túi thuốc trước cây đèn bão - một chiếc túi nhỏ bằng da, được trang trí đẹp đẽ bằng hoa văn thêu. Bên trong là mọi thứ cần thiết cho người đàn ông sinh tồn - đá lửa, bùi nhùi, thuốc lá sợi, vài mẩu thịt khô. Nếu không có những thứ này trong hoang dã thì ông ta sẽ chết.
Mackinley hồ hởi: “Này, ông thấy thế nào? Ông ta đổi tình tiết để chúng ta không thể kiểm chứng nơi ông ta đã đi qua. Ông ta có thể đã ở Sông Dove tuần trước mà không ai biết được.”
Knox không nghĩ ra được điều gì để trả lời. Ông cũng cảm thấy có nhiều chuyện khả nghi vì Parker đã ngập ngừng - một khoảng hở đã hé lộ trong thái độ tự tin của người đàn ông; nhưng ông không biết phải nói gì.
Cuối cùng, ông nói: “Điều này không phải là bằng chứng.”
“Điều này chỉ lé lộ một phần. Ông thiên về giả thuyết là anh con trai làm việc đó hay sao?”
Knox thở dài, cảm thấy rất mệt mỏi, nhưng chưa đủ mệt nên không muốn về hùa: “Chuyện về Công ty Bắc Mỹ là như thế nào? Tôi chưa từng nghe.”
“Đó không phải là một công ty chính thức, nhưng có thể trở thành chính thức. André bảo tôi là Jammet có liên can. Ông ấy cũng thế. Các nhà buôn Canada gốc Pháp đang bàn bạc việc thành lập một công ty để đối nghịch với chúng ta. Họ được Mỹ hỗ trợ; thậm chí một số người Anh cũng có lợi ích trong chuyện này.”
Nét mặt Mackinley trở nên căng thẳng. Ông là người có tư tưởng trung thành giản đơn; ý nghĩ về người Canada gốc Anh chống lại Công ty khiến cho ông đau xót. Đối với Knox thì chuyện này không đáng ngạc nhiên lắm. Công ty luôn được những người giàu có ở London điều hành, phái các đại diện (mà họ gọi là gia nhân) đi thuộc địa để bòn rút tài nguyên. Đối với những người sinh tại Canada thì đấy là quyền lực từ nước ngoài, lo vơ vét cho đến khi mảnh đất cạn kiệt, chỉ ban phát lại chút cơm thừa cá cặn.
Ông chọn lựa ngôn từ một cách thận trọng: “Thế thì Jammet có thể bị xem là kẻ thù của Công ty Vịnh Hudson phải không?”
“Nếu ông có ý nói một nhân viên Công ty có thể giết anh ấy... thì tôi xin ông tin chắc rằng không bao giờ có chuyện đó.”
“Tôi không có ý nói gì cả. Nhưng nếu đúng như vậy thì chúng ta không thể làm ngơ. Jammet quan hệ mật thiết ra sao với Công ty Bắc Mỹ đó?”
“Ông ta không biết. Chỉ biết trước kia Jammet đề cập chuyện này.”
“Có chắc là André đang ở Sault khi Jammet bị giết?”
“Theo bà chủ nhà thì ông ấy nằm trong một góc bar, không biết trời trăng gì. Ông ấy không thể nào giết Jammet ở Sông Dove cùng lúc đó.”
Knox cảm thấy bứt rứt dồn dập vì những sự kiện diễn ra trong buổi tối. Vì thái độ nhiễu sự và cả quyết của Mackinley, vì sự hiện diện quê kệch và mạnh mẽ của người bị cầm giữ, thậm chí vì anh chàng Jammet bất hạnh và cái chết nhếch nhác của anh này. Cộng đồng non trẻ ở Caulfield vẫn luôn an bình, không có nhà tù và chưa bao giờ cần đến nhà tù. Bây giờ, trong ít ngày qua, ở đâu ông cũng nhìn thấy bạo lực và nỗi chua cay.
Vợ ông vẫn còn thức khi ông đi lên lầu. Ngay cả khi người đàn ông tên Parker đã mất dạng, ông này vẫn còn làm vướng bận tâm trí mọi người. Tên sát nhân có thể đang lảng vảng trong thị trấn, chỉ ngăn cách với họ bởi mấy bức tường bằng ván gỗ mỏng. Người đàn ông ấy có vẻ gì đó khiến cho người ta dễ dàng tin rằng ông có tội. Dĩ nhiên là ông ấy không thể làm gì với dung mạo của mình, và không nên bị phán xét theo bề ngoài. Liệu ông có đang làm thế hay không?
Trong khi thay quần áo, ông nhận xét: “Có người dễ làm cho ta thấy khó ưa.”
“Anh đang nói đến người bị cầm giữ, hay là ông Mackinley?”
Knox cố ghìm giữ nụ cười. Ông nhìn vợ và thấy bà có vẻ mệt mỏi: “Em ổn chứ?”
Ông thích mái tóc bà gợn sóng được thả lỏng, cũng có màu nâu bóng như khi họ cưới nhau. Bà lấy làm hãnh diện với mái tóc mình, mỗi đêm đều dành năm phút để chải cho đến khi tóc gẫy và bám vào chiếc lược.
“Em định hỏi anh cùng câu hỏi ấy.”
“Anh ổn. Anh mong chuyện này chóng xong xuôi. Anh yêu thích Caulfield khi nó an bình và nhàm chán.”
Bà nhích vào trong khi ông nằm lên giường giữa hai tấm chăn: “Anh có nghe tin tức gì khác không?”
Qua giọng bà, ông có thể đoán ra rằng đấy không phải là tin vui. “Tin tức khác à? Tin gì thế?”
Bà thở dài: “Sturrock đang ở đây.”
“Sturrock Người Dò tìm hở? Ở Caulfield?”
“Vâng. Anh Moody đã gặp ông ấy. Có vẻ như ông ấy quen biết Jammet.”
“Trời đất!” Ông không bao giờ thôi ngạc nhiên bởi những gì bà vợ nghe qua từ lời đồn đại. Ông nhỏ nhẹ lặp lại: “Trời đất!” Ông nằm xuống, bao nỗi hồ nghi vẫn đọng đầy trong trí óc. Ai lại nghĩ Jammet có nhiều mối quan hệ vô hình như thế? Một mãnh lực kỳ lạ lan rộng từ ngôi nhà gỗ trống trơn, lôi kéo những người khó tin và khó ưa đến Caulfield để tìm kiếm cái gì không ai biết. Trong mười năm ông chưa gặp lại Thomas Sturrock, kể từ một thời gian ngắn trước khi Charles qua đời. Ông đã cố quên lần gặp gỡ ấy. Bây giờ ông không thể nào nghĩ đến một lý do vô thưởng vô phạt khiến cho Sturrock hiện diện ở đây.
“Anh có nghĩ ông ấy là kẻ giết người không?”
“Ai?” Trong một khoảnh khắc, ông không nhớ bà đang nói đến ai.
“Còn ai nữa! Dĩ nhiên là người bị cầm giữ. Anh có nghĩ ông ấy đã làm điều đó không?”
Knox nói: “Em ngủ đi.” Rồi ông hôn bà.
***
Vào ngày trước khi họ ra về, Donald dành thời giờ quý báu để xem qua cửa hàng của Scott nhằm tìm một món quà cho Susannah. Anh định mua cho cô một cây bút mực; tuy nó là món quà chia tay thích hợp, nhưng có thể cô thấy đó là lời nhắc nhở lộ liễu về lời hứa sẽ viết thư cho anh. Không có nhiều thứ để lựa chọn, cuối cùng anh mua một chiếc khăn tay thêu, bỏ qua ngụ ý rằng anh nghĩ cô sẽ khóc khi xa anh - có lẽ cô sẽ không nghĩ đến điều này.
Chiều hôm ấy, Susannah thơ thẩn nhiều tiếng đồng hồ trong phòng đọc sách của gia đình, chờ cho Donald gặp cô do tình cờ, trong khi lật qua một quyển sách. Cô có cơ hội đọc xong cả quyển sách cho đến lúc anh nhận biết chuyện gì đang diễn ra, nhưng cô không đọc xong; phần lớn các tiểu thuyết trong phòng đều gây nhàm chán, được chọn lựa bởi cha cô khi còn trẻ, hoặc bởi Maria vốn có sở thích lạ kỳ. Donald nghe tiếng ho của cô, và rón rén mở cánh cửa, giữ một tay sau lưng.
“Chúng tôi sẽ ra về ngày mai, trước khi trời sáng, nên chúng tôi không thể từ giã cô lúc đó.”
Cô vội đặt xuống quyển sách về đề tài câu cá và nghiêng người nhìn Donald: “Không có anh thì ở đây sẽ buồn tẻ.”
Donald mỉm cười, quả tim muốn nổi loạn trong lồng ngực: “Tôi mong cô không cho là tôi quá tự tiện, nhưng tôi mua cho cô món này. Tôi muốn tặng cô món gì đó trước khi ra về.”
Anh giơ ra một chiếc hộp nhỏ, được gói trong giấy dầu của cửa hàng và được cột lại bằng ruy băng.
Susannah mỉm cười, tháo chiếc hộp, mở ra chiếc khăn tay: “Ôi, đẹp quá! Anh Moody, anh thật là tử tế.”
“Xin gọi tôi là Donald.”
“Ôi, Donald. Cảm ơn anh nhiều. Tôi sẽ giữ nó luôn bên mình.”
“Tôi thấy không có vinh dự nào lớn hơn.”
Anh suýt nói ra rằng anh ghen tị biết bao với chiếc khăn tay, nhưng anh mất tự tin, có lẽ như thế là điều may. Anh không biết Susannah đã có một chiếc khăn tay giống như thế, mua ở cùng cửa hàng, được một anh trai trẻ tặng năm trước. Nhưng bây giờ Susannah đang ửng hồng đôi má, trông như cô đang rạng rỡ từ bên trong.
“Bây giờ tôi thấy ngượng vì không có gì tặng anh để đáp lại.”
“Tôi không mong được đáp lại gì cả.” Anh suýt dám nói ra rằng mình muốn có một nụ hôn, nhưng lại không đủ can đảm. “Chỉ cần thỉnh thoảng cô biên thư cho tôi, nếu cô không quá bận.”
“À vâng, tôi sẽ viết thư cho anh. Và có lẽ, nếu không quá bận, anh có thể thỉnh thoảng gửi thư cho tôi.”
“Mỗi ngày!” Anh đã nói ra một cách khinh suất.
“Ôi, tôi nghĩ anh sẽ quá bận. Tôi chỉ mong việc này sẽ không... nguy hiểm.”
Những phút còn lại trong phòng đọc sách trôi qua trong không khí mê mẩn ngọt ngào. Donald không biết nói gì thêm, nhưng nhận ra rằng quả bóng đang ở bên phần sân mình, và cuối cùng anh thu hết can đảm để nắm lấy bàn tay cô. Rồi có ai đó đánh lên tiếng kẻng trong tiền sảnh - hiệu báo giờ dùng bữa tối - và cô thu bàn tay về, nếu không thì ai biết được chuyện gì kế tiếp sẽ diễn ra. Chỉ nghĩ đến đó là anh đã cảm thấy quay cuồng.
Chỉ có hai con đường rời khỏi Sông Dove: hướng nam đi về vịnh, hoặc hướng bắc dọc theo con sông qua khu rừng. Jacob chọn con đường mòn vượt quá trang trại Price. Angus Ross đã bảo họ ông thấy những dấu hiệu là Francis đã đi qua Hồ Swallow, và Jacob chỉ dừng lại để xem xét dấu vết xem đó có phải là dấu vết của Francis hay không. Con đường mòn thoáng đãng; họ bước nhanh, đi qua hồ nước sau giữa trưa. Jacob quỳ xuống để xem xét gần hơn.
“Dấu vết đã cũ vài ngày, nhưng có hơn một người đàn ông đi qua đây.”
“Cùng lúc hay sao?”
Jacob nhún vai.
“Có thể là nhà buôn người Pháp đó. Ông ta đi qua đây phải không?”
“Hơn một người đàn ông đi theo hướng này: hai loại dấu chân, kích thước khác nhau.”
Họ đi thêm vài dặm theo dấu chân. Đến một nhánh sông hợp lưu với hồ nước, dấu mòn rẽ về hướng tây và nối tiếp theo đó, qua vùng đất đá không có dấu chân người. Donald bước theo Jacob vì nghĩ anh này biết phải làm gì, rồi nhẹ nhõm khi thấy một khoảnh đất gần dòng nước, nơi các dấu chân ép lá cây và rêu xuống mặt bùn.
“Người này đã đi bộ cả sáu, bảy ngày. Đã mệt mỏi và đói. Tôi nghĩ ta nên đi nhanh hơn. Ta có thể bắt kịp.”
“Nhưng hắn đi đâu? Đường này dẫn đến đâu?”
Jacob không biết. Dấu mòn vẫn nối dài, ngoằn ngoèo qua rừng cây dọc con sông, luôn dốc cao lên, nhưng không có dấu hiệu cho thấy nó dẫn đến đâu ngoại trừ đi vào vùng hoang dã mênh mông.
Họ dừng lại để nghỉ trong khi còn ánh nắng. Jacob chỉ cho Donald cách chặt cành cây để làm chỗ trú. Dù đã sống ở Canada hơn một năm, đây là lần đầu tiên Donald nếm trải cuộc sống bản địa, và anh vui vì bao điều mới lạ. Anh đang xóa đi quá khứ và vỏ bọc mọt sách, cầu kỳ, để cuối cùng trở thành con người của hành động, con người gian truân vùng biên cương, nhà Phiêu lưu đích thực của Công ty. Anh thích thú nghĩ đến lúc kể lại kinh nghiệm của mình cho đám đàn ông ở Pháo đài Edgar.
Sau khi họ dựng chỗ trú rồi đốt đống lửa và Jacob dọn món cháo bắp nấu với thịt, Donald ngồi gập người bên đống lửa, lấy giấy bút ra biên thư cho Susannah. Anh chưa nghĩ đến việc gửi lá thư cho cô bằng cách nào, nhưng đoán có cư dân sống dọc đường để nhờ gửi đi. Anh viết “Susannah thân mến” rồi dừng lại. Liệu anh có nên mô tả dấu mòn hôm nay, khu rừng với tán lá xanh đậm và vàng chói, những tảng đá màu tím nhạt dưới lớp rêu sáng loáng, cách thu xếp chỗ ngủ? Anh bác bỏ các chi tiết này vì e cô sẽ thấy chán ngắt, rồi viết “Quả là điều thú vị nhất...”, rồi không hiểu sao sức nóng của ngọn lửa khiến anh ngã ra bất tỉnh, đến nỗi Jacob phải xốc anh lên cho tỉnh lại và đặt anh ngồi dưới mái lá bulô, nhưng anh lại ngã ra trên các cành cây linh sam. Cơn kiệt sức ập đến người anh như búa bổ, và anh quá mệt nên không thấy vầng trăng đang soi rọi tạo những bóng tối thần tiên trên cành cây kẽ lá. Chắc chắn là anh quá mệt nên không thấy Jacob đang quan sát những tinh thể băng sáng lòa chung quanh, và nhíu mày suy tư.
***
Qua nhiều năm tôi đã gầy dựng được một bộ sưu tập sách hay tuy rằng gò bó về chủ đề, và tôi đã cho Ida mượn một số sách. Không như bà mẹ, cô bé lấy làm cảm kích và có vẻ như cảm động vì tôi đã tin tưởng cô mà cho mượn những thứ quý giá như thế. Nhưng bây giờ, dường như đầu sách quý giá nhất vẫn không quan trọng. Một trong những quyển sách tôi cho cô bé mượn là từ điển, quyển sách mà tôi quý trọng cả hai mươi năm. Tôi đã giữ quyển từ điển này bên mình khi ở trong bệnh viện tâm thần để bù lại phần giáo dục bị dở dang, nhưng Ida đặc biệt xin mượn vì nhà Pretty chưa hề trông thấy quyển sách nào như thế.
Mẹ tôi cho tôi quyển từ điển ấy một thời gian ngắn trước khi bà qua đời, như là để đền bù cho nỗi mất mát diễn ra sau đấy. Bạn có thể nghĩ đây chỉ là phần đền bù nhỏ bé, nhưng nó không phải hoàn toàn vô dụng. Tôi ghét gặp phải những từ ngữ trong sách mà mình không hiểu rõ nghĩa nên vẫn kiên trì tra cứu những từ này: “trong trẻo”, “lắm điều”, “được hàm ý”
[23]
. Tôi tra cứu từ “tự tử” sau khi mẹ tôi qua đời. Tôi nghĩ việc này có thể giúp tôi hiểu được tại sao bà làm thế. Định nghĩa là chuẩn xác và súc tích, là hai tố chất mà bà không có. “Hành động tự hủy diệt” nghe như là cố tình và quá khích, trong khi mẹ tôi có tính mơ mộng và hiền hòa, thường đãng trí. Tôi hỏi cha tôi, để xem ông có thể giải thích được không - tôi đoán ông hiểu rõ bà trong khi tôi còn hoang mang. Ông quát tháo và huyên thuyên rằng đấy là việc càn bậy - mẹ tôi hẳn không bao giờ làm thế, thậm chí mới nghĩ đến việc này đã là tội lỗi. Thế rồi, ông khóc, khiến cho tôi bối rối cùng cực. Tôi vòng tay ôm lấy ông, cố an ủi trong khi ông nức nở. Sau một hoặc hai phút, hai cha con đứng bên nhau trong trạng thái vờ vịt của tình phụ tử vốn không tạo bất kỳ sự khác biệt nào - một hoặc hai phút mà tưởng chừng kéo dài cả giờ - rồi tôi buông ông ra mà bước khỏi phòng. Có vẻ như ông không để ý.
Tôi nghĩ cả hai cha con tôi đều không hiểu nhiều về bà.
Sau này, tôi nhận ra rằng cha tôi tức giận bởi vì tôi đã đoán ra sự thật. Giờ đây, gần đến tuổi của mẹ tôi khi bà qua đời, tôi không biết mình đã thành công trên đường đời ra sao: đứa con độc nhất của tôi đã bỏ nhà ra đi trong những tình huống kinh khủng, và rõ ràng là tôi không thể đổ lỗi mọi chuyện cho dòng máu Ireland của nó. Tôi đã dự phần trong số mệnh của nó, mà tôi chưa biết sẽ tổn hại ra sao.
Tôi cảm thấy nhẹ nhõm phần nào khi trò chuyện cùng Ida. Hôm nay, cô bé tươi vui hơn; lại thêm hương vị ngồi lê đôi mách về người đàn ông bị cầm giữ trong kho chứa hàng. Ida nhại lại thái độ mặt sưng mày sỉa của Scott khi cho phép sử dụng một phần bất động sản quý giá của ông cho mục đích như thế. Cô bé cũng dặm thêm một ít chi tiết thú vị - các anh cô đã tìm thấy dấu hiệu cho biết người đàn ông này đã đi ngang trang trại của họ trên đường đến ngôi nhà gỗ của Jammet, như thế có nghĩa là ông đã đi từ hướng bắc. Nghĩa là có thể ông đã gặp Francis. Nghĩa là tôi nên đi dọ hỏi ông, cho dù ông là kẻ giết người chăng nữa.
Cô bé cũng nhắc đến Thomas Sturrock, người đang ngụ trong nhà Scott. Liệu tôi có biết rằng ông này là Người Dò tìm nổi tiếng nhưng đã thất bại trong vụ hai cô con gái nhà Seton? Cả thị trấn đang kháo nhau về ông. Tôi gật đầu một cách mập mờ, và nói tôi chưa từng nghe gì cả. Tôi thắc mắc tại sao ông không nhắc đến vụ kia khi chúng tôi trao đổi với nhau về vụ án mạng ở đây. Lại thêm một trường hợp mà tôi là người biết sau cùng.
Tôi đã đoán trước Knox sẽ kiếm chuyện rầy rà vì tôi muốn tiếp xúc người bị cầm giữ. Ông cho rằng tôi sẽ không thu lượm được gì, rằng họ đã cật vấn ông, rằng việc này gây bất lợi, rằng việc này là không phù hợp, và cuối cùng, rằng việc này là nguy hiểm. Tôi vẫn giữ thái độ đúng lý. Tôi biết nếu mình kiên trì thì ông sẽ nhượng bộ, và đúng là ông nhượng bộ sau nhiều cái lắc đầu và nhiều tiếng thở dài. Tôi trấn an ông là tôi không sợ ông ấy, dù cho ông ấy trông dễ sợ đến đâu - ông ấy sẽ chịu thiệt nếu có thái độ không hay (ngoại trừ khi đã bị kết tội, khi tôi đoán ông bị kết tội trong bao nhiêu vụ án mạng thì vẫn thế, nhưng tôi không nói ra suy nghĩ này). Dù sao chăng nữa, Knox kiên quyết phái gia nhân của ông đi với tôi, với lời căn dặn phải ngồi ở cửa kho chứa hàng và để mắt trông chừng mọi việc.
Adam mở khóa cửa kho chứa hàng; lúc này một ít hàng hóa khô bên trong đã được thu dọn đi để người bị giam giữ có nhiều khoảng trống. Có hai cửa sổ gần trần nhà tạo cơ hội trốn thoát nhỏ nhoi, nhưng ông ngồi gục đầu trên một tấm nâng hàng và không quan tâm khi cửa mở. Có lẽ ông đang ngủ - chỉ cựa mình khi Adam gọi ông, rồi chậm chạp ngồi lên, kéo một tấm chăn mỏng quanh người. Không có lửa sưởi ấm; có vẻ như bên trong lạnh khắc nghiệt hơn và thấm sâu hơn so với bên ngoài.
Tôi quay qua Adam: “Các anh định để cho ông ấy chết cóng hay sao?”
Adam lẩm bẩm - nghe như là việc đốt trụi tất cả chúng tôi - và tôi ra lệnh cho anh đi tìm ít viên đá nóng để hơ chân, và ít cà phê. Adam ngạc nhiên nhìn tôi: “Tôi không được phép rời khỏi bà.”
“Đi tìm ngay. Đừng có nhố nhăng; chúng tôi không thể ngồi nói chuyện ở đây trong cái lạnh như thế này. Tôi chắc chắc sẽ ổn cho đến khi anh quay lại.” Tôi trừng mắt nhìn anh một cách nghiêm khắc cho đến khi anh quay đi, luống cuống khóa lại cánh cửa sau khi bước ra ngoài.
Người bị giam giữ không nhìn đến tôi, mà ngồi như tượng đá. Tôi kéo một chiếc ghế đến gần tấm nâng hàng và ngồi xuống. Tôi lo lắng nhưng cố không lộ trên nét mặt. Nếu muốn ông giúp thì tôi nên ra vẻ như mình tin cậy nơi ông. Rốt cuộc, tôi đã suy nghĩ phải ăn nói ra sao với ông.
“Ông Parker ạ, tên tôi là Bà Ross. Tôi đến đây để nhờ ông giúp đỡ. Tôi xin lỗi đã lợi dụng việc ông bị... cầm giữ.”
Ông không nhìn tôi mà cũng không tỏ vẻ rằng tôi đang hiện diện ở đấy. Tôi chợt nghĩ ra rằng có lẽ ông lãng tai.
Tôi tiếp tục, lần này nói lớn hơn: “Ông Parker, tôi được biết ông đi từ phía bắc, ngang qua Hồ Swallow, phải không?”
Sau một chốc, ông nói nhỏ nhẹ: “Chuyện này liên quan tới bà ra sao?”
“Chuyện là thế này: tôi có một đứa con trai, Francis. Bảy ngày trước nó đi khỏi nhà. Tôi nghĩ nó đi về hướng bắc. Nó không quen biết ai ở đấy. Tôi đang lo lắng. Tôi muốn hỏi ông đã trông thấy dấu hiệu nào...? Nó chỉ mười bảy tuổi. Nó có... tóc đen. Người hơi mảnh khảnh.”
Chỉ có thế. Không thể nói cách nào khác, và dù sao chăng nữa tôi thấy cổ họng mình thắt nghẹn đến mức tôi không chắc mình nói được thông suốt.
Có vẻ như Parker đang suy tư: khuôn mặt ông không còn trông lạnh lùng như trước, và đôi mắt đen của ông nhìn thẳng vào mắt tôi: “Bảy ngày trước hả?”
Tôi có thể tự trách mình. Đáng lẽ tôi phải nói tám. Hoặc chín. Tôi gật đầu.
“Và người ta tìm thấy Jammet sáu ngày trước.”
“Ông Parker ạ, con tôi không giết anh ấy.”
“Làm sao bà biết được?”
Tôi cảm thấy cơn giận dữ dâng trào với lời lẽ hạch sách của ông. Dĩ nhiên là tôi biết. Tôi là mẹ của nó mà. “Tôi còn giống như là bạn thân thiết của nó.”
Lúc ấy, Parker có thái độ bất ngờ: ông bật cười. Giống như giọng nói, tiếng cười của ông trầm trầm và khô khan, nhưng không phải khó chịu. “Tôi cũng là bạn thân thiết của Jammet. Tuy vậy, có vẻ như Ông Knox và Ông Mackinley nghĩ tôi giết anh ấy.”
Tôi bị lùi vào thế thụ động vì câu nói này. “À... tôi đoán họ không hiểu rõ ông. Nhưng tôi nghĩ một người vô tội sẽ làm hết sức mình để giúp đỡ một phụ nữ trong hoàn cảnh của tôi. Việc làm này sẽ xác định người ấy có tư cách tốt.”
Liệu tôi đang tưởng tượng, hoặc đúng thực là ông đang mỉm cười? Đôi môi ông xoắn lại một tí: “Thế thì nếu tôi giúp bà, bà nghĩ Ông Mackinley sẽ thả tôi ra hay không?”
Tôi không thể nói ông đang mỉa mai hay không, “Ông Parker ạ, việc này tùy thuộc vào những tình huống mà tôi không biết gì hết, chẳng hạn như ông có phạm tội hay không.”
“Tôi không phạm tội. Bà có phạm tội không?”
“Tôi...” Tôi không biết nói gì cho thông suốt. “Tôi tìm thấy anh ấy. Tôi trông thấy những gì đã gây ra cho anh ấy.”
Bây giờ, ông có vẻ thực sự ngạc nhiên. Tôi có cảm tưởng xác đáng rằng ông muốn biết tôi đã trông thấy những gì. Và, tôi nghĩ nhanh trong đầu, nếu ông muốn biết, thì có lý do cho rằng ông không phải là hung thủ.
“Bà tìm thấy anh ấy hả? Họ không cho tôi biết chuyện xảy ra như thế nào.”
Nếu ông nói dối, thì quả thực ông đóng kịch rất tài tình, ông nghiêng người về phía trước. Tôi cố gắng không nghiêng người tránh ra xa, nhưng khuôn mặt của ông trông kinh khiếp. Tôi có thể cảm nhận cơn giận dữ toát ra từ ông.
“Kể cho tôi bà đã trông thấy những gì. Rồi tôi có thể giúp bà.”
“Tôi không làm thế được. Tôi không thể mặc cả với ông.”
“Vậy thì tại sao tôi phải giúp bà?”
“Tại sao ông không chịu giúp?”
Thình lình ông đứng dậy, bước nhanh đến bức tường của kho chứa hàng - chỉ vài bước, nhưng tôi nao núng trước khi trấn tĩnh lại được, ông thở dài. Có lẽ ông đã quá quen với việc người ta sợ ông. Tôi thắc mắc Adam đang ở đâu với cà phê - có vẻ như anh ta đã đi hàng tiếng đồng hồ.
“Tôi là đứa con hai dòng máu, bị kết tội giết một người da trắng. Bà có nghĩ họ quan tâm đến tình tiết tôi là bạn anh ấy không? Bà có nghĩ họ tin vào những lời tôi nói không?”
Parker đang đứng trong một vùng tối của kho chứa hàng, và tôi không thể nhìn rõ nét mặt ông. Rồi ông quay lại tấm nâng hàng: “Tôi mệt mỏi rồi. Tôi sẽ cố nhớ lại. Ngày mai bà hãy hỏi tôi.”
Ông nằm xuống trên chiếc giường, kéo tấm chăn lên người, quay lưng về phía tôi.
“Ông Parker ạ, tôi xin ông suy nghĩ về chuyện này.” Tôi không chắc mình biện luận có kết quả. “Ông Parker...?”
Khi Adam quay lại, tôi đang đứng chờ bên trong cánh cửa. Anh nhìn tôi với vẻ kinh ngạc, bình cà phê bốc hơi như là một núi lửa bé tí trong không khí ẩm ướt.
Tôi bảo anh: “Ông Parker và tôi đã trao đổi tạm xong. Nhưng anh cứ để cà phê lại đây.”
Adam có vẻ không vui nhưng vẫn làm theo lời tôi, thận trọng đặt cái bình và chiếc cốc một khoảng cách xa khỏi ông.
Và có vẻ như mọi việc là thế.
***
Đôi lúc Andrew Knox ước gì mình không phải là người lớn tuổi danh giá trong cộng đồng. Khi nghỉ hành nghề luật sư, ông thoát khỏi mấy kẻ luôn nài nỉ ông lập lại trật tự cho cuộc sống rối rắm, lôi thôi của họ. Mấy kẻ dối trá và lừa đảo nhưng vẫn nghĩ rằng thế gian đang toa rập chống lại họ, rằng dù họ đã gây bất công cho người khác, những phiền lụy của họ không phải là do chính họ gây ra. Và như thể chưa đủ trong khi cả thị trấn đang xôn xao vì khả năng kẻ sát nhân đang lẩn khuất gần đâu đó, thì đến phiên John Scott tìm đến phòng đọc sách của Knox, yêu sách lấy lại kho chứa hàng, hoặc đòi phải được đền bù thỏa đáng vì đã dành tòa nhà để sử dụng cho lợi ích của thị trấn - theo cách ông nói - nếu không ông sẽ đưa vấn đề lên chính phủ. Knox chúc cho ông được may mắn. Và Mackinley không vội vã ra về - Knox nghi ông này muốn tự mình thu được lời thú tội hầu có thể mang phạm nhân đi diễu hành như là chiến lợi phẩm. Knox bị kẹt giữa mấy kẻ đầy tham vọng và không còn muốn dính dáng đến họ.
Và rồi còn có vụ việc liên quan đến Sturrock, mà ông không thể làm ngơ.
Mary gõ cửa, nói rằng Bà Ross muốn gặp ông - lần nữa. Người phụ nữ này không muốn để cho ông yên. Ông gật đầu và thầm thở dài - ông có cảm tưởng nặng trĩu là nếu bị từ chối, bà ta sẽ đứng chờ mãi bên ngoài hành lang hoặc thậm chí ở ngoài đường.
Bà bắt đầu trước khi kịp đóng lại cánh cửa: “Ông Knox...”
“Bà Ross, tôi tin cuộc trao đổi của bà có ích chứ?”
“Ông ấy không chịu trao đổi. Nhưng ông ấy biết chuyện nào đấy. Ngày mai tôi phải trở lại.”
“Tôi không thể cho phép bà làm như thế, bà thấy...”
“Ông ấy không làm chuyện đó.”
Giọng bà nghe chắc nịch đến nỗi ông trân trối nhìn bà, há hốc miệng, rồi mới nhớ ra mà ngậm miệng lại.
“Điều gì khiến cho bà tin chắc như vậy? Trực giác của phụ nữ hay sao?”
Bà mỉm cười với vẻ mỉa mai - thái độ khó chịu nơi một phụ nữ: “Ông ấy muốn biết Jammet chết như thế nào. Ông ấy không biết. Và tôi tin chắc ông ấy biết điều gì đấy về Francis. Nhưng ông ấy không tin tưởng Ông Mackinley sẽ công tâm đối với một người... có hai dòng máu.”
Knox nghi là Parker cũng không tin mình, nhưng vì phép lịch sự mà bà không nói ra.
“Có lẽ bà cũng biết ông ấy đã làm gì ở ngôi nhà gỗ của Jammet chứ?”
“Tôi sẽ hỏi ông ấy.”
Knox nhíu mày. Toàn bộ vụ việc đang vượt khỏi tầm kiểm soát. Ông quên rằng chỉ mới phút chốc trước ông đã muốn thoát ra khỏi các trách nhiệm, nhưng bây giờ vợ của một nông dân muốn tháo bỏ trách nhiệm cho ông thì vô lý hết sức.
“Tôi lấy làm tiếc, việc này là không được. Chúng tôi đang dự định chuyển người bị giam giữ đi nơi khác càng sớm càng tốt. Chúng tôi không thể để bất kỳ ai đến nói chuyện với hắn tùy thích.”
“Ông Knox...” Bà bước một bước đến gần ông, gần như là (nếu bà là đàn ông) dọa nạt ông: “Con trai tôi đang ở trong rừng mà nhân viên Công ty có thể không truy tìm được. Nó có thể đi lạc đường. Nó có thể bị thương. Nó là con tôi và nếu ông ngăn chặn tôi tìm ra theo bất kỳ cách thức nào có thể được, có lẽ ông sẽ chịu trách nhiệm đối với cái chết của nó.”
Knox phải cố gắng để không phải bước lùi lại. Có một vẻ gì đó nơi bà - hoặc có lẽ cảm nhận về sự yếu kém của mình mà người phụ nữ cao lớn này khơi gợi. Khi nhìn thấy đôi mắt sắt đá của bà - đôi mắt của màu xám kỳ lạ và tính cứng cỏi - ông nhận ra bà có ý chí mãnh liệt.
“Tôi vẫn nghĩ rằng ông, hơn cả mọi người khác, hiểu tình cảnh ra sao nếu mất một đứa con. Liệu ông sẽ từ chối giúp đỡ tôi dù cho có thể giúp đỡ hay sao?”
Knox thở dài, cảm thấy tức giận vì bà đã sử dụng thảm kịch nhà Seton để gây sức ép cho mình, nhưng ông cũng nhận ra rằng vì thế mà mình sẽ nhượng bộ. Chỉ cần anh con trai đi lạc thì hậu quả sẽ rắc rối đến nỗi ông không dám nghĩ tới. Và có lẽ Mackinley không cần phải biết. Nếu ông cẩn trọng thì không ai cần phải tìm hiểu.
Ông bảo bà quay lại sáng sớm hôm sau, rất sớm, khẩn cầu bà phải giữ kín, rồi thở dài khi bà ra về. Ông nghĩ một người mẹ hành động như thế để bảo vệ đứa con là lẽ tự nhiên; chỉ có điều nếu bà khóc lóc hoặc mềm mỏng hơn thì là tự nhiên hơn nữa (và ông sẽ lấy đó mà cảm thông hơn).
“Ông Knox!” Mackinley xông vào phòng đọc sách của ông mà không gõ cửa. Rõ ràng là càng ngày càng không ai chịu nổi cái ông này: cứ thong dong đi vào nhà người ta như là nhà mình. “Tôi nghĩ thêm một ngày là được, ông thấy sao?”
Knox nhìn Mackinley một cách mệt mỏi: “Được cái gì hở Ông Mackinley?”
“Được lời thú tội. Không ích gì mà vội vã.”
“Nếu hắn ta không thú tội thì sao?”
“Úi chao, tôi nghĩ không thành vấn đề.” Mackinley nở nụ cười xảo quyệt: “Cứ tước đi tự do với bọn này thì chẳng bao lâu họ sẽ quỵ lụy. Họ không chịu nổi việc cầm giữ, giống như thú vật.”
Knox nhìn Mackinley với vẻ căm ghét.
Mackinley không nhận ra cử chỉ ấy: “Tôi nghĩ trước bữa ăn tối, tôi sẽ có một buổi làm việc nữa.”
“Tôi có công việc giấy tờ khẩn. Việc kia gác lại được không?”
“Ông Knox ạ, tôi thấy không cần làm phiền đến ông. Tôi sẵn sàng thẩm vấn hắn một mình.”
“Tôi nghĩ hai người chúng ta cùng hiện diện thì... tốt hơn.”
“Tôi nghĩ mình sẽ không có nguy hiểm gì cả.” Ông kéo vạt áo vét để cho thấy một khẩu súng lục giắt ở thắt lưng.
Knox cảm thấy ngập tràn tức giận: “Ông Mackinley à, tôi không nói đến sự an toàn của ông. Thật ra, đó là cần thiết phải có hơn một nhân chứng đối với bất kỳ lời khai nào.”
“Thế thì tôi sẽ dẫn Adam đi theo, nếu ông lo điều đó. Xin vui lòng trao cho tôi chìa khóa.”
Knox đành nén giận mà mở ngăn kéo chứa hai chìa khóa của kho chứa hàng. Ông tự hỏi mình có nên thay đổi ý kiến mà đi theo Mackinley hay không. Ông đã bắt đầu nghi Mackinley là hung thủ, nhưng dĩ nhiên ông này không phải thế, mà là một nhân viên được trọng vọng của Công ty.
Ông trao chìa khóa và gắng gượng mỉm cười: “Adam đang ở trong bếp.”
Sau khi Mackinley đã ra đi, Knox nghe tiếng nói trong phòng khách. Hai cô con gái của ông đang cãi vã nhau. Ông định can thiệp như đã từng làm khi hai đứa còn nhỏ, nhưng không đủ nghị lực. Hơn nữa, bây giờ hai đứa con đã là hai phụ nữ trưởng thành. Ông lắng nghe những tiếng nói quen thuộc: giọng của Susannah hòa vào nước mắt, tiếng nói của Maria theo cung cách thuyết giảng khiến cho ông cau mày, tiếng cánh cửa đóng sầm, rồi bước chân chạy lên thang lầu. Phụ nữ trưởng thành là như thế.
***
Sturrock đã trò chuyện với Bà Scott, và bà nhìn lên tôi với vẻ lo lắng thường nhật, có lẽ tương tự như trong trường hợp ông chồng đến để trách cứ. Tôi có cảm tưởng như họ đang trao đổi khá thân mật với nhau: khi tôi bước vào cửa hàng thì họ kín đáo rời xa nhau như thể cho thấy đã xong xuôi. Tôi cảm thấy bất bình; tôi đã nghĩ ông ấy về phe với mình. Dường như Ông Sturrock có thói quen thì thào trò chuyện với các bà vợ của thiên hạ.
Ông quay về phía tôi và mỉm cười, mái đầu bạc cúi xuống: “Bà Ross ạ, bà đã tìm ra một nơi chốn ấm áp nhất và tiếp đãi lịch sự nhất ở Caulfield vào cái ngày lạnh giá này.”
Tôi gật đầu, hơi cứng nhắc. Vì lý do nào đấy, tôi không muốn ông ấy nhận ra mình.
“Bà Ross, tôi pha cho bà một cốc cà phê nhé! Cà phê dùng trong nhà.” Có vẻ như bà đã có thêm can đảm vì sự hiện diện của Sturrock để tự chuyên với cà phê của ông chồng.
“Cảm ơn bà. Thế thì hay quá.”
Tôi muốn uống một cốc cho dù phải trả cái giá cắt cổ. Tôi thấy lạnh tận xương tủy. Cái lạnh ở kho chứa hàng. Cái lạnh của vụ án mạng. Dù đã nói chắc với Knox, tôi vẫn không rõ Parker có phải là thủ phạm hay không. Ban đầu tôi đinh ninh là không phải, nhưng ngay khi Adam khóa lại cánh cửa kho chứa hàng thì sự tin tưởng này đã nhạt phai.
Để cho qua chuyện, tôi nói và ra vẻ mình không hờn dỗi: “Ông không nói cho tôi biết là ông quen biết với Ông Knox.”
“Tôi không nhớ đã nói. Tôi xin lỗi.”
“Đáng lẽ ông có thể đến gặp ông ấy mà hỏi về các vật dụng của Jammet. Ông không cần phải lẩn lút như kẻ trộm.”
Giống như tôi. Tôi có cảm tưởng như bị phản bội. Tôi thích ông hơn khi ông hành động lẩn lút như tôi.
“Xưa kia tôi có quen biết Ông Knox. Tôi nghĩ bây giờ ông ấy không nhận ra tôi nữa.”
“Ông ấy có biết ông hiện đang ở đây không?”
“Tôi nghĩ ông ấy khó mà không biết.”
“Tôi không có ý tọc mạch. Tôi chỉ cảm thấy… có bất lợi.”
Trong một khoảnh khắc, chúng tôi im lặng uống cà phê.
“Bà Ross ạ, tối hôm đó tôi không có ý đánh lừa bà, xin bà tin như vậy. Đôi lúc con người ta cảm thấy thất vọng vì vị thế của mình trong sự việc. Chúng ta luôn muốn làm người hùng phải không? Hoặc là người hùng của câu chuyện hoặc... không là gì cả.”
“Tôi tin chắc ông đã làm hết sức mình.”
Ông thở dài. Tôi có phần tin nơi ông, nhưng nhận ra đấy là vì ông có sức thu hút chứ không phải do tôi nổi tiếng có tài phán xét gì cả.
“Nếu ông không tìm được ở đó, thì không thể làm gì khác được.”
Ông mỉm cười: “Nhưng có người nói - mà tôi tin chắc bà đã nghe - rằng tôi đã tìm kiếm quá lâu, và rằng tôi vẫn còn nuôi hy vọng trong khi đáng lẽ nó phải bị vùi lấp.”
“Nếu bậc cha mẹ muốn nuôi hy vọng thì không ai làm gì được để ngăn chặn họ.”
Câu này nghe gay gắt hơn là ý tôi muốn nói, và Sturrock nhìn tôi với vẻ trắc ẩn hùng hồn mà tôi đã thấy lúc trước. Phần yếm thế trong tôi tự hỏi đã có bao nhiêu gia đình - đang khổ sở vì lo lắng - khi nhìn thấy dáng vẻ ấy mà cảm thấy được an ủi.
Dĩ nhiên là hoàn cảnh của tôi cần đến hành động chứ không thể chỉ có lòng trắc ẩn. Cái gì đó đã quay cuồng trong tôi, không tên nhưng đáng sợ, bây giờ thình lình kết tinh lại. Và tôi biết rằng mình không còn có thể trông cậy nơi ai được nữa, bất kỳ ai. Rốt cuộc rồi họ chỉ làm cho tôi thất vọng.
***
Knox đến gặp Sturrock nơi nhà Scott. Ông tự báo tin cho gia nhân, rồi Scott đi ra tiếp ông, nhìn ông với vẻ hiếu kỳ, nhưng ông không nói lý do tại sao mình đến đây. Chuyện này không liên quan gì tới họ, nên cứ để cho họ buôn chuyện (dù sao thì họ vẫn sẽ buôn chuyện, mặc ông cho phép hay không). Có lẽ họ sẽ nghĩ rằng Sturrock là một nghi phạm khác trong vụ án mạng.
Ông được đưa vào một gian phòng phía sau ngôi nhà mà gia đình Scott cho các doanh nhân hay đi lại thuê ngắn hạn. Gia nhân gõ cửa, và khi Sturrock trả lời, Knox bước vào.
Thomas Sturrock đã già đi kể từ lần cuối hai người gặp nhau. Nhưng đã mười năm qua rồi - và mười năm giữa hai cái tuổi năm mươi và sáu mươi có thể tạo sự khác biệt giữa thời đỉnh cao và thời lẩm cẩm. Knox băn khoăn tự hỏi mình có già đi như thế không.
Sturrock vẫn đứng thẳng người và thanh lịch như thuở nào, nhưng trông gầy hơn, khô khan hơn, yếu đuối hơn. Ông đứng dậy khi Knox bước vào, che giấu nỗi ngạc nhiên - hoặc bất kỳ cảm nhận nào - với nụ cười: “Ông Knox. Tôi nghĩ mình không nên thấy ngạc nhiên.”
“Ông Sturrock.” Hai người bắt tay nhau. “Tôi mong ông vẫn khỏe.”
“Tôi vẫn có việc để bận bịu sau khi về hưu.”
“Tốt. Tôi nghĩ ông biết tại sao tôi đến đây.”
Sturrock nhún vai, có phần cường điệu. Dù cho khuy măng sét sờn và quần bị lấm lem, ông vẫn tạo cho người ta có cảm tưởng ông là người thích chưng diện. Đấy là điểm bất lợi cho ông.
Knox cảm thấy ngượng ngập. Ông đã quên đi ảnh hưởng từ sự hiện diện của Sturrock và gần như tự thuyết phục mình rằng lời đồn đại râm ran quanh Caulfield là đúng sự thật.
“Tôi lấy làm tiếc về… à, ông biết đó. Tôi biết người ta bàn tán ra sao. Chẳng dễ chịu gì cả.”
Sturrock mỉm cười: “Tôi không muốn phản bác lại họ, nên ông cứ yên tâm về chuyện này.”
Knox gật đầu, tỏ ra nhẹ nhõm: “Tôi chỉ lo về phần vợ tôi. Đó có thể là nguyên nhân khiến cho vợ tôi và hai con gái tôi khổ sở... Tôi nghĩ ông hiểu được.”
“Vâng, đương nhiên.”
Knox nhận ra là Sturrock không đồng tình; mình không tin nơi ông ta được, ông ta muốn phục hồi danh dự.
“Dù sao đi nữa, chuyện gì khiến cho ông đến Caulfield? Tôi đã nghe mọi chuyện lạ lùng.”
Với nụ cười, Sturrock đáp: “Tôi mong mọi chuyện đều đúng.”
Ngay lúc đó, Knox nghe tiếng cọt kẹt bên ngoài căn phòng. Ông nhẹ nhàng đứng dậy và đến mở cánh cửa.
John Scott đang đứng đó với một chiếc khay, cố làm ra vẻ như vừa mới đi đến. Ông nói với sự chân thành thiếu thuyết phục: “Tôi nghĩ hai ông có thể muốn dùng một chút rượu.”
Knox đón nhận chiếc khay với ánh mắt nghiêm khắc: “Cảm ơn. Ông chu đáo quá. Tôi tin là ông cần tôi viết báo cáo hậu thuẫn cho ông đòi tiền đền bù phải không?”
Scott trở nên mặt sưng mày sỉa và rồi, vì muốn giải tỏa tình thế, tỏ thái độ cùng mưu đồ bí ẩn. Hất hàm về phía Sturrock, ông thì thầm: “Ông ấy là một người lý thú.”
Da mặt Scott đỏ hồng và bóng nhẫy một cách bất an dưới ngọn đèn. Bỗng dưng Knox liên tưởng đến một con heo trên trang trại của cha mẹ ông thường ụt ịt một cách điệu hạnh để tìm xin vài mẩu thức ăn, cái mõm hay chọc qua hàng rào ở cuối khu vườn, ông ngạc nhiên vì các hình ảnh tương đồng đến nỗi ông chỉ gật đầu rồi đưa chân đóng lại cánh cửa.
Ông đặt chiếc khay lên mặt bàn. “Ông Scott không chỉ là người bán hàng tạp hóa, chủ nhà máy xay và doanh nhân, mà cũng là tờ công báo của địa phương.” Ông rót một ly whisky cho Sturrock. “Trong khi ông ở đây, tôi giúp gì được không? Ngoại trừ cho ông một phòng trong nhà tôi, vì việc này sẽ... không hợp cách.”
“Ông có lòng tử tế mà hỏi đến.” Có vẻ như Sturrock suy nghĩ về vụ việc, trong khi không cần thiết phải suy nghĩ. Ông kể cho Knox nghe lý do mình đến đây, và Knox hứa sẽ làm hết sức mình tuy trong thâm tâm cảm thấy kỳ quặc về lời yêu cầu.
Mất thêm nửa giờ và mất vài đô la, Knox đi ra khỏi ngôi nhà, rồi thấy bước chân mình hướng đến kho chứa hàng, một tòa nhà lớn vươn cao, không có cửa sổ, tách biệt khỏi những ngôi nhà sáng đèn.
Ông dừng lại bên ngoài - hầu như không còn ánh sáng - lắng nghe tiếng động bên trong, ông không nghe được gì cả, rồi rút ra chiếc chìa khóa, tin rằng Mackinley đã ra về.
Ngay cả trước khi đôi mắt ông làm quen được với khung cảnh tối tăm bên trong, ông đã nhận ra có cái gì đó đã thay đổi. Người tù không quay lại để đối diện với ông.
“Ông Parker? Tôi là Ông Knox.”
Bây giờ, người đàn ông mới cử động và để lộ khuôn mặt. Trong một khoảnh khắc, trí não của Knox không hiểu được đôi mắt ông đã ghi nhận những gì - khuôn mặt xuất hiện, như lúc trước, giống như bản khắc của một khuôn mặt, chỉ có điều là bản khắc chưa hoàn chỉnh, hoặc bị hủy hoại bởi một con dao cùn. Knox rùng mình khi nhận ra đôi lông mày rậm, lưỡng quyền cao, và máu thắm đậm làn da.
“Trời ơi, chuyện gì đã xảy ra?” ông kêu lên, trước khi bộ não bắt kịp lời nói khiến cho ông ngừng bặt.
Giọng nói của người đàn ông nghe khàn khàn nhưng không có xúc cảm: “Đến lượt ông hả?”
“Ông ấy đã làm gì?” Đáng lẽ ông phải nhất quyết đi cùng Mackinley. Đáng lẽ ông phải lắng nghe nỗi nghi kỵ của mình. Chết tiệt cái tên đó! Hắn đã hủy hoại tất cả.
“Ông ta nghĩ có thể thúc ép tôi khai. Nhưng tôi không thể khai việc mà mình không làm.”
Knox bước tới bước lui trong cơn kích động. Ông nhớ lại lời trấn an của Bà Ross rằng Parker vô tội, và có phần đồng ý với bà. Ông cảm thấy bấn loạn như là nghệ sĩ xiếc tung hứng thình lình thấy có quá nhiều quả bóng trong không trung, và nghĩ rằng những thảm kịch sắp diễn ra, theo đó là nỗi nhục nhã.
“Tôi sẽ... tìm cho anh cái gì đó cho việc này.”
“Không có cái gì bị vỡ.”
“Tôi... tôi xin lỗi. Việc này chưa từng xảy ra trước đây.”
“Tôi muốn nói cho ông biết một chuyện mà tôi sẽ không nói cho ai khác.”
Knox nhìn người đàn ông chăm chăm trong niềm hy vọng mông lung.
“Laurent có kẻ thù. Và những kẻ thù tệ hại nhất là nhân viên của Công ty. Nếu còn sống thì anh ấy là mối đe dọa cho họ. Chết rồi thì anh ấy không còn là mối đe dọa nữa.”
“Đe dọa như thế nào?”
“Anh ấy là người thành lập Công ty Bắc Mỹ. Nhưng hơn thế nữa, anh ấy là đồng nghiệp trước đây của họ, giống như tôi. Công ty không ưa người quay lại chống lại họ.”
“Những ai ở Công ty?”
Một sự im lặng kéo dài.
“Tôi không biết.”
Knox cảm nhận một dòng mồ hôi chảy dài xuống ngực, bất chấp khí lạnh trong kho chứa hàng. Điều gì đó đã hiện ra trong tâm trí ông, điều gì đó ngu xuẩn và khinh suất và khăng khăng, điều gì đó không giống như bất kỳ việc nào ông đã làm trước đây - và ông biết mình sẽ phải làm gì.
Trong suốt bữa ăn tối ấy, ông thấy Mackinley ba hoa do ảnh hưởng của rượu vang và sự quan tâm của phụ nữ. Mackinley cất tiếng oang oang cùng với màu đỏ trên gương mặt, dẫn giải đức tính của những nhân viên quan trọng trong Công ty mà ông từng biết. Ông thảo luận về việc một quản trị viên Công ty đã nổi danh nhờ dập tắt một cuộc cãi vã giữa hai bộ tộc người Da Đỏ khiến hai bên bị thiệt, và rồi một nhân viên tiền tiêu được ngưỡng mộ một cách đặc biệt, người không màng đi bộ hàng trăm dặm giữa mùa đông. Hiển nhiên là ngay cả người bản địa hành nghề hướng đạo cũng ngưỡng mộ tài năng của anh này trong việc định hướng và sinh tồn trong hoang dã, vì thế chứng tỏ người bản địa chẳng có kỹ năng thiên bẩm gì khá hơn người da trắng (đặc biệt là người da trắng gốc Scotland).
Knox nhìn Mackinley ba hoa, không góp chuyện nhưng cố che giấu nỗi kinh tởm. Sau đó, vợ ông hỏi ông ổn không, ông mỉm cười nói mình chỉ mệt mỏi, nhưng không có gì đáng lo.
Từ lúc này, người ta sẽ buôn chuyện về ông; các lời đồn đại sẽ lan xa, kể rằng ông thiếu năng lực, không đạt tiêu chuẩn. May mắn là ông đã về hưu. Nếu thanh danh của ông là cái giá phải trả cho công lý, thì ông chẳng màng.
Trước đây ông đã ngậm miệng đối với sự thật. Ông có thể ngậm miệng lần nữa.