Những cánh đồng của thiên đường
Anh đã thất bại. Đã vài ngày qua, anh nằm thin thít trong căn phòng này, người yếu ớt hầu như không cử động nổi. Chân trái anh đau nhức từng chập, khiến cho anh phải thức dậy trong đêm. Từ chiếc giường hẹp, anh đã xem xét các bức tường quét vôi trắng, các chiếc ghế gỗ, cửa sổ không có rèm chỉ cho thấy bầu trời. Khi nhổm dậy dựa trên hai cùi tay, anh có thể thấy chóp tháp nhỏ của một ngôi nhà thờ, được sơn màu đỏ mờ đục. Trong phần lớn thời gian, bầu trời có màu xám, hoặc trắng. Hoặc đen.
Anh đã bớt run rẩy. Bây giờ anh biết mình hẳn đã lên cơn sốt sau khi rơi xuống bãi lầy. Anh đã đi băng qua một dòng nước lặng lờ có than bùn - dòng nước tĩnh lặng đến mức có những cầu vồng trông như váng dầu trên bề mặt - thế rồi khi đến bờ bên kia anh trượt chân và đâm bổ xuống vũng lầy. Anh thấy kinh khiếp bởi tốc độ mình chìm xuống, vội nắm lấy một dúm lau sậy, soài thân người rộng ra trong bùn để không bị chìm tiếp. Anh có thể thấy rõ mình bị hút xuống dưới, bùn tràn vào miệng và mũi, làm nghẹt cổ họng. Anh hét to lên, như là câu phát biểu về tình huống hơn là tiếng kêu cầu cứu - không cần làm thế, vì sự thể đã rõ ràng một cách đau đớn. Có vẻ như phải mất nhiều tiếng đồng hồ anh mới nhấc người lên được, rồi bò lên bờ qua một khoảnh cây việt quất
[24]
. Việt quất cho quả có vị ngon, an toàn; bộ rễ cắm sâu vào đất đá. Anh nằm mệt lả. Chân trái anh đã bị thương như thế nào đó và cơn đau ở đầu gối khiến cho anh nôn ọe khan. Anh đã không ăn đúng mức trong ba ngày - hoặc lâu hơn thế nữa? Anh không nhớ ra. Nhưng anh nhớ lại lúc người ta tìm được anh, hoặc lúc họ mang anh đến đây. Anh tỉnh lại trong căn phòng quét vôi trắng và tự hỏi có phải cái chết trông như thế hay không: một căn phòng màu trắng trống trơn, nơi các thiên thần bay lượn qua lại, nói chuyện qua đầu lưỡi.
Rồi cơn sốt hạ, và anh nhận ra căn phòng không phải là trống trơn, và các thiên thần đi đứng trông bình thường, dù anh không hiểu họ nói gì.
Có hai phụ nữ chăm sóc cho anh, bón cho anh ăn súp và làm những việc khiến cho anh ngượng ngùng khi nhớ lại. Nhưng họ hẳn ngang bằng tuổi mẹ anh, và đối xử với anh như là con cái của họ. Họ làm việc nhanh nhẹn, nghiêm túc, trải vải giường, xoa đầu anh. Hôm qua - anh nghĩ đó là hôm qua - một người đàn ông bước vào, trao đổi với một trong các phụ nữ, rồi đến nhìn anh. Ông ngang tuổi cha anh; có hàm râu rậm không hợp thời trang gì cả, và có cặp mắt lồi.
Ông hỏi trong ngữ âm kỳ lạ: “
Êtes-vous Français?
”
[25]
Francis cảm thấy đánh động là người đàn ông đã biết tên anh
[26]
, nhưng sau đó anh mới biết đó là tiếng Pháp. Anh tự hỏi mình phải nói gì. Có nhiều điều anh không biết.
Rồi người đàn ông quay lại người phụ nữ và nói với âm thanh phát ra từ cổ họng: “
Enk-lish?
”
[27]
Francis nhìn chăm chăm người đàn ông và quyết định mình sẽ không nói năng gì cả. Có lẽ tốt nhất là như thế.
Người đàn ông và người phụ nữ nhìn nhau. Người đàn ông nhún vai, và một lúc ông khoanh hai tay lại, bắt đầu lên tiếng. Sau một phút, Francis nhận ra rằng ông đang cầu nguyện. Người phụ nữ cũng cầu nguyện, nhưng bằng cách lắng nghe người đàn ông. Trang phục của họ thật giản dị - loại vải thô với màu đen, trắng và xám, giống như bầu trời của họ.
Mới gần đây - trong khoảng một tiếng đồng hồ vừa qua - anh đã bắt đầu nhớ lại các sự việc: anh nhớ mình đã lê bước qua từng dặm rồi từng dặm dọc theo bờ sông khi con sông cắt ngang qua vùng rừng cây, đi xa hơn là anh đã từng đi trong đời, theo dấu vết của người đàn ông ấy. Từ cái đêm ở ngôi nhà gỗ anh đã không gặp lại ông ta, và anh đã tận dụng mọi kỹ năng để đi theo các dấu vết. Vùng đất đã đãi ngộ anh. Mỗi khi anh nghĩ mình đã bị lạc lối - sau khi đã đi nhiều tiếng đồng hồ, xem xét và tìm kiếm nhưng không thấy dấu vết gì trên mặt đất, ngay khi anh nghĩ mình đã đi qua ngã rẽ của ông - thì anh lại bắt gặp một dấu vết khác: vết giày da đanh trên lá cây, hoặc vũng nước tiểu làm tan sương giá. Anh đã thấy nhiều loại dấu vết của ông ta và vệt đống lửa mà ông vội quét qua. Anh không biết ông ăn khi nào. Anh chưa từng thấy ai di chuyển nhanh đến thế.
Francis chỉ dám đốt lửa một lần, và sau đó mất ngủ, e sợ người đàn ông biết mình bị theo dõi và tìm ra anh. Nhưng không có chuyện gì xảy ra. Anh đã cẩn thận không theo sát quá, luôn nhìn về phía trước để nhận ra một cái bẫy. Cuối cùng, tính cẩn thận đã làm hại anh. Vào ngày thứ tư, anh lạc mất khỏi dấu vết. Nó rời xa vùng rừng để hướng lên vùng cao hơn rồi rẽ về hướng tây-nam đến một khu trơ trụi, không có cây to - chỉ là vùng cao nguyên bụi rậm, lầy lội, nơi mà bùn nhão khiến anh phải đi chậm lại và thêm cơn gió từ hướng bắc thổi sắc như dao qua chiếc áo da sói. Anh đi chầm chậm; đã lớn lên quen với việc trú ẩn dưới tán lá cây, bây giờ lo lắng bị phát hiện giữa khoảng trống trải.
Sau vài tiếng đồng hồ đi như thế, anh gần rơi xuống một dòng sông khác, nhỏ hơn, chảy qua một bãi lầy. Nước đục mù mờ; anh không thấy dấu hiệu chỉ ra chỗ nào băng qua được. Rồi anh loạng choạng, không thoát ra được. Đấy là nơi mà lần đầu tiên anh thật sự sợ hãi. Dĩ nhiên là từ đầu đến giờ anh vẫn sợ hãi, nhưng bây giờ anh mới thấy vùng đất hoàn toàn thắt chặt lấy anh, sắp để mặc cho anh chết, mà người ta không bao giờ tìm ra anh. Bộ xương của anh sẽ nằm phơi dưới bầu trời, bị tẩy trắng và xối rửa như các bộ xương nai nằm rải rác chung quanh. Anh vẫy vùng, ngập đến thắt lưng, cho đến khi trời tối. Anh cũng cất tiếng kêu, cầu may người đàn ông ở gần đó - ít nhất cái chết dưới tay ông ta sẽ đến thật nhanh. Ít nhất cái chết là do con người. Nhưng bằng cách nào đó, bằng cách nào đó, anh nhấc mình lên được. Đến lúc này thì anh hoàn toàn kiệt sức.
Cuối cùng thì vẫn thế: anh đã bất tỉnh bên bờ sông ấy, đã kiệt sức và lạnh cóng. Anh đã thất bại.
Anh nghĩ bây giờ là buổi chiều: anh đã dùng ít súp một tiếng đồng hồ trước, và rồi phải ngượng nghịu với một trong hai phụ nữ, người có mái tóc đen, khi sử dụng cái bô trên giường. Anh không dám nhìn bà, và bà cười lên như thể thấy anh thực sự buồn cười, và bà không có vẻ gì là ngượng ngùng.
Anh không thấy quần áo mình ở đâu cả, nhưng không biết có nên hỏi ai không, và nếu nên hỏi thì anh không biết hỏi bằng cách nào. Anh có thể hỏi người đàn ông nếu ông này quay lại. Nhưng anh nghĩ mình sẽ không hỏi, bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh cũng thế. Viễn cảnh không nói năng gì quả là dễ sợ. Nếu anh không nói năng, thì có lẽ không ai hỏi han anh gì cả. Anh lấy làm tiếc mình đã thất bại, nhưng chỉ tiếc ít thôi - anh đã làm những gì có thể làm được. Lý do để anh rời khỏi nơi đây càng mờ mịt, từ một thế giới xa lạ. Một thế giới đau đớn, không phải là thế giới mà anh muốn trở về. Điều anh quan tâm nhất là phiến xương đang ở đâu.
Khi một trong hai phụ nữ quay lại - người có mái tóc khô vàng hoe và tiếng cười vang vang - anh cố diễn đạt bằng ít điệu bộ. Bà khiến cho anh liên tưởng đến mẹ của Ida - có cùng tính cách thực tiễn trần tục. Trong khi bà đang tất bật quanh anh, tấn chăn giường, sờ trán anh, anh bắt lấy ánh mắt của bà, rồi đưa hai bàn tay lên cánh tay đối diện, ra dáng điệu đang khoác vào chiếc áo, rồi giơ bàn tay ra hiệu hỏi. Bà hiểu, níu lấy chiếc váy của mình để trả lời, và líu lo một tràng. Anh mỉm cười, mong muốn có người bên mình. Rồi anh ra dấu viết trên lòng bàn tay, và vẽ hình thù một tấm thẻ trong không khí. Bà nhíu mày, rồi có vẻ như hiểu ra. Bà nhìn anh với vẻ không tán thành, nhưng bước ra khỏi căn phòng.
Một buổi tối, nhiều tháng trước, Laurent đã lấy ra mảnh xương từ nơi anh cất giấu (lúc ấy anh đang say) và cho Francis xem, rồi hai người cùng nhau nghiên cứu những hoa văn nhỏ hình gậy vẽ con người và những dấu hiệu có góc cạnh, trông tương tự như chữ viết. Laurent nghĩ Francis có thể biết đấy là gì Francis cố nhớ lại về những gì đã học ở trường: kiểu chữ tượng hình Ai Cập, chữ Hy Lạp cổ đại, hình vẽ trong các quyển sách của mẹ anh, nhưng không thể nhớ cái gì tương ứng với những dấu hiệu ấy. Cách duy nhất để có thể xác định chiều đứng là từ những người hình gậy xếp hàng dọc theo rìa. Laurent bảo rằng anh đã nhận được mảnh xương từ một nhà buôn ở Mỹ, rằng anh đã gặp một quý ông ở Toronto ngỏ ý muốn mua với một khoản tiền lớn. Hai người cùng cười cợt về tính điên rồ của người có tiền. Rồi, sau đó, Laurent bảo Francis có thể nhận lấy mảnh xương. Francis từ chối, vì lo âu đối với món gì đó mà mình không hiểu được. Ai biết được - có lẽ đó là một lời nguyền? Nhưng Laurent đã trao cho anh, thế nên khi anh nhận thì như vậy thực sự không phải là ăn cắp. Còn mấy chuyện kia, anh phải chấp nhận để được sống sót. Anh cũng sẽ mang theo súng, nếu anh trông thấy nó. Phần kia trong anh - phần mà anh đã chịu đựng trong những năm dài ở trường làng - hỏi nếu có súng thì anh sẽ làm gì? Thậm chí anh còn không nhẫn tâm bắn một con thỏ.
Khi anh mở mắt lại, người đàn ông có bộ râu đang ngồi kế giường anh. Ông đặt một quyển sách xuống - ông đã chờ cho đến khi anh tỉnh dậy. Francis nhìn tựa sách, nhưng ngữ văn trông như một mớ phụ âm lộn xộn. Người đàn ông mỉm cười với anh. Răng ông cáu màu, càng thêm tương phản với màu đỏ của đôi môi. Francis chăm chăm nhìn lại ông, nhưng vẻ gì đó trên khuôn mặt ông đã dịu đi, bởi vì mặt ông sáng lên do vui mừng và ông vỗ vai anh. Ông lại hỏi anh là người Pháp hay người Anh. Anh chợt có ý nghĩ là những người tìm ra anh có lẽ đã trông thấy người mà anh đang theo dõi. Ai biết được, có lẽ người ấy đã đến đây? Anh có thể bỏ qua ý tưởng về đối thoại, nhưng như thế anh sẽ phải bỏ qua luôn hy vọng của mình. Anh ngạc nhiên mà nhận ra mình không sẵn sàng để bỏ qua.
Anh liếm đôi môi đang khô khốc và cáu bẩn. Anh nói giọng khàn khàn: “Người Anh.”
Người đàn ông vui mừng: “Người Anh! Tốt. Anh biết tên anh là gì không?”
Francis lưỡng lự một giây đồng hồ, rồi nói ra mà không nghĩ ngợi: “Laurent.”
“Laurent? À, Laurent. Vâng. Tốt. Tôi là Per.” Ông quay mặt gọi lớn: “Britta! Đến đây.”
Người phụ nữ có nước da trắng trẻo xuất hiện từ đâu đó gần đấy, mỉm cười với anh. Per trao đổi với bà trong ngôn ngữ của họ.
Bà nói: “Laurent, chào mừng anh.”
“Bà ấy không nói được tiếng Anh nhiều. Tiếng Anh của tôi giỏi hơn. Anh biết mình đang ở đâu không?”
Francis lắc đầu.
“Anh đang ở tại Himmelvanger. Tên có nghĩa Cánh đồng của Thiên đường. Tên nghe hay, phải không?”
Francis gật đầu. Trước đây anh chưa hề nghe qua tên này. Giọng nói của anh vẫn nghe lạ lùng và yếu ớt: “Sông nào...?”
“Sông? À, chúng tôi đã tìm thấy anh... vâng. À, con sông không có tên. Jens đang đi săn... và thấy anh ở đó. Quả là đáng ngạc nhiên.” Theo cách người đàn ông ra dấu, anh kia đang đi tìm thỏ rừng nhưng thay vào đó tìm ra một trai trẻ bẩn thỉu lê lếch.
Francis cố nở nụ cười vui, đôi môi vẫn cảm thấy khó khăn: “Tôi có thể nói chuyện với Jens được không?”
Per lộ vẻ ngạc nhiên: “Chắc chắn là được. Nhưng bây giờ... anh đang đau yếu. Hãy ngủ và ăn uống. Sẽ chóng khỏi. Britta và Line chăm sóc anh tốt, phải không?”
Francis gật đầu. Anh mỉm cười với Britta, lúc ấy đang cười khúc khích.
Per nghiêng người xuống và nhặt lên quần áo của Francis: “Sạch sẽ hết, phải không? Và cái này...” Ông đưa ra chiếc túi của Laurent, và Francis cầm lấy.
“Cám ơn ông nhiều. Và cám ơn... Jens đã tìm thấy tôi. Tôi hy vọng sẽ gặp ông ấy sớm.”
Hai người kia mỉm cười và gật đầu.
Britta nói với Per, và ông này kéo lùi chiếc ghế của mình khi đứng lên với tiếng lẩm bẩm thỏa mãn: “Bây giờ anh ngủ đi, Britta bảo tôi. Nhé?”
Francis gật đầu.
Anh nghĩ về cha mẹ mình ở trang trại. Anh đoán họ đang lo lắng cho mình, tuy rằng họ có lo lắng nhiều đến mức đi tìm anh hay không lại là chuyện khác. Bây giờ người ta hẳn đã tìm ra Laurent. Họ sẽ nghĩ gì? Liệu họ có nghĩ anh làm chuyện đó không?
Ý nghĩ khiến anh gần như mỉm cười.
***
Line đang ở bên ngoài cùng với Torbin và Anna khi Britta đi ra cho cô biết anh trai trẻ đã nói được. Line nghĩ một người Anh có tên Laurent là điều kỳ lạ. Trước đây cô có biết một người Pháp tên Laurent, khi Janni còn sống. Tiếng Anh của cô khá hơn mọi người, còn khá hơn Per, nên cô thầm lấy làm vui. Cô đã có ý nghĩ che chở cho anh từ khi Jens mang anh đến, thân người vắt ngang lưng lừa, và bây giờ cô nghĩ đó là đúng lý - cô có thể là cầu nối giữa anh và những người khác.
Torbin và Anna chạy đến cô giữa một đàn gà kêu oang oác.
Mặt đỏ hồng vì lạnh, Torbin hỏi: “Chúng con gặp chú ấy bây giờ được không?”
“Chưa, chưa được. Chú ấy còn rất yếu. Ta sẽ làm cho chú ấy kiệt sức.”
“Không đâu. Chúng con như là chuột nhắt bé nhỏ. Chuột nhắt bé tí.” Anna giả làm tiếng chuột kêu chút chít.
Line nói: “Không lâu đâu. Khi chú ấy có thể đứng dậy và đi đứng.”
Anna nói ngay: “Giống như Lazarus
[28]
.” Cô bé muốn đặt người lạ vào khung cảnh thế giới có hình dạng Himmelvanger của cô.
“Không giống như Lazarus. Chú ấy không chết.”
“Gần như thế! Đúng không?” Torbin hy vọng có thêm chất bi kịch.
“Đúng, gần như thế. Chú ấy bất tỉnh.”
“Ừ, giống như thế này. Ma-man, xem này!” Torbin ngã xuống trên nền tuyết và giả bộ bất tỉnh, mà theo cách diễn dịch của nó, cái lưỡi thè ra một bên miệng. Trông giống như nụ cười. Lúc nào Torbin cũng có thể làm cho cô cười. Nó là đứa trẻ không kìm nén được, không lay chuyển, như một quả bóng cao su đặc. Nó không gợi cho cô liên tưởng nhiều đến Janni, trong khi Anna thì giống như Janni đầu thai lại kiếp sau - gò má cao, tóc nâu, đôi mắt xanh lam sâu thẳm. Một nụ cười vô cùng ngọt ngào, chỉ nở ra một đôi lần mỗi năm, nhưng gây hiệu ứng mãnh liệt vì hiếm hoi.
Hai đứa trẻ trèo lên máng gà và đi băng ngang khoảnh sân. Line có nhiệm vụ cho gà ăn, rồi giúp Britta may chăn bông. Britta không có nhiều thời gian cho riêng mình, nhưng vẫn đến đây làm việc này. Cô thích đến chơi ở nhà trú ẩn cho đàn gà, được xây chắc chắn chống lại những ngọn gió đông với lớp mái dốc để chống tuyết. Tất cả nhà cửa ở Himmelvanger đều có cấu trúc chắc chắn và dễ chịu. Mọi thứ đều phải được xây cẩn thận, bởi vì xây cho Thượng đế: lắp ghép qua mộng đuôi én
[29]
, tường hai lớp, mái dốc được lợp ngăn nắp với ngói gỗ tuyết tùng mỗi tấm mái gần giống hình quả tim. Tháp nhọn trên ngôi nhà nguyện nhỏ, với cây thập tự được sơn phết. Trong mười năm, nó đã chống đỡ gió và thời tiết trong mùa đông Canada. Thượng đế đã che chở cho họ.
Dân cư ở đây đã đón nhận cô với lòng tử tế và chiếu cố, thậm chí còn có nhiều lời khuyên bảo. Line à, nên cầu nguyện thêm, nên đặt niềm tin nơi Thượng đế, nên hòa công việc với đức tin và như thế sẽ đem lại ý nghĩa cho cuộc đời. Nên ngưng than khóc vì Janni, bởi vì bây giờ anh ấy đã về với Thượng đế, nên anh ấy được hạnh phúc. Cô đã cố gắng thực hiện những việc này, bởi vì cuộc đời cô hàm ơn họ. Khi Janni biến mất - cô vẫn cảm thấy khó khăn khi nói “chết”, dù là nói cho riêng mình - cô có hai đứa con nhỏ và không có tiền. Cô bị đuổi ra khỏi nơi cư ngụ và không biết đi đâu. Đã suy tính trở về Na Uy nhưng không có tiền mua vé tàu. Đã suy tính cùng hai con gieo mình xuống sông St. Lawrence
[30]
. Và rồi một người bạn kể cho cô nghe về Himmelvanger. Viễn cảnh sống trong một cộng đồng tôn giáo mẫu mực vừa xa xôi vừa khôi hài. Nhưng họ là người Na Uy, và họ cần người làm lao động chăm chỉ. Quan trọng hơn, họ không đòi hỏi tiền nong.
Điều trái khoáy là cô đã theo cùng hướng mà Janni đã theo trong chuyến đi cuối cùng của anh. Hoặc là, nếu không phải chuyến đi cuối cùng của anh, thì là lần cuối cô trông thấy anh. Anh đã đi tìm việc làm và gặp một người Na Uy lúc ấy sắp làm việc cho Công ty Vịnh Hudson. Công việc theo mùa hứa hẹn lương cao, nhưng ở xa, mãi tận miền tây-nam, trên Đất Rupert. Anh phải xa Line và hai đứa con trong hơn một năm, nhưng anh nói họ sẽ có tiền để mua một ngôi nhà. Đấy là cách đi tắt cho cuộc sống mà họ mong muốn: ngôi nhà và một mảnh đất nhỏ cho riêng mình. Line sẽ không phải làm công việc giặt giũ và mạng vá quần áo bẩn thỉu của người khác; anh sẽ không phải cắn răng mà làm lụng cho kẻ ngu ngốc.
Sau khi anh đi, cô chỉ nhận được một lá thư của anh. Janni không giỏi viết thư, nên cô không trông mong những lá thư tình nồng nàn, nhưng dù thế, một lá thư trong sáu tháng vẫn khiến cô đau buồn. Anh đã kể trong thư là cuộc sống không giống như mình đã hình dung lúc đầu - anh và người bạn được chỉ định làm việc chung với một nhóm tù phạm người Na Uy mà Công ty đã đón nhận. Bọn người này thô lỗ và đầy bạo lực, lập nên một băng đảng mà các nhân viên khác lánh xa. Janni cảm thấy bất an vì phải nhập bọn với đám người này, nhưng việc phân chia theo quốc tịch quan trọng hơn là theo hoàn cảnh pháp luật. Nhưng anh cho biết có vài người tốt trong bọn họ, và định sẽ trở về gặp lại Line cùng hai con và tìm địa điểm xây nhà. Không có lời lẽ thương yêu, không có tình âu yếm; đấy giống như là lá thư anh viết cho bà dì. Và sau đó, Line không nhận được gì nữa.
Khi mùa hè đến, cô thiếu kiên nhẫn chờ đợi, và họ hỏi tin tức của anh. Toronto nóng bức và ẩm ướt; đàn nhặng hút máu làm cho hai đứa trẻ khổ sở, khu nhà cho thuê rẻ tiền chật chội, nồng nực mùi nước thải. Cô trở nên cáu bẳn, dễ tức giận. Thế rồi, vào tháng Bảy cô nhận được một lá thư ghi gửi cho “Gia đình của Jan Fjelstad”. Phong thư ghi nhầm địa chỉ, đã bị bóc ra rồi được ghi lại địa chỉ mới với nét chữ của trẻ con. Lời lẽ cứng nhắc trong thư tỏ ý tiếc thông báo là vào tháng Giêng chồng cô ở trong nhóm người Na Uy nổi loạn và trốn khỏi nơi làm việc, mang theo tài sản có giá trị của Công ty. Họ đã biến mất trong vùng hoang dã, chắc chắn là đã bỏ mình trong những cơn bão tuyết quét qua vào tháng ấy. Tuy nhiên (lá thư cẩn thận ghi thêm), nếu do may rủi kỳ lạ mà họ còn sống, thì họ là những kẻ trốn lánh pháp luật.
Thoạt đầu, Line không tin vào chuyện này. Cô vẫn chờ đợi chồng trở về, nghĩ rằng họ hẳn đã nhầm anh với một người khác. Cô nhủ lòng mình rằng người Anh dễ nhầm lẫn giữa những cái tên Na Uy. Cô không tin Janni trộm cắp món gì. Bản chất của anh không phải thế.
Cô đi đến văn phòng của Công ty ở Toronto, đòi gặp một ai đó, và một anh trai trẻ người Anh có mái tóc màu cát tiếp cô trong phòng làm việc nhỏ của anh. Anh tỏ vẻ lịch sự, cất tiếng xin lỗi, nhưng nói không có lý do mà nghi ngờ nội dung của lá thư. Đã có một vụ nhân công bỏ trốn, và tuy cá nhân anh không biết về những người có liên can, anh tin rằng lá thư thông báo chính xác. Line lớn tiếng với anh trai trẻ, và anh giận dữ. Có vẻ như anh không nhận ra rằng mình đang nói về cái chết của người chồng, của mọi nỗi niềm cho cuộc đời người vợ. Cô chạy ra khỏi văn phòng và tiếp tục chờ đợi.
Nhưng nhiều tuần trôi qua mà anh vẫn không về, rồi cô cạn tiền. Cuối cùng, dù cô có tin hay không thì vẫn thế thôi; dù đấy là sự thật hay không thì cô phải chọn một quyết định. Thế là, vào một buổi sáng tháng Chín, cô cùng với hai con lên đường đi trong ba tuần đến một nơi có địa danh kỳ quặc là Himmelvanger, đi quãng đường gần bằng với cuộc hành trình cuối cùng của Janni, để rồi đến một cái tên không kém kỳ quặc là Nhà máy
[31]
Nai Sừng tấm.
Đấy là ba năm về trước, và cô đã quen với cuộc sống mới. Trong khoảng thời gian đầu, cô tin chắc Janni sẽ tìm ra mình; trước khi rời Toronto cô đã cho mọi người biết mình sẽ đi đâu. Một ngày nào đó, anh sẽ cưỡi một con ngựa khỏe mạnh chạy vào sân vườn, cất tiếng gọi tên cô, rồi cô sẽ bỏ mặc bất gì việc gì đang làm mà chạy đến đón anh. Trong khoảng thời gian đầu, mỗi ngày cô đều nghĩ như thế. Thế rồi, dần dà, cô thôi buông thả mình trong chuyện mộng mơ ấy. Cô trở nên biếng nhác và trầm cảm, cho đến lúc Sigi Jordal thôi thúc cô tâm sự với mình. Line khóc, đó là lần đầu tiên cô khóc sau khi đến đây, rồi thú nhận với Sigi rằng đôi lúc cô muốn tìm đến cái chết. Đó là tội lỗi. Các thành viên của cộng đồng tìm đến, mỗi người thay phiên nhau khuyên cô nên hối lỗi đối với cái tội lớn nhất là vô hy vọng, nên chấp nhận Thượng đế trong con tim và để Người xóa đi nỗi thất vọng. Cô nhanh chóng trấn an họ rằng mình đã (thình lình) chấp nhận Thượng đế, và Người đang dẫn dắt mình ra khỏi vùng tối tăm của ưu phiền. Bằng cách nào đó, chính thái độ giả vờ giúp an ủi cô; đôi lúc cô tự hỏi liệu mình có tin tưởng dù một nửa hay không. Cô đi nhà thờ, ngồi nhìn ánh nắng chiếu vào, dõi theo một hạt bụi cho đến khi mắt cay sè. Tâm tư cô lan man một cách dễ chịu. Cô không cầu nguyện, không hẳn thế, nhưng cũng không cảm thấy cô đơn.
Trong khoảng thời gian này, Espen Moland bắt đầu tỏ mối quan tâm. Anh đã có gia đình (cộng đồng chỉ dành cho những gia đình) và các con anh chơi đùa với Torbin cùng Anna, nhưng mối quan tâm đối với cô không chỉ về tinh thần. Lúc đầu cô cảm thấy ngán ngẩm, biết rằng việc này hoàn toàn bị lên án. Nhưng trong thâm tâm cô cảm thấy thích. Espen làm cho cô thấy mình xinh đẹp trở lại. Anh nói cô là phụ nữ đẹp nhất ở Himmelvanger và rằng cô làm cho anh mê mẩn. Line lắp bắp trả lời nhưng ngầm công nhận. Espen không hẳn là đẹp trai, không như Janni; nhưng anh lanh lợi và có tính hài hước, luôn thắng thế trong các cuộc tranh luận và trao đổi. Quả là dễ chịu đến kỳ lạ khi nghe lời lẽ ngọt ngào từ một người không bao giờ ngưng đùa cợt, đến mức cô không còn làm ngơ được nữa. Cuối cùng, vài tháng trước, họ bắt đầu dấn thân vào tội lỗi. Đấy là cô nghĩ thế, dù cô thấy mình không có tội. Chỉ cần cẩn trọng. Cô không thể gánh nổi một thảm họa khác.
Bây giờ Line nghe tiếng anh đang đi đến, huýt sáo một trong những giai điệu do anh nghĩ ra. Anh đang đi đến nhà nuôi gà? Đúng thế - cánh cửa mở ra.
“Line! Cả ngày anh chưa gặp em!”
“Em có việc phải làm, anh biết mà.”
“Dĩ nhiên rồi, nhưng nếu không gặp em, anh buồn lắm.”
“À, chắc hẳn rồi.”
“Anh đến sửa lại mái ngói bị thủng.”
Anh đang mang thắt lưng đồ nghề - anh là thợ mộc của họ - và Line ngước nhìn qua mái ngói.
“Không có lỗ thủng.”
“À, có thể có. Tốt nhất là nên đề phòng. Anh không muốn mấy quả trứng của ta bị ướt, phải không?”
Cô cười khúc khích. Espen luôn làm cho cô cười, cả những lúc anh nói ra chuyện ngu xuẩn nhất. Anh vòng cánh tay ôm ngang eo cô, ép cô vào sát người anh, và cô có cảm giác thân quen như thân người mình tan chảy khi hiện diện bên anh.
“Britta đang chờ em.”
“Thế hả? Trong ít phút cô bé sẽ không nhận biết.”
Khó mà giữ tư cách cho có chừng mực, ngay cả trong một cộng đồng tôn giáo khắt khe như ở đây. Anh đang hôn lên cổ cô, đôi môi nóng bỏng lướt trên làn da cô. Nếu không rời xa anh bây giờ thì xem như cô đầu hàng hẳn.
“Bây giờ không phải lúc.” Cô luồn người ra khỏi vòng tay anh, hơi thở gấp gáp.
“Trời ơi, hôm nay em trông đẹp quá. Anh có thể…”
“Dừng lại!”
Cô yêu thích tia mắt khẩn cầu của anh. Quả là tuyệt diệu được biết cô có năng lực làm cho một người hạnh phúc đến thế. Nhưng nếu cô không đi ra khỏi nhà nuôi gà ngay bây giờ, anh có thể bắt đầu nói ra những ngôn từ ấy khiến cho máu dồn lên mặt cô, xóa nhòa mọi lý lẽ phải trái. Những ngôn từ xấu xa, thô tục mà cô không bao giờ nói ra, nhưng tạo mãnh lực lạ kỳ, gần như là phép mầu, áp đảo cô hoàn toàn. Janni không hề ăn nói như thế, nhưng chỉ vì không giỏi ăn nói. Đúng là trước đây cô chưa từng kinh qua cách mình cảm nhận về Espen; có vẻ như cô đang thay đổi theo cách mà đôi lúc cô cảm thấy đáng báo động, như thể đang ngồi trên một chiếc ca nô mỏng manh như giấy vượt qua con lũ - bồng bềnh, hồ hởi, nhưng không chắc mình kiểm soát được.
Cô cố lách mình ra xa, nhưng trong sâu thẳm cô khát khao anh, rồi mỉm cười, giống như trong khoảnh khắc vừa qua, để anh không nghĩ - lạy Trời - rằng cô đã không quan tâm.
Bên ngoài nhà nuôi gà cô xóa đi nụ cười trên môi, cố nghĩ đến cái gì khác; cái gì đó khó chịu, như mùi hôi của các con heo, chứ không phải Espen và đôi môi ngọt dịu nhưng thô tục. Cô sẽ ngồi cùng Britta để làm công việc may vá, và gần đây Britta thường nhìn cô với cặp mắt sắc lẻm, có ý hạch hỏi. Cô không thể nào biết được, nhưng có lẽ cô đã để lộ ra dáng vẻ gì đó. Cô cố nghĩ về đứa con trai đau yếu, nhưng hình như không tạo hiệu quả. Thay vào đó, cô tưởng tượng mình đang nhấc lên tấm chăn và nhìn xuống thân thể trần trụi của anh. Cô đã trông thấy rõ làn da màu đồng hấp dẫn, cảm nhận sự mượt mà...
Trời ơi! Espen đã làm vẩn đục cả tâm tư cô. Có lẽ cô nên lẻn vào nhà thờ trong ít phút mà cầu nguyện; cố nghĩ ra chuyện gì đó khiến cho cô phải tủi thẹn.
***
Trời đang lạnh giá: ngày lạnh nhất trong năm ngày họ đang đi theo dấu mòn. Một trận gió thổi xuống từ vùng Cực Bắc quất mưa đá vào mặt họ. Đôi mắt Donald cay sè, nước mắt đông cứng trên đôi má anh, khiến cho làn da nứt nẻ và thô ráp. Nước từ đâu đó cũng đông lại trên bộ ria anh, nên anh kéo chiếc túi che mặt bao quanh phần dưới khuôn mặt, cho đến lúc nó đông cứng vì độ ẩm trong hơi thở anh, và anh phải tháo nó ra trong đau rát để tránh ngộp thở. Anh cảm thấy lạnh cóng và đuối hơi tuy rằng Jacob mang phần lớn vật dụng, vì Donald không thể theo kịp nếu chia sẻ mang phân nửa.
Sau ngày thứ hai, Donald thấy mỗi cử động đều gây đau nhức ở đâu đó trên thân người mình. Trước đây, anh vẫn thường nghĩ mình là một chàng trai trẻ khỏe mạnh, nhưng bây giờ thấy rằng mình đang bắt đầu hiểu ra sự chịu đựng là như thế nào. Jacob lầm lũi đi trước, vai mang trọng lượng nặng, theo những lối tắt để thăm dò dấu mòn. Đến chiều tà, hai người dừng lại, Jacob thu nhặt cành khô rồi đốt một đống lửa, lại đi chặt cành cây làm chỗ trú ẩn cho hai người. Lúc đầu, Donald tỏ ý muốn tự làm lấy phần mình, nhưng rồi anh quá mệt và vụng về nên không giúp gì được; nếu để cho Jacob làm mọi việc thì có thể dựng lên chỗ trú ẩn nhanh hơn. Một cách hiền từ nhưng cương quyết, Jacob bảo anh ngồi xuống mà lo đun ít nước.
Sáng sớm ngày này, họ rời khỏi vùng rừng cây, bắt đầu đi qua một cao nguyên trơ trụi có nhiều gò đống, nơi mà dường như không có gì che chắn cho họ chống lại ngọn gió từ Vịnh Hudson đã đóng băng. Mặc cho quần áo dày cộm, ngọn gió vẫn len lỏi vào những vùng da mềm với những cú quất rát buốt. Họ nhanh chóng nhận ra rằng cao nguyên này là một bãi lầy mênh mông. Những vũng nước màu đen rỉ lên từ lớp đất bên dưới, đóng băng trên bề mặt. Lau sậy và liễu đón nhận những bông tuyết thổi đến rồi giữ lại thành cuộn. Khó mà tìm được một khoảnh đất cứng để có vài bước liên tiếp vững chắc. Jacob không còn cố giữ cho chân mình được khô, mà đành phải theo những bước đều đặn lên gò này xuống vũng khác. Dù cho đã quyết chí theo kịp, ba lần Donald đã phải kêu Jacob chậm chân lại, và bây giờ Jacob thường dừng bước để chờ anh. Jacob cố ra vẻ như không phải anh yếu đuối, mà dừng lại để nói cho anh biết về tình hình của dấu mòn. Rõ ràng là Jacob thấy khó khăn hơn mà dõi theo dấu mòn trên địa hình như thế này, nhưng anh càng không màng. Hôm qua anh thấy khó mà quan tâm đến việc họ sẽ tìm được Francis hay không; hôm nay anh chợt nghĩ ra rằng thậm chí mình có thể không trở về được từ chuyến đi này. Anh không chắc mình có màng đến một trong hai việc hay không.
Hai người càng đi qua thêm nhiều xác chết thú rừng. Bây giờ họ đi qua bộ xương của một con nai hẳn đã nằm ở đây từ lâu vì thịt đã được rỉa hết, chỉ còn lại màu nâu vàng. Cái đầu lâu con thú hướng về phía họ, chung quanh là những khúc xương khác vương vãi, nhìn Donald qua lõm mắt, thầm nhắc anh về nỗ lực vô vọng.
Donald cố chuyển tâm tư của mình hướng đến Susannah, để đóng sập cánh cửa giữa thể chất đang chịu đựng và tinh thần đang cảm nhận. Thay vào đó, anh thất vọng mà nghe văng vẳng tiếng của người cha rao giảng cho anh: “Hãy chú tâm vào sự việc, Donnie
[32]
. Hãy chú tâm vào sự việc. Tự vực mình lên! Ta phải làm những việc ta không muốn làm.” Anh cảm nhận lại nỗi bực tức ngày xưa dâng trào lên bề mặt như khí đầm lầy. Cha anh - một kế toán viên ở Bearsden - không bao giờ phải đi qua một đầm lầy vô tận trong mùa đông Canada.
Được nhét bên trong lớp áo, gần quả tim anh, là ba lá thư anh đã viết cho Susannah. Anh thất vọng vì ngôn từ mình thiếu hùng biện, nhưng tự an ủi là khó mà viết cho dí dỏm trong khi cố ngồi sát vào đống lửa để nhìn cho rõ mà không cháy tóc. Anh e sợ các trang thư bị ố nhòe và bám bùn đất, lại còn có lẽ hôi mùi khói, nếu không tệ hại hơn. Có lẽ, nếu họ gặp khu dân cư, anh có thể chép lại trên giấy sạch sẽ, hoặc thậm chí viết lại từ đầu theo văn phong cải thiện. Như thế có lẽ là hay nhất.
Lúc bốn giờ chiều, Jacob tỏ ra hoang mang. Anh bảo Donald ngồi chờ trong khi anh thăm dò theo một vòng tròn rộng, rồi ra dấu cho Donald đi theo mình. Trong một thời gian, họ đi lần theo những dấu chân. Donald thầm rủa cái công việc vô giá trị, nhưng vì quá mệt nên không hỏi han gì. Một màn tuyết mỏng đang rơi xuống, và tầm nhìn xa bị hạn chế. Không khí vừa ẩm ướt vừa sắc buốt. Jacob thở ra những hơi dài, thói quen mỗi khi anh suy tư cật lực.
“Tôi nghĩ ở đây họ đi theo những đường khác nhau.”
Donald xem xét mặt đất nhưng không thấy cái gì chỉ ra rằng đã có người đi qua đây.
“Họ rời khỏi vùng rừng cây cùng một lúc. Cho đến điểm đó thì dấu vết rất rõ, nhưng tôi nghĩ người thứ hai đi chậm lại. Bây giờ một người đi theo đường kia, bởi vì có một dấu chân đóng băng trong bùn chỉ về hướng đó. Nhưng ở khoảng cách xa và khó mà theo dấu chân trong đầm lầy. Tôi nghĩ người thứ hai mất dấu, đi theo đường này…” Anh chỉ đến chỗ mặt đất dốc lõm xuống thành một dấu cạn: “Đây là dấu vết cho thấy chân ai đó bị lún, rồi tiếp tục đi. Đáng lẽ tôi đã nhận ra từ trước.”
Donald thầm công nhận là đúng. “Anh nghĩ Francis là dấu mòn thứ hai hả?”
“Dấu mòn thứ nhất là một người đi nhanh, đã quen với việc đi đường dài. Anh ta biết phải đi đâu mà không cần phải dừng lại để định hướng. À vâng, dấu mòn thứ hai là một thanh niên, và anh ta đã mệt.”
“Nhưng họ muốn đến cái chỗ chết tiệt nào vậy? Tôi có ý nói rừng cây là một chuyện, nhưng ở đây... Trời đất ơi, nhìn xem! Không ai sống ở đây được!”
Theo tầm mắt họ có thể nhìn phóng tới thì không có gì cả, chỉ có mấy lùm bụi và vũng lầy. Địa hình không có sắc thái gì để được gọi là hấp dẫn (Donald nghĩ đúng thế) - không có nét tương phản giữa núi non và thung lũng, không có hồ, không có cây cối. Nếu vùng đất này có đặc tính, thì đó là ảm đạm, vô cảm, thù nghịch.
Jacob nói: “Tôi không biết rõ vùng này, nhưng có những trạm tiền tiêu đâu đó, xa hơn về phía bắc.”
“Trời đất! Tội nghiệp cái bọn đáng thương phải sống ở đó.”
Jacob mỉm cười. Donald đã rơi vào vai trò của một tay mơ và anh là trợ giáo, một tình huống dễ thở. Dễ biết phải nói gì. Dễ biết người kia sẽ phản ứng ra sao. Trong mấy ngày qua, họ đã thiết lập mối quan hệ tương tự.
“Người ta sống ở khắp nơi. Nhưng họ nói đây là Xứ Chết đói.”
Donald thốt lên câu phạm thánh. “Thế thì ta nên tìm ra anh ấy càng sớm càng tốt.” Anh không cần phải nói ra lựa chọn thứ hai.
“Có lẽ người đầu tiên đang đi đến một trong những trạm tiền tiêu phía trên kia.” Jacob chỉ vào ngọn gió đang gầm rít, theo một hướng trông không có vẻ gì là hứa hẹn hơn các hướng khác.
“Còn người thứ hai thì sao?”
“Tôi không biết. Có lẽ đã bị lạc đường.”
Họ lại tiếp tục chuyến đi khổ sở, lần theo những bụi cỏ và tảng đá thình lình nhô lên giữa trảng thực vật đầm lầy. Những tảng đá này có nhiều màu kỳ lạ - xanh lục đậm, hoặc tím, hoặc màu cam u tối. Đôi lúc có một vũng nước đen đá đóng băng cứng rắn, những lúc khác chân họ đạp xuống một mảng băng mỏng rồi ngập trong một vũng tối đen kinh khủng của nước và bùn lạnh buốt. Donald cảm thấy kinh hoàng với ý nghĩ họ sẽ chỉ tìm thấy một thi hài - là khả năng rất dễ xảy ra. Làm thế nào có ai đó sống sót ở đây, lạc đường và cô độc? Anh cố tự nhủ rằng hai người không còn cách xa phía sau cái xác, rồi lại có ý nghĩ khủng khiếp là Jacob có thể bỏ anh lại, mà không có chủ ý, và rồi anh, Donald, sẽ cô độc y như chàng trai trẻ kia. Anh sẽ sống sót được bao lâu? Anh cố bám theo cái bóng đen đi phía trước, nhất quyết không để chuyện đó xảy ra. Lại có hiện tượng sinh lý học trái khoáy là vết thương ở mạn sườn đau nhức trở lại, nhắc cho anh nhớ về thể chất mỏng manh của mình - hoặc có phải nó nhắc cho anh rằng Jacob, bây giờ là người bảo vệ mạng sống của anh, mới gần đây đã cầm dao đâm anh?
Cuối cùng, hai người đi đến một dòng sông nhỏ chảy ngoằn ngoèo vô hình qua vùng đất. Đen như dầu thô giữa hai bờ băng giá.
Jacob dừng anh lại, chỉ đến một vũng bùn hỗn độn đã đóng băng thành những chỏm và khe: “Có những người ở đây. Và một con ngựa. Tôi có thể nói anh ta nhập đoàn với họ.”
Jacob mỉm cười, và Donald cố tỏ vẻ vui lòng. Nhưng chủ yếu anh thấy mình không đi tiếp được nữa. Anh mang trong lòng nỗi căm ghét đối với địa hình mà trước đây anh chưa từng thấy. Con người không có mục đích gì để đi đến đây. Ý nghĩ về một người cưỡi ngựa nhặt được anh trai trẻ càng thêm khủng khiếp - có Trời biết được bây giờ hai người mình phải đi bộ bao xa. Anh không hiểu được tại sao Jacob không chịu đi ngựa; anh lại nghĩ đến khả năng là toàn thể vụ việc chỉ là để làm nốt cái thủ đoạn mà con dao kia làm chưa đến nơi đến chốn.
Jacob dẫn đường đi xa khỏi con sông, và Donald lê lếch đi theo, đôi mắt vẫn dán lên mặt đất xảo trá, chết lặng dưới bước chân của họ.
Thình lình Jacob dừng bước và Donald bước ngay đến sau lưng anh ta, cảm giác anh mờ mịt về quanh cảnh chung quanh. Jacob nắm lấy cánh tay anh, và cười vào mặt anh: “Anh Moody, nhìn kìa! Nhìn!”
Anh ta đang chỉ xuống mặt tuyết và bóng tối nhá nhem đang âm thầm bao phủ quanh họ. Và trong khoảng màu xám xoáy lốc, anh nhìn ra những điểm ánh sáng. Anh cười nhăn nhở, và cảm thấy bầu máu nóng dâng lên đến cằm - đôi môi anh đã nứt nẻ. Nhưng không có gì dập tắt được niềm vui. Sẽ có những ngôi nhà, cư dân, sự ấm cúng... sẽ có ngọn lửa, và thậm chí tốt hơn nữa, những bức tường! Những bức tường ngăn cách giữa anh và thời tiết. Trong một khoảnh khắc sướng thỏa, anh sống lại nỗi kích động lúc trước khi nhìn thấy vầng trăng, anh cảm nhận lại niềm vui vô bờ của một đứa con trai mười bốn tuổi, và anh kinh qua niềm hạnh phúc thuần khiết mà có vẻ như tất cả mệt nhọc trong mấy ngày qua, tất cả thiếu thốn trong năm rưỡi qua, đều rất đáng giá. Anh lập cập vỗ vai Jacob, tin chắc rằng anh chàng này là người giỏi nhất, người cao quý nhất mà mình từng gặp trong đời.
Bốn mươi phút sau, họ đi vào một khoảnh sân rộng, bao quanh là những ngôi nhà tề chỉnh bằng gỗ. Có những chuồng gia súc được quây rào kín, bên trong bốc hơi nước; một ngôi nhà thờ với ngọn tháp, trên cùng là cây thánh giá sơn màu đỏ nhòe. Ánh sáng tỏa ra từ các cửa sổ soi rọi khoảnh sân băng giá, trông như xứ thần tiên. Donald kiềm chế những giọt lệ biết ơn khi hai người đi đến tòa nhà lớn nhất, và gõ trên cánh cửa.
***
Lúc còn là đứa con gái nhỏ cũng như lúc ở trong bệnh viện tâm thần, tôi thường nghĩ rằng khi kết hôn thì người ta sẽ không bao giờ cảm thấy cô đơn nữa. Có lúc tôi hồ nghi liệu mình còn hết cô đơn hay không; tôi đoán số phận mình là kẻ bên lề xã hội, hoặc tệ hại hơn, là gái già không chồng. Tôi có bạn bè trong bệnh viện tâm thần, ngay cả bác sĩ Watson cũng là một người bạn đặc biệt; nhưng làm bệnh nhân của một bác sĩ chữa bệnh điên không giúp cho tôi cảm nhận mình sống trong một thế giới bình thường, hoặc được an toàn. Chồng tôi đã mang lại cho tôi điều mà tôi không hề mong đợi trước đấy: cảm nhận về tính cách hợp pháp. Và cảm nhận rằng ở đây, có một người mà tôi có thể bộc bạch tất cả. Tôi không cần phải giả vờ. Tôi nghĩ điều tôi đang nói là, tôi đã yêu anh ấy. Tôi biết anh ấy đã yêu tôi, tôi chỉ không biết khi nào điều này không còn là sự thật.
Đêm đã khuya; tôi lại mất ngủ vì nghĩ ngợi về cuộc gặp gỡ kế tiếp với người bị giam giữ; Knox đã đồng ý cho tôi quay lại, miễn là tôi phải rất kín đáo. Tôi nghĩ ông cảm thấy xúc phạm vì tôi đã lợi dụng thảm kịch của vợ ông mà chống lại ông, và tôi phải thầm cảm ơn ông đã đồng ý. Ông e sợ người nhân viên của Công ty. Ông cũng sợ rằng mình suy nghĩ quá yếu mềm. Tôi nằm kề bên chồng tôi, và Angus trong giấc ngủ quay người ôm lấy tôi, là hành động mà anh không hề thể hiện trong một thời gian dài. Tôi không dám nhúc nhích, tự hỏi anh biết - hoặc mơ thấy - anh đang làm gì hay không. Sau một lúc, anh khụt khịt rồi quay người đi, lại đưa lưng về phía tôi. Và tôi chưa từng cảm thấy cô đơn đến thế, ngay cả trong những khoảnh khắc đen tối nhất ở bệnh viện tâm thần sau khi cha tôi qua đời. Nếu Olivia còn sống, liệu mọi việc sẽ khác biệt không? Nếu Francis không bao giờ đến với hai vợ chồng tôi?
Mấy câu hỏi không đâu vào đâu. Cách thức tôi thích hỏi.
Tôi ghét tính yếu mềm trong con người mình - cách độc thoại không có điểm dừng thay cho hành động, và nhiều lúc (thường là trong đêm khuya) tôi ước gì mình giống như Ann Pretty. Chị có thể không may mà mang họ Pretty, nhưng đôi lúc tôi nghĩ chị là mẫu người hoàn chỉnh của nhà tiên phong trong vùng hoang dã, cá thể có xương sống giỏi sinh tồn, mạnh mẽ, không giàu tưởng tượng, không tẩn mẩn. Chị sẽ không phải thức trong đêm mà thắc mắc chồng mình - hoặc bất kỳ ai khác - nghĩ về mình ra sao. Chị sẽ không mất đứa con mình trong vùng hoang dã.
Tôi bước ra khỏi giường, và rồi để kiếm việc nào đó mà làm, tôi bắt đầu chuẩn bị một cái túi cho cuộc hành trình mà tôi đang trù định. Thật sự mà nói, tôi không thiết tha lắm với việc này; tôi sẽ phải đối diện với cơn sợ hãi vùng hoang dã, tôi thiếu can đảm. Ai biết được, có lẽ Moody và anh kia sẽ về đây cùng với Francis. Tôi không màng nếu họ bắt giữ nó, miễn là họ tìm được nó và nó bình an. Rồi có lẽ chính nó sẽ bị giam trong kho chứa hàng ở Caulfield, run rẩy trong khoảng không gian trống trải như hang động mờ mịt, nhưng được an toàn. Tự nhủ lòng mình như thế, tôi thu nhặt những bộ quần áo dày nhất và thực phẩm trữ được lâu. Đấy có phần giống như chuẩn bị đi picnic; nếu tôi nghĩ như thế thì sự việc xem dường không tồi tệ lắm.
Tiếng gõ cửa khe khẽ không làm cho tôi ngạc nhiên lắm: tôi đang nghĩ về Francis, thế nên có lẽ chuyện phải đến là niềm khát khao của tôi đã được đáp ứng. Tôi nắm chặt cánh cửa trong nỗi vui mừng để chuẩn bị kéo cánh cửa mở rộng, tập trung ngôn từ để thốt ra với con tôi, cùng với những dòng lệ, trong màn đêm vẫn còn bao trùm. Tôi nhìn quanh, thì thầm tên của nó - điều kỳ lạ là tôi thì thầm, như thể tôi có linh cảm.
Một người đang đứng trong bóng tối - tôi đoán để làm nhẹ cơn sốc, hầu đôi mắt tôi phải tìm kiếm nó, và chỉ dần dần tôi mới nhận ra người ấy là ai.
Người bị giam giữ giơ bàn tay lên trong cử chỉ làm nguôi giận: “Xin bà đừng la lớn.”
Tôi trân trối nhìn. Tôi sẽ không la lớn. Tôi lấy làm hãnh diện không phải vì la lớn, ngay cả trong hoàn cảnh gay go.
“Tôi xin lỗi đã làm bà giật mình. Knox đã trả tự do cho tôi. Tôi định đì tìm con trai bà, bởi vì tôi nghĩ anh ấy trông thấy kẻ sát nhân. Nhưng tôi cần đồ tiếp tế, và khẩu súng của tôi bị tịch thu. Và tôi tin bà đang giữ các con chó của tôi.”
Tôi chăm chăm nhìn ông mà thấy khó tin, không hiểu lắm ông nói gì.
“Bà Ross ạ, tôi cần bà giúp, và bà cần tôi giúp.”
Thế là, sự việc diễn ra như sau: hai người cần nhau thì hợp tác với nhau; không liên quan gì đến sự tin cậy hoặc lòng tử tế hoặc ý niệm tình cảm. Tôi hiểu rõ việc ông nói về Knox và tại sao ông ấy trả tự do cho ông theo cách lén lút như thế, nhưng xem qua khuôn mặt bị thương tích của ông tôi có thể tin rằng Mackinley đã gây ra việc này. Parker cần khẩu súng và thực phẩm và các con chó, còn tôi cần người hướng đạo để theo dấu Francis, và có thể ông nghĩ Francis sẽ ăn nói cởi mở hơn nếu có tôi ở đấy - Francis cũng cần một thứ. Thế là trong khi chồng tôi đang ngủ say trên lầu, chúng tôi sắp xếp hành trang, riêng tôi chuẩn bị đi ra vùng hoang dã với một nghi phạm trong vụ án mạng. Điều tệ hại hơn nữa là đi với một người mà tôi chưa được giới thiệu đàng hoàng. Tôi quá sốc nên không cảm thấy sợ hãi, quá kích xúc nên không màng về hành động không phải phép này. Tôi đoán nếu bạn đã mất đi cái gì quý giá nhất, thì tiếng tăm và danh dự chỉ là chuyện tầm phào. (Hơn nữa, trong tình huống tồi tệ nhất, tôi có thể tự nhắc nhở rằng có lúc tôi đã bán danh dự của mình còn rẻ hơn thế này. Tôi có thể tự nhắc nhở như thế khi cần.)
Một màn tuyết mỏng rơi xuống từ phía Sông Dove, hai con chó âm thầm chạy bên cạnh Parker. Một tiếng đồng hồ sau khi qua khỏi ngôi nhà của Pretty, ông đi đến một chỗ cất giấu giữa các đám rễ cây và nhanh chóng làm một chiếc xe trượt tuyết từ những vật liệu ông tìm được ở đây - một loại cỗ xe nhẹ, mảnh mai bằng gỗ liễu với một vị trí trông giống như một kiểu chỗ ngồi được lót bằng da thuộc. Tôi suýt cảm ơn ông về tính chu đáo này thì ông đã chất thực phẩm và chăn mền lên chỗ ngồi đó. Hai con chó bị kích động vì tuyết và xe trượt, sủa lên vài tiếng. Suốt việc này, kéo dài khoảng nửa tiếng đồng hồ, Parker không nhìn đến tôi hoặc nói một lời. Tôi không nghĩ ông màng đến việc tách tôi ra khỏi danh dự của tôi. Ông giật giây cương rồi tiếp tục lên đường, tiến về phía bắc, dọc Sông Dove, chỉ được hướng dẫn bởi âm thanh của dòng nước, và một ánh lờ mờ, vô định hình, dường như xuất phát từ tuyết.
Tôi đi theo ông, hay va vấp vì loại giày da đanh mà tôi không quen thuộc nhưng ông cứ bắt buộc tôi mang. Tôi nhất quyết sẽ không phàn nàn, cho dù sự thể sẽ ra sao.
***
Tuy hiếm hoi, nhưng vẫn có người từ phương xa đi đến Himmelvanger; thường là người Da Đỏ đến trao đổi hàng hóa và tin tức. Per yêu cầu tiếp đãi tất cả, vì họ là láng giềng, và người ta phải sống hòa thuận với láng giềng. Và họ cũng là con cái của Thượng đế, cho dù sống trong cảnh tồi tàn và dốt nát. Đôi lúc họ tìm đến khi người thân của họ bị bệnh và thuốc men của họ không có hiệu quả. Họ đến với vẻ mặt u sầu và tinh thần nặng trĩu, chăm chú nhìn khi người đàn ông Na Uy phân phát ít liều laudanum hoặc ipecac hoặc camphor, hoặc chính dược phẩm cổ truyền của Na Uy vốn cũng thường thiếu công hiệu. Mỗi lần như thế, Per hy vọng sẽ không giống như những lần khác.
Người da trắng chìa ra một bàn tay đã cóng lạnh. Băng giá đóng quanh rìa tròng kính của anh, làm cho khuôn mặt anh trông lạ lùng, như một con chim cú.
“Xin lỗi đã xâm phạm. Chúng tôi là nhân viên Công ty Vịnh Hudson, và chúng tôi có công việc ở đây.”
Per càng thêm kinh ngạc, tự hỏi Công ty có thể cần cái quái gì nơi mình. “Xin mời vào. Các ông hẳn đã cóng lạnh. Bàn tay ông...” Bàn tay mà ông bắt lấy đã thâm tím vì thời tiết buốt giá, không còn sức lực, như một miếng thịt đông lạnh.
Per bước lùi lại, nhường chỗ cho họ đi vào nơi trú ẩn ấm áp: “Các ông có gia súc không?”
“Không. Chúng tôi đi bộ.”
Per nhíu mày, dẫn họ vào một phòng nhỏ gần gian bếp, rồi gọi Sigi và Hilde đến; hai người này cố xoay xở để mang đến món thịt hầm và bánh mỳ và cà phê cho hai người.
Sigi tròn xoe đôi mắt vì hiếu kỳ đối với hai người khách lạ: “Trời đất, Per ơi, Thượng đế đưa đến chúng ta mọi loại khách trong mùa đông này.”
Per đáp lời có phần gay gắt - ông không thích người ta buôn chuyện và loan truyền lời đồn đại, trong khi ông chưa hiểu được chuyện gì. May mắn là hai người khách không hiểu tiếng Na Uy. Họ mỉm cười một cách ngốc nghếch vì đói khát và mỏi mệt, xoa hai bàn tay rồi sa xuống thức ăn với cử chỉ nồng nhiệt biết ơn.
Khi hơi ấm bắt đầu lan đến hai bàn tay, Donald có cảm giác đau và ngứa, và dưới ánh đèn hai bàn tay trông bầm tím. Một phụ nữ mang đến một thau đựng tuyết và bắt anh chà xát hai bàn tay trong đó, rồi dần dần hai bàn tay lấy lại cuộc sống đau đớn. Người phụ nữ mỉm cười với anh khi chăm sóc anh, nhưng không nói năng gì - Per giải thích rằng họ là người Na Uy, và không phải ai cũng nói được tiếng Anh.
“Thế thì hai nhân viên Công ty đang làm gì ở đây trong tháng Mười một này?”
“Thật ra, đây không hẳn là công việc của Công ty.” Donald thấy khó mà kiềm hãm nụ cười của mình - anh vẫn không tin vào vận may của mình khi không những tìm được nơi cư trú, mà còn tìm được chốn văn minh và một con người văn minh như Per Olson để nói chuyện.
“Hai anh đang trên đường đi đâu phải không?”
Giọng nói của ông ám chỉ việc này là không thể được. Donald cố gắng không mở miệng nói khi miệng đầy bánh hạnh nhân. (Hạnh nhân! Họ thật sự được may mắn ở đây.)
“Chúng tôi đang trên đường đi tìm một người. Chúng tôi đã đi theo dấu chân của người này từ Sông Dove ở vùng Vịnh, lên đến con sông cắt ngang cao nguyên, và rồi dấu chân dẫn đến đây.” Anh nhìn qua Jacob để được xác nhận, nhưng có vẻ như Jacob ngượng ngập với sự hiện diện của những người khác, nên chỉ nghiêng đầu.
Per lắng nghe một cách nghiêm túc, và rời khỏi phòng một lúc. Donald đoán ông đi ra để bàn bạc với vài người khác, bởi vì khi ông trở lại, có một người đi theo mà ông giới thiệu là Jens Andreassen.
Per nói: “Jens có đôi điều muốn kể cho hai anh nghe.”
Jens, người bẽn lẽn, cử chỉ chậm chạp với cái lưỡi có vẻ như quá lớn so với miệng, kể lại việc mình đã tìm thấy anh con trai bên bờ sông, gần như chết. Ông đã mang anh con trai đến Himmelvanger, nơi người ta chăm sóc cho anh. Ông nói bằng tiếng Na Uy, và Per chậm rãi thông dịch lại, cố gắng sử dụng đúng từ ngữ.
Donald có thể nhận ra thái độ che chở của Per; Francis là con chiên lạc bầy mà Thượng đế đã dẫn dắt đến cho ông chăm sóc.
“Hai anh nghi ngờ anh ấy về chuyện gì? Chuyện gì đã xảy ra?”
Donald không muốn tiết lộ tất cả tình tiết. Nếu Per muốn che chở cho Francis, anh không muốn đối đầu với Per. “À, có một vụ tấn công nghiêm trọng.”
Per nhìn lên, đôi mắt nhợt nhạt mở to; khi ông thông dịch cho Jens hiểu, cả hai nhìn nhau trong dáng vẻ bị sốc.
“Dĩ nhiên là chúng tôi không chắc Francis phạm tội; nhưng chúng tôi cần tìm ra anh ấy. Mẹ của anh vô cùng lo lắng cho dù có bất cứ chuyện gì.”
Per nhíu mày: “Ai là Francis?”
“Người con trai. Tên anh ấy là Francis Ross.”
Per suy nghĩ một hồi, rồi nói: “Anh con trai này nói tên mình là Laurent.”
Donald và Jacob nhìn nhau. Donald thấy lạnh cả sống lưng vì phát hiện điều chắc chắn.
Per cho ý kiến: “Có thể đây là người khác.”
Donald cất tiếng mà không giấu nỗi kích xúc: “Dấu chân dẫn đến đây. Khó mà nhầm lẫn được. Anh ấy là người Anh với mái tóc đen. Anh ấy không giống người Anh, người... Pháp hoặc Tây Ban Nha thì đúng hơn.” Đấy là mô tả của Maria.
Per cắn đôi môi đỏ trông như con gái: “Nghe có vẻ như là anh ấy.”
“Anh ấy còn nói gì nữa?”
“Chỉ là... là anh ấy đang đi tìm việc làm mới, nhưng người hướng đạo bỏ anh đi lạc. Anh ấy nói đang trên đường đi về hướng tây-bắc với một người Da Đỏ làm hướng đạo.” Đôi mắt của Per khẽ nhấp nháy về phía Jacob.
Per quay sang Jens và giải thích điều này. Jens lại cất tiếng, để trả lời câu hỏi nào đó.
“Jens nói anh ấy nghĩ điều kỳ lạ là tìm thấy anh con trai đó một mình. Anh con trai này không thể... không thể đi đến đây một mình, trong thời tiết như thế này.”
“Tại sao không?”
“Anh con trai đã rất mỏi mệt, rất... kiệt sức. Anh ấy hẳn đã không thể đi xa như vậy trừ khi được giúp đỡ hoặc... bị cưỡng ép.”
Donald nghĩ mặc cảm phạm tội là động lực mạnh.
Per tiếp tục: “Tôi cũng nghĩ đó là điều kỳ lạ. Anh ấy nói mình cần có việc làm để kiếm tiền, nhưng anh ấy lại mang theo nhiều tiền, trên bốn mươi đô la. Anh ấy cũng có vật này, và rất lo lắng muốn giữ nó.”
Per nhặt lấy từ trên sàn nhà một vật mà Donald đã không để ý; một chiếc túi da mà người Da Đỏ mang quanh cổ để đựng thuốc lá và bùi nhùi. Ông mở chiếc túi, xốc ra một cuộn giấy bạc, và một tấm thẻ mỏng bằng xương hoặc ngà, lớn bằng bàn tay, được khắc những hình thù và những dấu hiệu nhỏ. Tấm thẻ rất dơ bẩn. Donal nhìn trân trối tấm thẻ, cổ họng anh co thắt, và đưa bàn tay ra.
“Vật này thuộc về Laurent Jammet.”
“Laurent Jammet?”
“Nạn nhân của vụ tấn công.”
Per chăm chăm nhìn Donald: “Anh nói ‘thuộc về’. À ra thế.”
Khi họ được đưa đến phòng bệnh, Donald lập tức hiểu ra miêu tả của Maria về Francis. Một phụ nữ trẻ, da ngăm đen đứng lên khi cánh cửa mở, nhìn họ với dáng điệu hồ nghi rồi bước ra ngoài, chiếc váy đập sột soạt vào hai ống quần một cách ngổ ngáo. Anh con trai im lặng nhìn khi họ ngồi xuống, rồi Per giới thiệu anh. Tương phản với màu vải giường trắng, làn da anh có màu vàng bủng, trông như người Nam Mỹ. Tóc anh đen và dài; đôi mắt màu xanh lam và sâu. Maria cũng nói anh trông đẹp trai; một đứa trẻ bô trai. Donald không hiểu Francis đẹp trai ở chỗ nào, nhưng không có vẻ gì trẻ con trong thái độ thù địch phát tiết từ con người anh ta. Đôi mắt xanh nhìn chăm chăm không chớp, khiến cho Donald lóng ngóng và ngượng nghịu. Donald rút ra quyển sổ tay rồi chỉnh lại chiếc ghế, và quyển sổ tay rơi xuống sàn nhà. Anh rủa thầm và nhặt nó lên, cố phớt lờ cảm giác nóng bừng trên cổ và mặt. Anh nhìn đến Francis, và bây giờ Francis tránh ánh mắt anh, rồi anh đằng hắng.
Per cố tìm cách trấn an: “Đây là anh Moody, nhân viên Công ty Vịnh Hudson. Anh ấy đi từ Sông Dove. Anh ấy nói cha mẹ anh rất lo lắng cho anh.”
“Chào Francis.”
Francis khẽ gật đầu, như thể Donald không đáng cho anh ta quan tâm.
“Anh có biết tại sao tôi đến đây không?”
Francis chăm chăm nhìn anh.
“Anh là Francis Ross phải không?”
Francis nhìn xuống, và Donald hiểu đó là cách xác nhận. Donald quay sang nhìn Per lúc này đang chăm chăm nhìn anh con trai.
“À... ở Sông Dove, anh có biết một người tên Laurent Jammet không?”
Anh con trai nuốt nước bọt. Donald nhận thấy có vẻ như các bắp cơ hàm của anh ta căng cứng, và rồi anh ta gật đầu, khiến cho Donald ngạc nhiên.
“Lần cuối cùng anh thấy anh ấy là khi nào?”
Một khoảnh khắc im lặng dài, và Donald tự hỏi liệu anh con trai chịu nói ra hay không.
“Tôi thấy anh ấy khi anh đã chết. Tôi thấy người giết anh ấy, nên tôi theo dõi hắn trong bốn ngày, rồi tôi mất dấu.”
Giọng anh con trai đơn điệu và nhỏ nhẹ. Donald chăm chăm nhìn anh ta, cảm thấy vừa kích động vừa khó tin. Anh phải tự nhắc mình cần tiến hành một cách cẩn thận, làm từng bước; phải chờ cho đến khi một bước đã vững trước khi bước tiếp, tương tự khi đi qua vùng đầm lầy như trong địa ngục kia. Anh đặt quyển sổ tay thật vững vàng trên lòng mình.
“Cho tôi biết anh nhìn thấy... chuyện gì, một cách chính xác... và diễn ra khi nào.”
Francis thở dài: “Vào đêm tôi ra đi… Đó là... nhiều ngày trước. Tôi không nhớ.”
Per nhẹ nhàng chen vào: “Anh đã ở đây năm ngày rồi.” Donald nhíu mày với ông. Per nhìn lại anh với thái độ hòa nhã ngầm cho biết mình không có lỗi.
“Thế là… năm ngày trước đó, có lẽ vậy? Tôi đang đi đến ngôi nhà gỗ của Laurent Jammet. Trời đã tối, và tôi nghĩ anh ấy không có ở đó. Rồi tôi thấy một người đàn ông bước ra và đi khỏi. Tôi đi vào, và thấy anh ấy.”
“Thấy ai?”
“Jammet.”
Anh con trai lại nuốt nước bọt, hiển nhiên với sự khó khăn. Donald chờ một hồi lâu cho anh ta tiếp tục.
“Anh ấy vừa... chết. Thân người còn ấm, máu chưa đặc. Vì thế mà tôi biết người kia là kẻ sát nhân.”
Donald ghi chép lời của Francis. “Người... đàn ông đó, anh quen biết không?”
“Không.”
“Anh có nhìn ra nhân dạng ông ta như thế nào không?”
“Chỉ thấy đó là người bản địa, tóc dài. Tôi thoáng nhìn thấy mặt ông ta, nhưng trời tối quá. Tôi không thấy nhiều.”
Donald ghi chép, và giữ nét mặt trung lập: “Anh có thể nhận ra ông ta nếu gặp lại ông ta không?”
Mất một lúc lâu mới có câu trả lời: “Có lẽ.”
“Quần áo ông ta như thế nào - ông ta mặc gì?”
Francis lắc đầu: “Lúc đó trời đã tối. Quần áo màu sẫm.”
“Ông ta ăn mặc giống tôi không? Hay giống như người đặt bẫy? Anh hẳn phải có cảm tưởng gì đó.”
“Giống như người đặt bẫy.”
“Anh đi đến nhà của Jammet để làm gì?”
“Chúng tôi là bạn với nhau.”
“Lúc đó là mấy giờ?”
“Tôi không biết. Mười một. Có lẽ nửa đêm.”
Donald nhìn lên, cố nhìn vẻ mặt anh con trai và cùng lúc ghi chép lời anh ta. “Khuya như vậy hả?”
Francis nhún vai.
“Anh có thường đến thăm anh ấy vào giờ giấc như vậy không?”
“Anh ấy không đi ngủ sớm. Anh ấy không phải là nông dân.”
“Thế là... anh trông thấy thi hài. Và rồi anh làm gì?”
“Tôi đi theo người kia.”
“Anh có về nhà... lấy đồ đạc không?”
“Không. Tôi lấy vài món của Jammet.”
“Anh không nghĩ đến việc kể cho cha mẹ anh hay sao? Hoặc yêu cầu ai đó giúp, ai đó có năng lực tốt hơn để đối phó với chuyện như thế này?”
“Không có thời giờ. Tôi không muốn mất dấu người kia.”
“Không muốn mất dấu người kia. Thế thì anh lấy theo những món gì?”
“Chỉ mấy thứ tôi cần. Một áo choàng... Thức ăn.”
“Còn gì nữa không?”
“Tại sao? Có hề gì không?” Francis ngước mặt để nhìn Donald: “Anh nghĩ tôi giết anh ấy hay sao?”
Donald nhìn lại, trầm tĩnh nói: “Anh có giết anh ấy không?”
“Tôi vừa nói - Tôi trông thấy kẻ giết người. Anh ấy là bạn tôi. Tại sao tôi lại giết anh ấy?”
“Tôi chỉ cố tìm hiểu chuyện gì đã diễn ra.”
Per khẽ cử động, như tuồng có ý cảnh cáo. Donald không rõ có nên cật vấn chàng trai trẻ thêm, hoặc thẳng thừng kết tội anh ta. Anh đang lần mò trong bóng tối, giống như một bác sĩ phẫu thuật tay mơ, không biết tìm ra đâu là cơ quan chủ yếu của sự thật.
Per nói: “Anh con trai rất mệt mỏi.”
Đúng là anh con trai xem dường mệt mỏi, làn da căng trên bộ xương.
“Chỉ thêm một chốc thôi, xin anh vui lòng. Anh nói là anh đi đến nhà của anh... của anh Jammet lúc nửa đêm, thấy anh ấy đã chết, rồi đi theo người mà anh nghĩ là kẻ sát nhân, nhưng anh mất dấu hắn.”
“Đúng.” Anh con trai nhắm hai mắt lại.
“Mảnh xương đó là cái gì?”
Francis lại mở mắt ra, lần này là do kinh ngạc.
“Anh biết tôi muốn nói gì, phải không?”
“Tôi không biết đó là cái gì.”
“Anh mang nó theo bên mình. Anh hẳn phải có một lý do.”
“Anh ấy cho tôi.”
“Anh ấy cho anh hả? Đó là vật có giá.”
“Anh đã thấy nó chưa? Tôi không nghĩ nó có giá.”
“Còn về khoản tiền thì sao? Anh ấy cũng cho anh, phải không?”
“Không. Nhưng tôi cần sự giúp đỡ để tìm... người đàn ông. Tôi có thể phải... chi trả cho ai đó.”
“Xin lỗi, tôi không hiểu. Chi trả cho ai đó để làm gì?”
Francis quay mặt đi: “Anh có ý gì?”
Per lại đằng hắng và nhìn qua Donald. Anh xếp lại quyển sổ tay với vẻ miễn cưỡng.
Bên ngoài, Per nắm lấy cánh tay Donald, nói: “Xin lỗi, nhưng tôi phải lo cho sức khỏe của cậu ấy. Khi được Jens mang vào thì cậu ấy gần như chết.”
“Không sao đâu.” Donald không thực sự nghĩ thế, nhưng dù sao chăng nữa anh là khách ở đây. Anh nói tiếp: “Nhưng tôi mong ông hiểu cho là, trong tình huống này, tôi phải đặt anh ta dưới sự quản thúc. Kể cả số tiền của anh ta, và đại loại như vậy.”
Per có thói quen đứng nghiêng về phía bất cứ người nào ông đang tiếp chuyện, mà Donald nhận ra rằng có lẽ do ông thấp người. Đứng kề bên, với đôi mắt nhạt màu và hơi lồi, có vẻ như Per thoang thoảng tỏa ra mùi của dê.
“Đó là quyết định của anh, được thôi.”
“Vâng. Đúng vậy. Thế thì… tôi muốn cử một người canh gác bên ngoài phòng anh ta.”
“Để làm gì? Anh ấy khó mà rời khỏi Himmelvanger, cho dù chân lành lặn, đi đứng được.”
“À, được thôi...” Donald cảm thấy mình xuẩn ngốc, bỗng dưng nhận ra tuyết đang rơi bên ngoài cửa sổ. “Miễn là chúng ta có thể để mắt trông chừng anh ta.”
Với ánh mắt hướng lên trần nhà, Per nói một cách nghiêm trang: “Nơi đây chẳng có gì bí mật cả.”
***
Qua khung cửa sổ, Andrew Knox nhìn tuyết rơi với tâm trạng lẫn lộn. Một mặt, ông nhận ra có sự trêu đùa nào đó của cô chị rằng em gái Susannah quan hệ tình cảm với Donald, và vì thế ông có mối quan ngại của người cha về cái anh nhân viên trẻ của Công ty đang dấn thân vào chốn lùm bụi. Mặt khác, ông cảm thấy nhẹ nhõm khi nghĩ về dấu chân của người bị giam giữ bị lấp dưới lớp tuyết. Đó là tuyết khô, tuyết mùa đông thực sự, che phủ mặt đất cho đến mùa xuân năm sau. Dĩ nhiên là ông than thở về điều này với Mackinley và những người còn lại, và giúp tổ chức người tình nguyện thành những nhóm tìm kiếm để ít nhất xác nhận phương hướng của kẻ đào tẩu.
Sau khi họ ra đi, Knox mời Adam vào phòng đọc sách và giảng cho anh một bài học dài về mức độ nghiêm trọng trong sai sót của anh. Adam phản đối mạnh mẽ rằng anh nhớ rất rõ đã quàng dây xích và khóa cánh cửa, và Knox nhìn nhận có thể có cách giải thích khác cho vụ đào tẩu, nên vì lý do này Adam sẽ không bị mất việc. Lời lẽ của Adam là pha trộn giữa sự phản đối đúng lý và lòng biết ơn bực bội; cả hai người biết anh làm đúng, nhưng họ cũng biết có giới hạn trong việc người làm tranh luận với ông chủ. Cuộc đời không công bằng.
Như thể vụ việc này chưa đủ phức tạp, một tiếng đồng hồ trước có lời đồn đại khác thường từ Sông Dove rằng Bà Ross đã biến mất, và người ta râm ran buôn chuyện là bà đã bị kẻ đào tẩu bắt cóc. Knox kinh hoàng với sự cố này, bối rối về vai trò của mình trong đó. Có phải bằng cách nào đó ông đã gây ra chuyện này khi cho phép bà tiếp xúc với người đàn ông? Hoặc việc hai người biến mất đơn thuần là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Ông phải nhìn nhận rằng có lẽ không phải vậy. Suy đi tính lại, ông phải hy vọng là bà đã bị bắt cóc, bởi vì nếu tự đi một mình thì bà sẽ không có cơ may sống sót trong thời tiết như thế này.
Khi ông báo tin cho bà vợ và hai cô con gái, ông cẩn thận nhấn mạnh mình tin chắc rằng người bị giam giữ đang đi khỏi Caulfield càng xa càng tốt. Như ông đã đoán trước, vợ con ông tỏ ra kinh hoàng đối với tin Bà Ross mất tích. Đó là cơn ác mộng của bất kỳ phụ nữ da trắng nào sống trong vùng đất hung dữ này; cho dù ông trấn an họ rằng đây chỉ là tin đồn. Nhưng trong đầu óc mọi người, việc người bị giam giữ đào tẩu và người phụ nữ bị bắt cóc chứng tỏ Parker có tội.
Mackinley đón nhận tin tức với nét mặt nghiêm trọng trong sự thỏa mãn, dù cho ông mắng nhiếc sự ngu dốt của Adam và trách móc việc Caulfield thiếu cơ sở thích hợp để giam giữ phạm nhân. Bây giờ ông gia nhập một trong những nhóm tìm kiếm, lùng sục mọi dấu vết dọc bờ vịnh. Sau khi gặp Mackinley để cho biết về sự đào tẩu, Knox phải tự giam mình trong phòng đọc sách với một ly rượu cô-nhắc, rồi ông lên cơn run rẩy mãnh liệt. May mắn là triệu chứng qua đi trong chốc lát, nhưng ông vẫn không đủ can đảm để đi ra ngoài và đối mặt với mọi người.
“Pa-pa ổn chứ?” Maria đã không gọi ông “pa-pa” trong một thời gian dài mà ông còn nhớ được. Cô đi đến sau lưng ông và đặt hai bàn tay lên hai vai ông: “Quả là chuyện kinh khủng.”
“Có thể còn tồi tệ hơn nữa. Nó luôn tồi tệ hơn.”
Maria trông như vừa khóc - lại thêm một thói quen trẻ con mà ông nghĩ đứa con gái đã từ bỏ. Ông biết cô không lo lắng cho chính cô, mà cho tiếng tăm của ông.
“Con không chịu được người ta sẽ nói gì.”
“Con đừng kết luận vội. Tất cả chúng ta cho rằng mình biết những chuyện gì đã diễn ra, nhưng tất cả chỉ là ức đoán. Nếu con muốn biết cha nghĩ gì…” Ông tỏ ra thận trọng với chính mình: “Phần lớn người bị giam giữ trốn thoát không đi được xa. Có lẽ ông ta sẽ bị bắt lại trong vòng một hoặc hai ngày.”
“Con không chịu được khi nghĩ về người phụ nữ tội nghiệp đó.”
“Chưa ai nói chuyện với chồng bà. Cha sẽ đi trao đổi với ông ấy. Có lẽ rồi sẽ không có chuyện gì cả.”
“Mackinley tỏ vẻ tức giận đến nỗi con nghĩ ông ấy sắp đánh Adam.”
“Ông ta bị thất vọng, ông ta nghĩ việc kết tội sẽ giúp ông ta thăng chức.”
Maria đằng hắng với vẻ miệt thị: “Con không tin sau vụ việc này chúng ta sẽ trở về cuộc sống bình thường.”
“À… chỉ sau vài tháng chúng ta sẽ không còn nhớ gì nhiều.”
Ông liếc ra khung cửa sổ và băn khoăn liệu cô con gái có cảm thấy được thuyết phục hay không. Một lần nữa, đầu óc ông quay cuồng về điều khả dĩ của thảm họa sắp đến. Khi ông nhìn quanh (một vài giây sau? một phút? ông không chắc) thì Maria đã đi ra ngoài. Ông đã bị mê hoặc vì quang cảnh trắng xóa bên ngoài. Những bông tuyết rơi lả tả như lông vũ và bao bọc lấy một lớp không khí trên mặt đất, lọn này chỉ tiếp giáp một ít với lọn kia.
Lớp tuyết hoàn hảo để che lấp mọi dấu vết.
Susannah phản ứng với mọi tin tức căng thẳng trong ngày bằng cách mặc thử các chiếc áo trong phòng cô, gạt qua một bên những kiểu quá lỗi thời. Nghi thức này diễn ra hàng tháng, mỗi khi Susannah cảm thấy cái ách của xứ sở đè nặng quá khó chịu trên đôi vai cô. Maria đứng ngoài lối đi nhìn cô em kéo dải ruy băng của một chiếc áo màu lục với vẻ khinh bỉ. Cô cảm thương em gái vì đã lo lắng với những chuyện như vòng eo và khổ tay áo trong thời gian khủng hoảng.
“Susannah à, cái áo đó mặc rất vừa với em. Đừng xé.”
Susannah nhìn lên: “Em không thể ăn mặc với mấy thứ điên khùng này, trông quá lố bịch.” Cô thở dài và ném chiếc áo xuống. Dải ruy băng làm buồn lòng đã được chính tay Maria kết với những đường chỉ li ti, chắc chắn.
Maria nhặt chiếc áo lên: “Ta có thể thay tay áo mới, có lẽ với đăng ten, tháo phần này ra và thay đường viền cổ áo, thế là sẽ thành thời trang.”
“Em cũng nghĩ vậy. Còn ta sẽ làm gì với cái này?” Cô cầm lên một tấm vải sợi bông in hoa văn những cành cây nhỏ hai màu.
“Hừm... khăn lau đĩa.”
Susannah cười - tiếng cười ha hả trong chốn riêng tư ở nhà, trái ngược với tiếng ngoài công cộng mà mẹ cô nói giống phụ nữ quý phái hơn. “Trông chán quá, phải không? Em không biết mình đang nghĩ gì.”
“Matthew Fox, theo như chị còn nhớ.”
Susannah ném chiếc áo về phía chị: “Càng có thêm lý do để dùng làm khăn lau đĩa.”
Maria ngồi trên giường, chung quanh là mấy món bị phế thải. “Em viết thư cho Donald Moody chưa?”
Susannah tránh ánh mắt của chị: “Em viết thế nào được? Không có cách gì gửi thư cả.”
“Chị nghĩ em đã hứa?”
“À, anh ấy cũng hứa, nhưng em chưa nhận được gì, còn anh ấy biết em ở đâu.”
“À, sẽ sớm có tin tức nào đó. Chị nghĩ họ sẽ nghe tin về người bị giam giữ, và nhận ra họ đang truy lùng sai đối tượng.”
Maria ngả người nằm xuống giữa những chiếc áo: “Chị nghĩ em mến anh ấy.”
“Anh ấy trông được.” Đôi má Susannah ửng đỏ, khiến cho cô cảm thấy bực mình. Maria nhìn em gái mà cười.
“Thôi đi! Nhưng em phải làm gì?”
“À, chị nghĩ em có thể viết vài bức thư dài nồng nàn, cột một dải ruy băng màu hồng, rồi giữ bên cạnh quả tim.”
Maria vui vì thấy Susannah thẹn thùng. Cô đã thấy nhiều anh trai trẻ tỏ lộ yêu mến em gái một cách nồng nàn và nghĩ mình được đáp lại, nhưng chỉ sau khoảng một tuần Susannah đã không quan tâm đến nữa, đôi mắt hướng đến điều gì khác hấp dẫn hơn ở gần đâu đó. Ngăn kéo ở bàn trang điểm của cô em chứa đầy chứng tích tình yêu không được đáp ứng. Ngăn kéo của Maria không mang gánh nặng như thế, nhưng điều này không khiến cho chị ghen tị với em; không hề có. Cô biết em gái cảm thấy phiền hà đối với mọi mối quan tâm, vốn chỉ tạo thêm áp lực cho một người con gái trẻ phải cư xử như một quý cô. Tất cả thanh niên khi đã thấy khuôn mặt và dáng người của Susannah đều không nhận ra sự thật cơ bản về cô - rằng cô có tính thực dụng sâu sắc, thích đi bơi và câu cá hơn là tham gia những buổi tiệc trà thanh lịch. Cô chán ngán cách trò chuyện trừu tượng và bối rối khi nghe lời lẽ hoa mỹ.
Vì lẽ Maria biết được những điều này, cô không ghen tị khi em gái được nhiều thanh niên để ý đến. Và vì lẽ Maria đã biết, khi cô rất mến một anh trai trẻ dạy học ở trường năm rồi, Susannah đã thành thực mong anh sẽ mang lại hạnh phúc cho chị mình. Không phải do lỗi của Susannah khi Robert gặp cô em, nhưng tình cảm của anh ta bị đảo lộn rồi cuối cùng anh ta lắp bắp tỏ tình với cô em. Anh ta phải lẻn trở về Samia trên chuyến tàu sớm nhất do sợ hãi vì phản ứng khủng khiếp của Susannah. Cô không kể cho chị nghe, nhưng chẳng chóng thì chày tin đồn cũng râm ran đây đó, giống như mọi tin khác ở Caulfield. Sau một thời gian âm thầm đau khổ, Maria tạo ra một hình tượng bằng sáp của Robert Fisher rồi chầm chậm nướng trên một ngọn lửa trong phòng ngủ. Điều kỳ lạ là việc này giúp cho cô thoải mái hơn.
Từ lúc đó, Maria gần như có lời thề nguyện là sẽ không yêu đương nữa, vì cô không mường tượng được có người nào đạt đến lý tưởng của mình về người đàn ông - đấy là cha cô. Dù sao chăng nữa, cô không chắc hôn nhân và hạnh phúc gia đình là tất cả những gì đáng tán dương. Ở Caulfield và Sông Dove, phụ nữ phải làm lụng quần quật với tốc độ chóng mặt, đến nỗi khi các ông đạt đến thời kỳ mà bạn có thể gọi là đỉnh cao, thì các ông này trông như đã kết hôn với mẹ của các bà. Đấy là tình cảnh mà Maria không muốn hình dung ra cho mình.
Nhưng có vẻ như Donald là người đàn ông đàng hoàng và thông minh. Từ lâu Maria đã có thói quen là khi vừa gặp ai lần đầu, cô tỏ ra khiêu khích và dễ nổi cáu, nhằm đánh thức người quá nông cạn nên không nhìn rõ chiều sâu trong tâm hồn cô. Đó là một cách thức tự vệ, càng được củng cố là đúng sau mối tình không may. Donald vẫn chịu đựng, cho dù đó là vì Susannah, và cô tôn trọng Donald về điều này. Và rồi, khi hai người gặp nhau trên đường sau khi anh gặp Sturrock, cô có ấn tượng về lời lẽ của anh, thậm chí đến mức tự hỏi liệu những gì cô được nghe về Người Dò tìm là đúng sự thật hay không.
“Còn cái này thì sao?” Susannah đưa ra một chiếc áo bằng len có màu lam nhạt, mà ngày xưa cô yêu thích. “Em muốn mặc lại, nếu thay đổi tay áo theo cách nào đó.”
Có vẻ như cô đã gạt Donald ra ngoài mọi ý nghĩ của mình. Theo một khía cạnh, ngay khi rời Caulfield anh đã không còn hiện diện theo cách có ý nghĩa nào, và trở thành một thể trừu tượng, một tình trạng đình chỉ. Maria nghĩ có lẽ Susannah sẽ không bao giờ viết thư cho anh. Cô tự hỏi nếu Donald không để ý đến Susannah như lần đầu tiên hai người gặp nhau, thì cô có nên để ý đến anh không. Ý nghĩ này dĩ nhiên là điên rồ.
Knox lấy cái bẫy và tự lái xe đến Sông Dove để gặp Angus Ross. Ông đã không xác định được nguồn của lời đồn, và tự trách mình đã tin ngay vào lời đồn này. Kể từ khi lời đồn lan ra, ông đã nghe thêm những câu chuyện ly kỳ hơn: rằng nhà Maclaren đã bị giết trên giường của họ; rằng một đứa trẻ đã mất tích; thậm chí rằng người bị giam giữ đích thân trói Knox khi trốn thoát. Vì thế mà ông mong Bà Ross có mặt ở nhà.
Ông thấy Ross đang sửa hàng rào trên cánh đồng cách xa nhà. Ross vẫn tiếp tục làm việc khi ông đến gần, chỉ đứng thẳng dậy và ra dấu chào hỏi khi ông còn cách ít bước. Ai cũng biết Ross có tính ít nói, cũng như biết vợ ông này không màng đến đất lề quê thói, nhưng Ross vẫn chào hỏi ông một cách thân thiện.
“Angus.”
“Andrew, tôi mong anh vẫn khỏe.”
“Vẫn thường thôi.” Ross là một trong số ít người ở Sông Dove không lấy làm khó khăn mà kêu tên của Knox. “Tôi biết tại sao ông đến đây.”
Ross có đôi mắt và tóc màu nhạt, và tác phong lù đù. Ông khiến cho Knox liên tưởng đến đá hoa cương phong hóa: một người Pict đặc trưng, ông và bà vợ cùng có tính bướng bỉnh, dù bà là người khá thanh lịch và trông giống người Anh, tuy cứng cỏi như đá lửa. Đá hoa cương và đá lửa. Đấy là mẫu người mà thiên hạ không thể nào hình dung được trong những tình huống thân mật. (Knox xoay chuyển ý nghĩ khỏi việc này với sự run rẩy trong tinh thần và tự trách mình.) Và cả hai người đều rất khác biệt với Francis đến nỗi ai cũng biết anh không phải là con ruột của họ.
“Vâng, hôm nay chúng tôi nghe nhiều tin đồn huyễn hoặc. Mọi người đều dao động với việc người bị giam giữ đã trốn thoát. Đây là chuyện vô cùng không may.”
“À, đúng thế. Bà ấy đã đi, nhưng không phải đi vì bị cưỡng ép.”
Knox im lặng để chờ có thêm thông tin. Nhưng Ross không chịu nói thêm.
“Ông biết bà ấy đi đâu không?”
“Đi tìm Francis. Bà ấy nói sẽ đi tìm. Bà không chịu đựng được nỗi lo lắng.”
Knox kinh ngạc đối với vẻ trầm tĩnh của Ross.
“Tôi đoán họ sẽ gặp người của Công ty.”
“Bà ấy không đi một mình sao?”
Ross khẽ nhún vai, nhìn Knox: “Nếu ông hỏi người bị giam giữ có đi cùng bà ấy không, thì tôi không nói được. Tôi không thể tưởng tượng được tại sao ông ta muốn giúp bà ấy, còn ông nghĩ sao?”
“Ông có lo lắng không? Vợ ông, đi ra ngoài kia... vào mùa này trong năm?”
Ross nhặt lên cái rìu và cái cuốc chim rồi đi về phía ngôi nhà: “Vào đây uống trà.”
Knox nhận ra rằng mình không có chọn lựa khác.
Ross cho Knox thấy ông không cần lo lắng về an nguy nhất thời của vợ ông. Hiển nhiên là bà mang theo đủ thứ cần thiết. Ông đã đọc tờ ghi chú bà để lại, chuẩn xác nhưng diễn cảm. Câu “đừng để ý đến những gì anh sẽ nghe” có thể hàm ý việc người bị giam giữ đã trốn thoát, nhưng cũng có thể không đúng. Knox thắc mắc liệu Ross có ghen hay không, là mối quan tâm của một người chồng mà bà vợ có khả năng đi trốn với một người đàn ông khác, cho dù đấy là tình huống kỳ quặc ra sao. Ông không thể phát hiện tâm tư này.
Khi dùng trà, Knox ức đoán về tình trạng cuộc hôn nhân của Ross. Có lẽ trong mấy năm sau này, hai người không còn hòa hợp với nhau nữa. Có lẽ Ross vui vì bà vợ đã ra đi. Và vì đứa con trai đã ra đi.
“Vào lúc này, có lẽ tốt nhất nếu ông không nói gì về việc này với ai cả. Tôi sẽ nói rằng tôi đã trao đổi với ông và rằng không có chuyện gì phải lo. Chúng tôi không muốn có thêm nhiều sự... hoảng hốt.”
Ông dự trù sẽ có thêm nhiều người ra đi về hướng bắc, và cảm thấy một tiếng cười điên dại dâng lên cổ họng khi nghĩ đến điều này. Một phản ứng không thích hợp càng ngày càng diễn ra thường xuyên khi ông đang già đi. Có lẽ đó là do tình trạng lão suy. Ông nuốt tiếng cười - đây là công việc nghiêm túc. Nhưng có lẽ không cần thiết có thêm người, bởi vì hy vọng rằng Donald Moody và Jacob sẽ có mặt tại chỗ - cho dù chỗ đó ở đâu chăng nữa.
Ross gật đầu: “Nếu ông muốn vậy thì được.”
“Tôi có đúng không khi nghĩ rằng ông không có ý định đi theo vợ ông?”
Một khoảnh khắc im lặng. Đối với đa số đàn ông, câu hỏi đó bị xem là thái độ khinh thường.
“Tôi sẽ đi đâu? Trong thời tiết như thế này tôi không biết chắc bà ấy đi đâu. Như tôi đã nói, có phần chắc là bà ấy sẽ gặp người của Công ty.”
Có phải bây giờ ông đang tự minh chứng cho mình? Knox cảm thấy có ác cảm. Ông bắt đầu nhận thấy tính chịu đựng như thế là khó chịu, chưa nói đến đáng ghét.
Knox đứng lên: “Này... cảm ơn ông đã thẳng thắn với tôi. Tôi thành thực mong gia đình ông sẽ chóng ổn thỏa như xưa.”
Ross gật đầu, cảm ơn Knox đã đến thăm, và xem dường không bận tâm về nỗi quan ngại hoặc niềm phấn khởi.
Knox cảm thấy nhẹ nhõm khi từ giã Angus Ross. Ông đã kinh qua những cảm nghĩ tương tự qua cách đối xử với người bản địa - những người không bày tỏ cảm xúc nồng nàn như người da trắng - và quả là lao tâm khổ tứ khi mất nhiều thời gian với người mà một nụ cười bất chợt gây cảm tưởng như là sự yếu đuối của con trẻ.
***
Mặc một chiếc áo choàng mùa đông được cho mượn, Sturrock lần mò đi qua lớp tuyết mới, xem xét mặt đất để tìm dấu vết của đường đào tẩu. Bên tay phải ông, một người đàn ông tên Edward Mackay cũng làm như thế. Bên tay trái ông, một anh trai trẻ dùng một cây gậy chọc xuống mặt đất chỗ này chỗ nọ. Sturrock nhận ra rằng đây là công việc vô vọng. Mọi việc đều được thực hiện sai ngay từ đầu. Khi người ta phát hiện người bị giam giữ đã tẩu thoát, tin tức rò rỉ nhanh chóng như vết dầu loang, cùng lúc trong mọi gia đình ở Caulfield, và cư dân đổ xô ra để săm soi và nêu giả thuyết, vì thế xóa đi mọi dấu chân lân cận. Dù sao chăng nữa, tuyết nhuyễn như bột đã bắt đầu rơi trong đêm, có lẽ che giấu tất cả dấu vết, nhưng có quá nhiều người can dự nên không thể thu thập thông tin từ hiện trường.
Khi Sturrock đi đến thì mặt đất chung quanh kho chứa hàng là một biển bùn và tuyết bẩn, và không ai biết cần tìm kiếm ở đâu. Vì thế, người khỏe mạnh được chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm đi theo một hướng khác nhau, lùng sục mặt đất thành từng hàng mười người. Theo cách này, họ quét qua vùng đất chung quanh Caulfield, phá hủy tất cả thông tin mà mặt đất có thể cung cấp. Sturrock nhỏ nhẹ phản đối vì lý do này, nhưng ông là người ngoài đến đây nên chỉ được lắng nghe một cách lịch sự rồi bị phớt lờ. Đã có vài tin báo nhầm lẫn, khi nhóm người tìm kiếm hô hoán lên rằng họ đã thấy một vết chân hoặc dấu hiệu của một đường đi qua, cuối cùng đó chỉ là hiện tượng thiên nhiên hoặc dấu vết của thú rừng.
Tâm tư của Sturrock hướng về ngôi nhà của Scott, nơi ông cất giấu giấy tờ dưới tấm nệm giường (ông đã kiểm tra để biết chắc không có chuột bọ dùng giấy làm bữa ăn sáng), ông sẵn sàng lưu lại lâu nếu cần, tin rằng mình có thể xin Knox cho vay thêm tiền, trong khi chờ đợi anh con trai của Bà Ross và tấm thẻ xương xuất hiện trở lại. Ông tin chắc rằng không ai ở đây biết tấm thẻ đó là cái gì. Chính ông cũng không biết, và chỉ có một đầu óc hiếm hoi - như đầu óc của ông - mới biết cách nghĩ ra một câu chuyện gì đó thật ly kỳ.
Lần đầu tiên Sturrock gặp Laurent Jammet là năm rồi, vào một ngày u ám, lộng gió ở Toronto. Lúc nào vẫn vậy, Sturrock cứ ôm đồm làm việc này việc nọ mà không có đủ phương tiện, và luôn bị bà chủ nhà Pratt lên mặt dạy đời. Bà là một trong số những người - đáng buồn là có nhiều người - không nhận ra rằng Sturrock là người sinh ra để làm những việc tinh tế trong cuộc sống, và rằng ông giúp tăng giá trị ngôi nhà cho thuê ọp ẹp của bà. Để vực dậy từ những kinh nghiệm thương đau và nghĩ làm thế nào khắc phục tình thế, ông đi đến một trong những quán cà phê mà ông mong có thể xin vay chút tiền. Khi đang xoay tròn chiếc cốc cà phê trong tay, ông nghe lỏm cuộc trò chuyện từ bàn kế bên.
Một người, với âm giọng tiếng Pháp, nói mình đang làm ăn buôn bán với một ông ở Vịnh Thunder, và được ông này tặng một món vật kỳ lạ, có vẻ chẳng có giá trị gì cả nên mãi lúc gần đây anh mới để ý tới. Anh nói đó là một tấm thẻ bằng ngà với nhiều vết khắc trên đó, “giống như nét chữ gì đó của Ai Cập”.
Theo âm giọng, người kia dường như là một anh chàng người Mỹ vô tích sự đã lợi dụng đường biên giới dài để trốn lánh chiến tranh. Anh ta nói: “Đó không phải là chữ Ai Cập mà là những hình vẽ, như là chim chóc hoặc đại khái như vậy.” Hiển nhiên là họ đang chuyền cho nhau món vật quanh chiếc bàn để xem xét.
Người thứ ba nói: “Tôi không biết đó là gì. Có lẽ là chữ Hy Lạp.”
Người Pháp nói: “Thế thì có lẽ nó có giá.”
Đến lúc này, Sturrock đứng dậy tự giới thiệu mình với ba người. Ông có kỹ năng giỏi ám chỉ xa gần là đã làm việc với đủ lớp người từ công nhân hầm mỏ đến bá tước, và ông là một trong số ít người da trắng được những tù trưởng Da Đỏ hai bên đường biên giới tin cậy và yêu mến. Chính vì thế mà ông đã trở thành người tìm kiếm giỏi, và người Mỹ đã nghe danh Sturrock, nên cũng là yếu tố thuận lợi trong trường hợp này.
Ông bảo mình đã nghiên cứu về khảo cổ, và có thể hỗ trợ họ. Người Mỹ làm cho ông khoái chí với nhiều lời thỉnh cầu ông cung cấp thông tin cho họ, và ông thỏa mãn họ bằng cách nghiên cứu món vật trong tay ông. Ông làm ra vẻ xem nó là thứ không đáng màng tới, trong khi thực ra ông chẳng biết ất giáp gì cả. Từ một ít kiến thức về nền văn hóa Hy Lạp và Ai Cập - các nghiên cứu của ông được phóng đại chút ít - thì món vật kia chẳng thuộc nền văn hóa nào. Nhưng óc tò mò của ông bị kích thích bởi những hình thù nhỏ xíu chung quanh những dấu có góc cạnh trông tương tự như chữ viết. Chúng làm cho ông liên tưởng đến mẫu hình những nhân vật trong lịch sử người Da Đỏ mà ông đã trông thấy, được thêu trên dây thắt lưng. Cuối cùng ông trả lại mảnh ngà cho người Pháp có tên là Jammet, và nói mình không nắm rõ, nhưng biết nó không phải là Ai Cập, Latinh, hoặc Hy Lạp, và như thế không thuộc một trong những nền văn minh vĩ đại thời xa xưa.
Một người lấy làm thương hại cho Jammet, nói: “Thế thì có lẽ nó là Da Đỏ cổ đại, nên anh có may mắn đấy nhé!”
Họ cùng nhau cười lớn. Sau đó, họ chia tay nhau, và Sturrock lưu lại thêm một tiếng đồng hồ, nhâm nhi cà phê mà anh người Pháp đãi.
Trong những ngày kế tiếp, ông càng suy nghĩ thêm về chuyện này mà không bỏ qua được. Sturrock đi bộ dọc con đường (ông không có tiền để cưỡi ngựa) trong khi hình ảnh của tấm thẻ và những dấu kỳ lạ nhảy múa trước mắt ông. Dĩ nhiên là ai cũng biết người Da Đỏ không có chữ viết. Họ chưa bao giờ có.
Mặc dù vậy. Mặc dù vậy.
Sturrock trở lại quán cà phê và gặp lại anh người Pháp, như thể tình cờ, bên ngoài một nhà nghỉ - mà ông cẩn thận nhận xét là thuộc khu vực giàu có hơn là nơi ông ở. Họ trò chuyện một lúc, rồi Sturrock nói mình đã trao đổi với một người bạn, người biết nhiều về các chữ viết cổ xưa, và quan tâm muốn xem tấm thẻ. Nếu ông có thể mượn tấm thẻ một vài ngày để cho bạn mình xem, thì có lẽ ông sẽ định được giá của tấm thẻ. Jammet chứng tỏ mình là con buôn có bản lĩnh khi từ chối rời xa tấm thẻ nếu không được trả một khoản tiền lớn. Sturrock nghĩ mình đã cẩn thận che giấu mối quan tâm, và cảm thấy xúc phạm vì không được tin tưởng, nhưng Jammet cười và vỗ vai ông, nói mình sẽ giữ tấm thẻ cho ông cho đến khi ông có đủ tiền để mua. Sturrock giả vờ lãnh đạm, rồi ậm ừ yêu cầu chép lại các dấu hiệu, để chắc chắn là tấm thẻ đáng được quan tâm. Jammet lấy tấm thẻ ra, cảm thấy vui vui, rồi nguệch ngoạc viết lên một mảnh giấy.
Từ lúc đó, ông đã mang mảnh giấy đến các viện bảo tàng ở Toronto và Chicago, đến các giáo sư đại học và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này, và thấy không ai bác bỏ giả thuyết của mình. Ông không nói mình nghĩ nó có thể là gì, mà chỉ hỏi nó có thể thuộc chữ viết Ấn-Âu
[33]
hay không. Các học giả cho rằng không. Họ loại bỏ tất cả chữ viết của Cựu Thế giới. Nếu ông biết nguồn gốc của tấm thẻ thì thực là hay, nhưng ông ngại đánh động anh nhà buôn kia về mối quan tâm của ông. Trong những tháng kế tiếp, tấm thẻ không còn là mối quan tâm nữa. Nó đã trở thành nỗi ám ảnh.
Theo lời ông kể với Moody, ông lao vào cuộc nghiên cứu qua sự tình cờ. Sturrock đã là nhà báo nổi danh, sau khi thử làm việc trong các lĩnh vực luật, kịch nghệ và giáo hội. Nghề cuối cùng này được thành công nhất: ông lập nên một giáo xứ gồm vài trăm giáo dân vốn bị tài dí dỏm và hùng biện của ông lôi cuốn, nên ông phất lên - cho đến khi quan hệ tình cảm giữa ông và người vợ của một giáo dân hàng đầu bị phát hiện, và ông phải chạy thoát khỏi thị trấn. Nghề làm phóng viên thích hợp với những tố chất không theo quy tắc của ông. Đấy là nghề đa dạng, dễ hòa đồng, cho phép ông bày tỏ ý kiến bằng ngôn từ hoa mỹ. Nhưng hơn thế nữa, ông khám phá mình có tài năng giỏi vận động quần chúng. Khởi đầu lấy cảm hứng từ những ý tưởng lãng mạn về sự dã man của tầng lớp quý tộc, dần dà ông viết về các sự vụ người Da Đỏ. Dù bị lạm dụng do mấy chuyện huyễn ảo thơ mộng, ông vẫn cảm thấy khuấy động bởi thực tế mình nhận biết được. Đặc biệt là ông làm quen với một người đàn ông tên là Joseph Lock, ở tuổi bát tuần, sống trong cảnh nghèo túng gần Ottawa, kể cho ông nghe các câu chuyện về sắc tộc Pennacook của mình, và làm thế nào họ bị đuổi ra khỏi mảnh đất của họ ở Massachusetts. Joseph là một trong số ít người còn lại, nếu không phải là người cuối cùng, của sắc tộc mình. Sturrock xuất sắc viết lại câu chuyện - ông thường nghe kể, và tin là thực - về cảnh ngộ khốn khổ của Joseph, và sau đó thường được mời đến nhà nhiều nhân vật quan trọng ở Toronto và Ottawa. Ông nghĩ rằng mình đã tìm được chỗ đứng độc đáo mà không ai chen chân vào được.
Tuy nhiên, cũng như những nỗ lực khác, không có gì tồn tại mãi. Danh tiếng của ông dẫn dắt ông gặp gỡ thêm nhiều người Da Đỏ, trẻ tuổi hơn, giận dữ hơn là Joseph, và những bài viết của ông, thay vì mô tả sống động cảnh cơ hàn và than van những bất công trong quá khứ (có nhiều cách cho bạn mô tả), lại càng ngày càng khiêu khích như thể muốn mở trận bút chiến. Bỗng dưng Sturrock thấy các chủ bút ngại đăng bài viết của mình. Họ đưa ra nhiều lý do mơ hồ, hoặc đổ lỗi cho độc giả có mối quan tâm không kiên định, ông biện luận rằng công chúng cần được thông tin về tâm tư của người bản địa. Các chủ bút lầm bầm nói về những sự vụ bên Anh quốc quan trọng hơn, và nhún vai. Các cánh cửa đóng sập lại đối với ông. Những lời mời hợp tác càng ngày càng thưa thớt, ông cảm thấy sự bất công, và cảm thấy mình bị đối xử như người Da Đỏ đã từng bị đối xử.
Vào khoảng thời gian này, một gia đình người Mỹ có đứa con trai bị mất tích sau một vụ tấn công của người Da Đỏ. Mặc dù việc này xảy ra ở phía nam Ngũ Đại Hồ, ở Michigan, người cha đã nghe nói về Sturrock, và vì thông minh và không bấu víu được ai nên tin rằng Sturrock có thể giúp được. Bấy giờ Sturrock đã gần năm mươi tuổi, nhưng ông dấn thân vào công việc với óc tưởng tượng và tinh thần năng động. Có lẽ một phần vì ông là người ngoài nên người Da Đỏ đón tiếp ông, tin tưởng nơi ông. Sau vài tháng, ông tìm ra đứa con trai đang sống với sắc tộc Huron ở Wisconsin. Đứa con trai đồng ý quay về với gia đình.
Một lần nữa, Thomas Sturrock được trọng vọng. Sau kết quả tốt đẹp đầu tiên, ông nhận thêm vài công việc tìm kiếm trẻ em bị bắt cóc, và hai phần ba trong các vụ là thành công. Vấn đề khó khăn không phải là tìm ra các trẻ em này, mà là thuyết phục chúng trở về với cuộc sống trước kia. Ông có tài thuyết phục.
Thế rồi, sau vài ba năm, ông nhận được một lá thư của Charles Seton. Trường hợp nhà Seton là khó khăn nhất trong phần lớn vụ việc ông đã biết, vì năm năm đã trôi qua từ khi hai đứa trẻ mất tích, và không có chứng cứ nào để nói rằng chúng bị người Da Đỏ bắt cóc. Tuy thế, dựa vào những thành công trước kia mà ông tỏ ra tự tin. Ông không muốn từ chối công việc mà ông nghĩ có thể mang đến danh vọng cho sự nghiệp của mình. Ông đang kiếm sống, nhưng không ai làm giàu bằng cách đi tìm con cái của di dân nghèo.
Khi tình hình vượt quá tầm kiểm soát thì ông không nhận ra. Sau năm năm, Charles Seton vẫn còn đau khổ cùng cực. Bà vợ ông này đã qua đời vì mất con, càng khiến cho ông thêm đau đớn. Ông không còn làm việc kiếm tiền, mà bỏ ra mọi khoản tiền để tìm kiếm hai đứa con gái. Việc tìm kiếm này đã trở thành nguồn sống duy nhất của ông. Đáng lẽ Sturrock phải nhận ra những dấu hiệu của một người mà không lời khuyên giải nào giúp nguôi ngoai được, không có gì bù lại cho sự mất mát. Hy vọng của Sturrock trong việc tìm ra hai đứa trẻ tàn lụi dần. Người ta tin rằng chúng đã chết tức thời, thi hài bị thú rừng tha đi. Sau một năm tìm kiếm, Sturrock bắt đầu nghiêng về giả thuyết này, nhưng Charles Seton không muốn nghe. Không thể nào trao đổi với ông về chuyện như thế.
Trong thời gian này, khi đang đi lại giữa Hồ Ontario và Vịnh Georgian, Sturrock gặp một anh trai trẻ người Da Đỏ tên Kahon’wes, một phóng viên có tính chiến đấu đang viết về những hoàn cảnh đau khổ của người Da Đỏ. Kahon’wes sốt sắng gặp Sturrock vì muốn có thêm nhiều nguồn tin. Dù Sturrock nghĩ anh này không thể giúp gì nhiều, họ vẫn trở thành đôi bạn.
Kahon’wes gọi ông là Sakota:tis, có nghĩa là Nhà Thuyết giáo, Sturrock cảm thấy tự mãn vì sự quan tâm, và vì anh trai trẻ đã lý tưởng hóa con người ông. Trong nhiều đêm, hai người trao đổi về các cuộc chiến ở Mỹ và về các chính trị gia ở Ottawa. Họ nói về văn hóa, về nhận định cho là người Da Đỏ thuộc Thời kỳ Đồ đá, và định kiến mà một nền văn hóa có chữ viết chê bai nền văn hóa chỉ có tiếng nói. Kahon’wes kể cho ông nghe về cuộc khai quật dọc Sông Ohio đã tìm ra những phế tích khổng lồ xây bằng đất nện và những hiện vật có niên đại từ trước Công Nguyên. Khi tìm ra những di chỉ này, các nhà khảo cổ học người da trắng không muốn tin rằng người Da Đỏ có thể giống như nền văn minh của các nhà xây dựng và chạm khắc (và do đó, người Da Đỏ có thể được người da trắng kế tục một cách tàn bạo, cũng như người Đa Đỏ, theo giả thuyết, đã kế tục những sắc tộc khác).
Chính những cuộc trò chuyện này, kéo dài cả thập kỷ, trở lại vương vấn Sturrock khi ông đi qua các đường phố Toronto để dọ hỏi về tấm thẻ bằng xương. Ông bắt đầu tưởng tượng ra bài viết của mình về đề tài này, và cơn chấn động sẽ quét qua Bắc Mỹ khi độc giả đón nhận bài viết. Việc cho đăng tải bài nghiên cứu như thế có thể cứu giúp rất nhiều cho những người bạn Da Đỏ của ông, và đồng thời cũng giúp ông được nổi tiếng. Nhưng ông thấy buồn vì không thể hỏi ý kiến Kahon’wes: anh chàng này đã sa vào tật nghiện rượu và đang sống cầu bơ cầu bất phía bên kia biên giới. Đấy là số phận bao trùm lên những người đã đi ra khỏi con đường trên đó họ đã sinh ra.
Thế là, trong khi Sturrock lê bước trên lớp tuyết, ông không để ý đến địa hình kỳ lạ, ảm đạm, và những người đi cùng (tất cả đều là nghiệp dư), ý nghĩ của ông quay về với Kahon’wes, và với tham vọng từ lâu đã chưa thực hiện được. Để có phần thưởng này thì bao nhiêu công sức chờ đợi và bao nhiêu khổ ải đều đáng giá.
***
Ngoài thời gian sống với chồng, tôi ít khi có quan hệ xã hội với người đàn ông khác, thế nên tôi thấy khó mà phán đoán điều gì là bình thường hay bất thường. Ngày thứ ba từ khi rời Sông Dove, tôi bước theo sau Parker và chiếc xe trượt tuyết và nhớ lại rằng ông đã nói với tôi tổng cộng năm câu, nên tôi tự hỏi mình đã làm gì sai trái hay không. Dĩ nhiên tôi biết rằng tình huống này là bất thường, và tôi lại là người ít nói, nhưng dù sao tôi vẫn thấy bất an về sự im lặng của ông. Trong hai ngày, tôi không đủ hứng khởi để hỏi han, và phải dùng hết sức lực để bắt kịp đà tiến như là tra tấn, nhưng hôm nay xem dường dễ hơn một chút; chúng tôi đi đến một khoảnh đất tương đối bằng phẳng, có những cây tuyết tùng chắn gió lạnh. Chúng tôi di chuyển qua vùng tranh tối tranh sáng dưới tán cây, chỉ có âm thanh răng rắc dưới bước chân và tiếng rì rào của rễ bò cây liễu trên mặt tuyết.
Parker đi theo một con đường dọc bờ sông mà không ngần ngừ giây phút nào, và tôi chợt nghĩ ra rằng ông biết chính xác nơi chúng tôi đang đến. Khi chúng tôi dừng lại để dùng cà phê và bánh mỳ bắp, tôi hỏi: “Đây là lối Francis đã đi qua phải không?”
Ông gật đầu. Ông là người rất hà tiện lời nói.
“Thế là... ông đã thấy dấu vết trên đường đến Sông Dove?”
“Vâng. Hai người đi theo đường này, trong khoảng thời gian gần nhau.”
“Hai người hở? Ý ông nói là nó đi cùng với người khác?”
“Một người đi theo người khác.”
“Làm sao ông biết được?”
“Một loại dấu vết luôn ở phía sau dấu vết kia.”
Ông ngưng lại chừng một phút. Tôi không nói gì.
“Họ đốt những đống lửa cách xa nhau. Nếu đi cùng nhau thì họ chỉ đốt một đống lửa.”
Tôi cảm thấy mình có phần ngu dốt, vì đã không để ý đến điều này. Parker toát ra vẻ tự mãn tinh tế. Hoặc có lẽ tôi đang tưởng tượng. Chúng tôi đang đứng phía trên đống lửa nhỏ xíu, và chiếc cốc làm cho đôi bàn tay lạnh cóng của tôi ấm lại - một cảm giác vừa dễ chịu vừa đau đớn. Tôi giơ chiếc cốc lên để hơi nước nóng phả lên mặt, biết rằng sau đó tôi sẽ đau thêm, nhưng vì không quen đi giữa mùa đông nên tôi không bỏ qua cảm giác dễ chịu phù du này.
Một trong hai con chó cất tiếng sủa. Một luồng gió thổi qua những cành cây nặng trĩu tuyết khiến cho một tấm màn những bông tuyết rơi xuống nền đất. Tôi không thấy làm thế nào ông có thể lần mò theo các dấu vết dưới lớp tuyết. Như thể đọc được ý nghĩ của tôi, ông nói: “Bốn người để lại dấu mòn rộng.”
“Bốn người?”
“Các nhân viên Công ty, những người đã đi theo con trai của bà. Không khó đi theo dấu vết của họ.”
Tôi đang tưởng tượng, hay tôi thấy bóng ma của một nụ cười?
Ông nuốt ực để uống cạn cốc rồi bước ra xa ít mét để đi tiểu. Dường ông có khả năng mà tôi đã nhận thấy nơi những người quen sống ngoài trời: uống nước thật nóng mà không bị bỏng. Miệng ông hẳn phải như da thuộc. Tôi quay mặt đi và ngắm hai con chó, lúc này đang ngồi xuống sát nhau để giữ hơi ấm. Điều kỳ lạ là con chó nhỏ nhất, lông màu cát, tên Lucie nhưng ông phát âm “Lucee”, theo cách của người Pháp. Vì thế tôi đặc biệt có cảm tình với con chó này - nó xem dường thân thiện và tin tưởng, như loài chó là phải thế, khác với con chó đực Sisco trông giống chó sói, với đôi mắt xanh trông bất ổn và tiếng gầm gừ nghe đe dọa. Tôi chợt nhận ra là có sự tương đồng giữa hai con chó và hai người trong chuyến đi này. Tôi không rõ Parker có cùng ý nghĩ này không, mặc dù dĩ nhiên là tôi không nói tên mình cho ông biết, và ông cũng không hỏi.
Trong không khí lạnh giá, cà phê nguội nhanh chóng đến mức có tôi có thể uống ngon lành trong nửa phút, và phải nuốt nhanh. Chỉ một chốc lát sau thì cà phê lạnh hẳn.
Đến tối, Parker dựng lều và đốt một đống lửa cho tôi ngồi kế bên, làm cho hai bàn tay và mặt tôi nóng rát nhưng lưng thì lạnh cóng. Trong khi ấy, ông dùng rìu đốn một số cành cây thông. (Tôi đoán sau này Angus than vãn về sự mất mát của mình, quả là tệ; đáng lẽ anh ấy phải nghĩ đền điều này trước khi bỏ bê đứa con trai.) Parker tước cho sạch các cành lớn để làm cái khung cho nơi trú ẩn kế một thân cây to để chắn gió hoặc, nếu có một cây đổ, phía sau chùm rễ đã bị bật khỏi mặt đất. Ông đặt những cành non còn lá trên mặt đất, sắp xếp trông như những tia nắng mặt trời, lá ở trung tâm. Lần đầu trông thấy như thế, tôi nghĩ nó giống như một địa điểm để tế thần, và tôi phải dập tắt ý nghĩ này trước khi tản mạn xa thêm. Rồi ông phủ lên tấm vải bạt mà tôi lấy từ tầng hầm ở nhà. Tấm bạt được neo vào đất bằng những nhánh cây và với tuyết được xúc lên bằng cái bay, cho đến khi các bức tường được đắp lên cao và giữ hơi ấm bên trong. Phía trong, ông dùng một cành cây để chống lên một phần tấm bạt hầu tạo một bức tường ngăn đôi. Đấy là cử chỉ duy nhất của ông về khuôn phép, và tôi lấy làm mừng.
Ông chuẩn bị chỗ trú ẩn như thế trong thời gian vừa đủ cho tôi đun nước và chuẩn bị món cháo yến mạch cùng ruốc thịt, thêm ít quả dâu nhăn nhúm. Tôi quên mang theo muối nên hương vị chán ngắt, nhưng thật là tuyệt được ăn một món nóng sốt và cảm thấy nó đi nóng bỏng xuống cổ họng. Rồi trà đường, để cho khẩu vị ngọt ngào trở lại, trong khi tôi tưởng tượng đến cuộc trò chuyện rôm rả nếu người nào khác làm hướng đạo cho tôi - hoặc là người sẽ bắt giữ tôi? Rồi, vì mệt lả (ít nhất là trường hợp của tôi), hai chúng tôi chui vào lều và các con chó tìm đường lẻn vào theo, rồi Parker dùng một hòn đá để bít lối vào.
Đêm đầu tiên, tôi bò vào căn lều như là đường hầm nhỏ tối đen mà tim đập thình thịch, co mình dưới tấm chăn, quá sợ nên không dám cử động, và chờ đợi một số phận tệ hại hơn cái chết. Tôi nín thở, nghe ngóng trong khi Parker trở mình và thở chỉ cách tôi vài phân. Con chó Lucie uốn éo thân mình - hoặc là bị đẩy - dưới tấm rèm để co rút bên tôi, và tôi thấy dễ chịu với một cơ thể ấm áp nhỏ nhắn nằm kế bên mình. Rồi dường như Parker ngưng cử động, nhưng tôi kinh hoàng nhận biết một phần của người ông ép sát vào tấm rèm vải bạt - và vì thế sát vào lưng tôi. Không có chỗ cho tôi xê dịch ra xa - mặt tôi gần như sát với tấm vải bạt phủ tuyết. Tôi chờ đợi cho chuyện kinh hoàng nào đấy diễn ra - dù sao chăng nữa thì tôi vẫn không ngủ được - và rồi dần dần, tôi cảm nhận một ít hơi ấm tỏa ra từ ông. Mắt tôi mở trừng trừng mà không thấy gì, tai tôi căng ra để cố nghe ngóng âm thanh nhỏ nhất, nhưng không có chuyện gì xảy ra. Đến một lúc nào đấy, tôi thiếp đi. Cuối cùng, dù đỏ mặt khi nhớ lại, tôi nhìn nhận cách dàn xếp này thật tuyệt: vẫn có không gian riêng tư nhưng mỗi người trong chúng tôi chia sẻ cho nhau hơi ấm.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy thấy ánh sáng mờ nhạt đang chiếu qua tấm vải bạt. Chiếc kén của tôi ngột ngạt, lại nồng nặc mùi chó. Chiếc lều lạnh giá, nhưng khi bò ra ngoài tôi kinh ngạc thấy bên trong ấm hơn nhiều so với ngoài trời. Tôi tin chắc Parker đang nhìn tôi khi tôi co dãn chân tay một cách khiếm nhã, mái tóc tôi xổ ra và lõa xõa khắp mặt mũi, nhưng may mà ông ấy không cười mà cũng không chăm chú nhìn thái quá. Ông trịnh trọng trao cho tôi cốc trà, rồi tôi đứng dậy và cố vuốt tóc cho ngay thẳng, thầm ước gì mình đã mang theo một chiếc gương nhỏ. Quả là điều lạ lùng khi tính phù hoa vẫn bám đuổi trong những tình huống thiếu phù hợp nhất. Nhưng rồi, tôi tự nhủ, tính phù hoa là một trong những tố chất phân biệt chúng ta với loài thú, vì thế có lẽ chúng ta nên hãnh diện về điều này.
Tối hôm ấy - tối thứ ba - tôi quyết định có nỗ lực hơn với người đồng hành câm nín. Khi dùng món thịt hầm, tôi bắt đầu lên tiếng. Tôi có cảm tưởng mình phải chuẩn bị nguyên cớ, có thể nói như thế, và trong vài tiếng đồng hồ đã suy tính phải nói những gì.
“Ông Parker, phải nói rằng tôi rất cảm kích vì ông đã dẫn tôi đi theo, và tôi đánh giá cao nỗ lực của ông khi giúp tôi được thoải mái.”
Trong ánh lửa hồng, khuôn mặt ông là chiếc mặt nạ của những bóng tối không gì xâm nhập được, cho dù bóng tối thật sự có hiệu quả xóa đi những vết bầm trên đôi má ông và làm dịu đi nét cứng cỏi của ông.
“Tôi biết tình huống này là khá... bất thường, nhưng tôi mong rằng chúng ta vẫn là bạn đồng hành tốt với nhau.”
Tôi nghĩ “bạn đồng hành” là ngôn từ nghe hay; thân thiết nhưng không hàm ý tình cảm cá nhân quá đáng.
Ông nhìn qua tôi, trong khi nhai một mẩu sụn dai. Tôi nghĩ ông sẽ tiếp tục câm nín, như thể tôi không hiện diện hoặc tôi là sinh vật không quan trọng gì lắm, như con bọ hung, nhưng rồi ông nuốt thức ăn và nói: “Bà có bao giờ nghe anh ấy chơi vĩ cầm chưa?”
Phải mất một lúc tôi mới vỡ lẽ ông đang nói về Laurent Jammet.
Và rồi tôi mường tượng mình đang đứng bên ngoài ngôi nhà gỗ bên bờ sông gần nhà, nghe giai điệu ngọt ngào lạ lùng và thấy Francis chạy ra khỏi khung cửa, khuôn mặt nó biến đổi vì đang cười lớn - và tôi bất động vì hoang mang.
Trong đời mình tôi không khóc nhiều. Cuộc đời nào cũng có lúc khó khăn - đối với một người đến tuổi như tôi bây giờ - đã vượt đại dương và mất cha mẹ cùng đứa con - nhưng tôi nghĩ đúng là cuộc đời mình gặp khó khăn hơn nhiều người khác. Nhưng dù thế, tôi luôn nghĩ rằng không ích gì mà khóc, cứ như là bạn nghĩ một người nào đấy có thể trông thấy và thương hại bạn, và họ nghĩ có thể làm gì đấy cho bạn - trong khi ngay từ đầu tôi thấy rằng chẳng ai giúp gì mình được cả. Trong mấy ngày này tôi không khóc cho Francis, bởi vì tôi quá bận bịu nói dối và che giấu và trù định một kế hoạch để giúp nó, và có lẽ nếu khóc thì tôi sẽ phung phí phần năng lượng nhỏ nhoi của mình. Vì thế mà tôi không biết bây giờ cái gì đã thay đổi, khiến cho những dòng lệ chảy xuống đôi má tôi, vạch ra những đường ấm nồng trên làn da. Tôi nhắm mắt lại, quay mặt đi vì xấu hổ, mong rằng có lẽ Parker sẽ không để ý. Đấy không phải như là Parker có thể giúp, ngoài việc hướng dẫn tôi đi trong rừng như ông đang làm. Tôi xấu hổ bởi vì có vẻ như tôi đang kêu gọi lòng từ tâm của ông; phó thác thân mình cho lòng khoan dung của ông, khi mà tôi biết ông chẳng khoan dung gì cả.
Nhưng khi khóc, tôi nhận ra niềm khoái cảm thú vị; những giọt nước mắt trên làn da mặt tôi như là những ngón tay nồng ấm đang vỗ về tôi.
Khi tôi mở mắt ra, Parker đã pha trà xong, ông không hỏi tôi giải thích.
“Xin ông thứ lỗi. Con trai tôi yêu thích âm nhạc của anh ấy.”
Ông trao cho tôi chiếc cúp thiếc. Tôi uống một ngụm và ngạc nhiên, ông đã cho thêm đường, loại thuốc đa năng cho mọi chứng bệnh, ước gì chúng ta có thể làm ngọt dịu mọi nỗi ưu phiền dễ dàng đến thế.
“Khi chúng tôi làm việc họp đoàn với nhau, anh ấy thường chơi nhạc cho chúng tôi nghe. Các ông chủ cho phép anh ấy mang theo cây đàn vĩ cầm trong các chuyến tải hàng. Họ biết dù phải mang nặng thêm nhưng vẫn đáng giá.”
“Ông làm việc với anh ấy hở? Với Công ty phải không?”
Tôi nhớ lại tấm ảnh của Jammet chụp với một nhóm nhân viên tải hàng và cố soát xét trong ký ức xem Parker có phải là một trong những người này không, nhưng không nhớ ra.
“Đã lâu lắm rồi.”
“Trông ông không có vẻ như một... nhân viên của Công ty.” Tôi vội mỉm cười, vì e lời mình gây xúc phạm.
“Ông nội tôi là người Anh. Tên ông cũng là William Parker
[34]
. Quê ông ở Hereford.”
Bây giờ Parker đang hút dọc tẩu. Đấy là dọc tẩu của chồng tôi, vì dọc tẩu của ông đã bị tịch thu.
“Hereford? Ở Anh hở?”
“Bà biết vùng này à?”
“Không. Tôi nghĩ ở đấy có một ngôi giáo đường rất đẹp.”
Ông gật đầu, như thể sự hiện diện của ngôi giáo đường tự nó là điều hiển nhiên.
“Ông có biết về ông ấy nhiều không?”
“Không nhiều. Cũng như phần lớn những người khác, ông nội tôi không ở yên một chỗ. Ông cưới bà nội tôi là người Cree, nhưng ông trở về Anh. Họ có một người con, đó là cha tôi. Cả đời ông làm việc cho Công ty.”
“Còn mẹ ông thì sao?”
Một tia xúc động tỏa ra trên khuôn mặt ông: “Hừ... ông ấy cưới một phụ nữ người Mohawk từ một cơ sở truyền giáo người Pháp.”
“À…” Tôi chỉ nói ngắn gọn, như thể đấy là đã giải thích điều gì. Mà đúng thế, người Iroquois nổi tiếng về tầm vóc cao lớn và thể lực. Và cũng có lẽ (cho dù lẽ tự nhiên là tôi không nói thế), họ có ngoại hình tốt. “Ông là người Iroquois. Vì thế mà ông cao lớn đến thế.”
“Mohawk, không phải Iroquois.” Ông đính chính lời tôi một cách nhẹ nhàng mà không tỏ vẻ bực bội.
“Tôi nghĩ họ là như nhau.”
“Bà có biết ‘Iroquois’ có nghĩa là gì không?
Tôi lắc đầu.
“Có nghĩa ‘rắn chuông’. Đó là cái tên mà những kẻ thù của họ gọi họ.”
“Tôi xin lỗi. Tôi đã không biết.”
Đôi môi ông cong lại trong dáng điệu mà tôi bắt đầu nhận ra đấy là nụ cười. Giọng ông nghe ấm cúng, vui vui: “Mẹ tôi được cho là phải trở thành tín đồ Công giáo tốt để được nhà dòng giáo dục, nhưng bà luôn là người Mohawk.”
Tôi mỉm cười qua ánh lửa bập bùng. Luôn vẫn là điều dễ chịu khi biết rằng một nghi phạm yêu mến mẹ mình.
Cốc trà của tôi gần cạn; dĩ nhiên là đã lạnh băng. Tôi muốn hỏi về cái chết của Jammet nhưng e sợ sẽ làm đảo lộn mối giao tiếp tế nhị giữa hai người. Thay vào đấy, tôi ra dấu hỏi: “Mặt ông bây giờ như thế nào?”
Ông đưa hai ngón tay sờ da mặt: “Không còn đau nhiều nữa.”
“Tốt. Không còn sưng nữa.” Tôi nghĩ đến Mackinley. Xem dường ông này không chịu bỏ qua dễ dàng. “Tôi đoán có người vẫn cố muốn theo dấu chúng ta.”
“Dù cho họ làm vậy, với lớp tuyết này, họ sẽ mất dấu. Và họ sẽ đi chậm lại.”
“Nhưng ông sẽ có thể tìm ra dấu chứ?”
Tôi đã quan ngại thêm vì việc này. Vì tuyết đã rơi - trông dường mỏng manh, dễ chịu, khô ráo - tôi tin chắc rằng Francis đã trú thân ở một ngôi làng nào đấy. Tôi tin vào việc này vì tôi phải có niềm tin.
“Vâng.”
Tôi tự nhắc nhở mình rằng ông là người chuyên đặt bẫy thú rừng và đã quá quen với việc theo dấu những con vật nhỏ qua lớp tuyết. Nhưng sự tự tin này bắt nguồn từ việc khác nữa. Tôi lại có cảm tưởng rằng ông đã biết dấu chân sẽ dẫn đến đâu.
Trong một khoảnh khắc chúng tôi ngồi im lặng, trong khi tôi ghen tị với nhịp độ và nghi thức hút dọc tẩu, làm cho người đàn ông trông bận rộn và chìm trong suy tư cho dù ông không làm và nghĩ gì cả. Và tuy thế, tôi cảm thấy an bình hơn mấy lúc gần đây. Chúng tôi đang trên đường đến đích. Tôi đang làm việc gì đấy để giúp Francis.
Tôi đang làm việc gì đấy để chứng tỏ tôi thương mến nó biết dường nào, và điều này là quan trọng, bởi vì tôi e nó đã quên.
***
Có lúc nào đó, Francis nhận ra rằng mình đang bị giam giữ. Không ai nói cho anh biết việc này, nhưng có cái gì đó trong ánh mắt của Per khi nhìn anh và nhìn Moody, khiến cho anh đoán thế. Moody tin anh là người giết Laurent. Anh cảm thấy cáu vì việc này, hơn là sợ hãi hoặc nổi giận. Có lẽ nếu ở vào hoàn cảnh của Moody thì anh cũng nghĩ thế.
Moody đẩy gọng kính lên sống mũi lần thứ một trăm, nói: “Tôi không hiểu tại sao anh không nói cho ai biết anh đã thấy gì. Đáng lẽ anh có thể kể cho cha anh nghe. Ông ấy là người được trọng vọng trong làng.”
Francis cắn môi trong câu trả lời hiển nhiên. Đấy xem dường là ý tưởng đúng lý, cho dù do Moody nói ra. Anh tự hỏi Moody đã gặp cha mình chưa.
“Tôi nghĩ người đàn ông kia có thể đi quá xa. Tôi đã suy nghĩ không cặn kẽ.”
Đấy là câu nói làm nhẹ đi vấn đề. Donald nghiêng đầu về một bên, trông như thể anh đang cố tìm hiểu ý niệm về việc suy nghĩ không cặn kẽ. Anh trông như thể không hiểu.
Lần này, im lặng ngồi kế bên Moody là một người hai dòng máu, được giới thiệu với Francis là Jacob. Francis chưa nghe anh này lên tiếng, nhưng đoán anh có mặt ở đây như là nhân chứng của Công ty Vịnh Hudson. Anh đã nghe - từ Jammet, cũng như những người khác - rằng ở Đất Rupert, Công ty sẽ cử nhân viên đi thực thi công lý sơ đẳng. Nếu một vụ án mạng xảy ra, nhân viên Công ty sẽ âm thầm truy lùy rồi hạ sát hung thủ. Anh tự hỏi Jacob có phải là tay sát thủ được Công ty chỉ định hay không. Được chỉ định để thi hành án đối với anh. Anh này chỉ ngồi cúi mặt xuống, nhưng đôi mắt chăm chú theo dõi Francis. Có lẽ họ nghĩ anh sẽ phạm sai sót mà bị lộ diện.
Moody quay người thì thầm, rồi Jacob đứng dậy đi ra khỏi phòng. Moody kéo chiếc ghế đến gần Francis hơn và nở nụ cười với anh, giống như một đứa trẻ cố làm bạn trong ngày đầu tiên đến trường.
“Tôi muốn cho anh xem một món.”
Rồi anh kéo lên vạt áo mình, cho Francis xem vết sẹo - một khoảnh da mềm, bóng, màu đỏ so với làn da trắng chung quanh: “Thấy không? Lưỡi dao đâm vào bảy phân. Và người đâm tôi đang... ngồi đằng kia.”
Anh nhìn thẳng vào mắt Francis. Dù cố trấn tĩnh, Francis vẫn mở to đôi mắt vì kinh ngạc.
“Tuy vậy, tôi nghĩ không ai ở xứ sở này quan tâm đến tôi như anh ấy.”
Francis bất giác nở nửa nụ cười.
Donald cười, có ý khuyến khích Francis: “Anh sẽ cười khi tôi nói cho anh biết tại sao. Chúng tôi đang chơi bóng bầu dục, và tôi tóm lấy anh ấy. Ôm chặt hai chân - đó là cách tranh bóng cổ điển hợp lệ. Và anh ấy phản ứng theo bản năng. Trước đó anh ấy chưa từng chơi bóng bầu dục. Thậm chí tôi không biết anh ấy mang dao theo người.”
Donald cười to, và Francis cảm thấy một tia ấm áp lan tỏa trong anh. Trong một khoảnh khắc, xem dường hai người là đôi bạn.
Donald nhét vạt áo lại vào trong lưng quần.
“Điều tôi muốn nói là, cho dù ai đó là bạn mình, vẫn có thể cãi cọ, và trong cơn giận người ta có thể ra tay. Chẳng có ý nghĩa gì cả. Chỉ một khoảnh khắc sau đó - mà anh ta có thể chịu chết nếu không ra tay. Có phải chuyện cũng diễn ra giống như vậy không? Anh cãi cọ - có lẽ anh ấy say rượu... anh cũng say rượu... anh ấy khiến cho anh nổi giận, rồi anh ra tay mà không kịp suy nghĩ...”
Francis đang nhìn lên trần nhà, nói: “Nếu quan tâm đến công lý, tại sao anh không dò theo các dấu chân kia, dấu chân của kẻ giết người? Anh hẳn đã trông thấy các dấu chân này. Tôi có thể dò theo. Ngay cả nếu anh không tin việc này, hẳn anh đã thấy các dấu chân.”
Có cái gì đó rạo rực trong anh, và ngôn từ tiếp tục tuôn chảy, càng sôi nổi hơn.
“Anh đã có thể dò theo các dấu chân để đảm bảo anh đi tới nơi nào đó được an toàn.” Donald nghiêng người tới trước, như thể cảm thấy cuối cùng sẽ nhận được thông tin nào đó.
“Nếu muốn chạy trốn, tôi đã không chạy đến đây! Tôi sẽ đi Toronto, hoặc lên một chiếc tàu...” Francis đảo mắt nhìn lên những đường nứt nẻ trên trần nhà. Những dấu hiệu khó hiểu, “Ở đây tôi tiêu tiền vào việc gì? Quả là điên rồ mà nghĩ tôi giết anh ấy, anh không thấy điều đó sao? Ngay cả nghĩ tới chuyện đó cũng là điên rồ...”
“Có lẽ vì vậy mà anh đến đây, bởi vì đó không phải là chuyện hiển nhiên... Anh trốn lánh ở đây rồi khi tình hình lắng xuống anh sẽ đi đến nơi anh muốn - tôi có thể nói đó quả là tinh khôn.”
Francis chăm chăm nhìn Donald - nói chuyện với cái tên ngu dốt này làm gì, khi hắn đã kết luận chuyện gì đã diễn ra? Nếu như thế, thì mặc. Bây giờ cổ họng anh thắt nghẹn, anh buồn nôn. Anh muốn la hét. Nếu họ đã biết sự thật, liệu họ sẽ tin anh không? Nếu anh kể cho họ biết thực sự là như thế nào?
Thay vào đó, anh mở miệng mắng: “Mẹ kiếp anh, mẹ kiếp anh! Mẹ kiếp tất cả bọn anh!” Rồi anh quay mặt vào bức tường.
Giây phút Francis quay mặt đi, Donald chợt nghĩ ra một chuyện. Cuối cùng, anh nhớ ra chuyện gì đã vương vấn trong đầu óc anh mấy ngày nay - chuyện về Francis gợi cho anh nhớ lại một anh chàng ở trường mà anh quen nhưng, cũng giống như những người khác, đều xa lánh. Vậy thì có lẽ động lực là thế. Không lấy làm ngạc nhiên lắm.
***
Một chuyện khác thường nào đó xảy ra. Khi trời tiếp tục yên ắng và lặng gió hoàn toàn, và chúng tôi tiếp tục đi về hướng bắc, băng qua vùng rừng cây, tôi nhận ra rằng mình đang hứng thú. Tôi cảm thấy sốc và có lỗi, vì đáng lẽ tôi phải lo lắng về Francis, nhưng tôi không thể chối cãi: khi nào không nghĩ về nó đang nằm đau đớn và lạnh cóng, thì tôi thấy mình hạnh phúc mà trong một thời gian dài tôi không hề được hạnh phúc như thế.
Tôi chưa hề nghĩ mình có thể đi xa trong vùng hoang dã mà không sợ hãi. Dù chưa từng thổ lộ với ai, điều mà tôi luôn sợ về rừng hoang là tính đơn điệu. Cây cối rất ít đa dạng, nhất là trong mùa này, khi màn tuyết làm cho tất cả mang một lớp áo trắng xóa, biến thành những hình thù ảm đạm, và rừng cây thành nhạt nhòa, tranh sáng tranh tối. Trong mấy năm đầu khi mới đến Sông Dove, tôi thường có ác mộng: tôi đang ở giữa khu rừng, nhìn quanh quất tìm lại lối xuất phát tôi đã đi đến đấy, nhưng tôi thấy mọi hướng đều giống y như nhau. Tôi bấn loạn, mất phương hướng. Tôi biết rằng mình đã lạc đường, và sẽ chẳng bao giờ thoát ra được.
Có lẽ tình huống của tôi đã cùng cực nên không thể hoặc không ích gì mà sợ. Tôi cũng không sợ người dẫn đường lầm lì của mình. Vì lẽ ông chưa giết tôi dù có nhiều cơ hội, tôi bắt đầu tin tưởng nơi ông. Có lúc tôi tự hỏi nếu mình từ chối đi với ông, thì chuyện gì sẽ xảy ra - liệu ông có bức bách tôi phải đi không? Rồi tôi hết băn khoăn. Đi bộ trong tám tiếng đồng hồ qua lớp tuyết tinh nguyên là cách thức hay để trấn tĩnh nỗi bứt rứt trong tâm trí.
Khẩu súng trường của Angus được cột chặt vào chiếc xe trượt tuyết và không được nạp đạn, nên nếu bị tấn công bất ngờ thì chúng tôi chẳng được bảo vệ gì cả. Tôi hỏi Parker như thế là khôn ngoan hay không, nhưng ông chỉ cười to. Ông nói trong vùng này không có gấu.