Sachvui.Com-vet-bot-mau-ca-phe-sua

6

6

6

Chiếc xe tải lớn nằm im lìm trong cơn bão như một con thú thời tiền sử, còn mưa thì cứ rơi như trút. Cảnh sát phải mất một thời gian mới tìm được chiếc xe vì nó không đỗ nơi Holberg sống mà lại nằm tại một bãi đậu ở phía tây Snorrabraut, bên cạnh trung tâm chăm sóc sức khỏe Domus Medica, cách nhà Holberg vài phút đi bộ. Cuối cùng cảnh sát đã thông báo trên đài xem có ai biết nó đỗ ở đâu không.

Một cảnh sát tuần tra đã tìm thấy chiếc xe vào cùng thời điểm mà Erlendur và Sigurdur Óli mang theo tấm ảnh rời khỏi nhà Holberg. Một nhóm pháp y đã được gọi đến để khám xét chiếc xe và tìm ra dấu vết. Đó là một chiếc xe hiệu MAN với cabin màu đỏ. Sau khi khám xét nhanh, người ta tìm thấy một tập tạp chí gáy cứng có nội dung khiêu dâm. Họ quyết định chuyển chiếc xe đến trụ sở Cục điều tra tội phạm để làm rõ thêm.

Trong khi việc kiểm tra chiếc xe đang diễn ra, một nhóm pháp y khác cũng làm việc với tấm ảnh. Nó được in trên giấy ảnh Ilford, loại giấy rất thông dụng trong những năm 1960, nhưng lâu rồi người ta không còn dùng nó nữa. Có thể bức ảnh được chụp bởi một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp hoặc cũng có thể là một người nghiệp dư. Việc nó đã bắt đầu phai màu chứng tỏ chất lượng ảnh không được tốt cho lắm. Không có chữ viết đằng sau, cũng không có tên địa danh để xác định xem nghĩa trang trong ảnh là ở đâu. Nó có thể ở bất cứ nơi nào trên đất nước này.

Người chụp đứng cách bia đá tầm ba mét, tấm ảnh được chụp gần như chính diện cái bia. Anh ta đã phải quỳ xuống, trừ khi anh ta rất thấp. Thậm chí từ khoảng ba mét đó, góc chụp cũng khá hẹp. Không có cây cối gì mọc xung quanh, cũng chẳng thấy ngôi mộ nào khác. Đằng sau cái bia, tất cả những gì có thể thấy được là một đám sương mờ màu trắng.

Nhóm pháp y tập trung vào những chữ khắc, chúng gần như không thể định dạng được vì người chụp đứng khá xa.

Người ta tiến hành phục chế lại bức ảnh rất nhiều lần và chữ khắc được phóng to cho đến khi mỗi chữ cái được in trên khổ giấy A5 và được đánh số, sắp xếp theo thứ tự trên bia đá. Những bức hình đó rất thô, chỉ còn là những chấm nốt màu đen và trắng tạo ra các sắc thái sáng và tối. Nhưng khi chúng được quét vào máy tính, những mảng tối và độ phân giải sẽ được xử lý. Một vài chữ cái sẽ rõ hơn các chữ khác, điều này giúp cho nhóm pháp y có thể điền vào các chỗ trống. Các chữ cáiM, F và O có thể thấy rõ, các chữ còn lại khó nhìn hơn.

Erlendur gọi đến nhà một viên quản lý Tổng cục thống kê quốc gia, ông này vừa nguyền rủa vừa chửi thề khi đồng ý gặp Erlendur tại trụ sở ở Skuggasund. Erlendur biết rằng toàn bộ các giấy chứng tử phát hành từ năm 1916 đều được lưu giữ tại đó. Không còn ai làm việc trong tòa nhà, tất cả nhân viên đã tan sở trước đó một lúc lâu. Ba mươi phút sau, viên quản lý dừng xe ở bên ngoài Cục thống kê và hời hợt bắt tay Erlendur. Ông ta nhập mã PIN vào hệ thống bảo vệ rồi dùng một tấm thẻ đưa họ vào tòa nhà. Erlendur trình bày những điều cơ bản nhất với ông ta.

Họ kiểm tra tất cả các giấy chứng tử phát ra năm 1968 và tìm thấy hai cái tên Audur. Một bé gái chết năm lên bốn tuổi. Cô bé chết vào tháng Hai. Một bác sĩ đã kí vào giấy chứng tử và họ nhanh chóng tìm ra tên ông ta trong sổ đăng ký quốc gia. Ông ta sống ở Reykjavík. Tên của mẹ cô bé - Kolbrún - cũng được ghi trong tờ giấy. Họ tìm ra bà ta rất dễ dàng. Nơi cuối cùng mà bà ta trú là ở Keflavík vào đầu những năm 1970. Sau đó họ kiểm tra các giấy chứng tử một lần nữa. Kolbrún chết năm 1971, ba năm sau cái chết của con gái.

Cô bé chết vì một khối u ác tính trong não.

Người mẹ chết vì tự tử.

7

Anh chàng trong vai chú rể đón Erlendur vào văn phòng của mình. Anh ta là người quản lý chất lượng và marketing cho một công ty bán sỉ chuyên nhâp khẩu ngũ cốc từ Mỹ. Erlendur, người chưa từng được nếm một bữa sáng kiểu Mỹ trong đời, tự đặt ra câu hỏi: thực ra thì một nhà quản lý chất lượng và marketing của một công ty bán sỉ làm những công việc gì? Ông cũng không buồn hỏi. Chú rể mặc một chiếc sơ mi trắng được là cẩn thận với quần đeo dây. Anh ta cũng đã xắn ống tay áo lên như thể những vấn đề liên quan đến quản lý chất lượng đã khiến anh ta phải hao tâm tổn lực rất nhiều. Anh ta là người tầm thước, hơi mập mạp một chút, có một hàng ria mép bao quanh miệng với cặp môi dày cộm. Tên anh ta là Viggó.

Tôi vẫn chưa nhận được tin tức gì từ Disa, Viggó nói nhanh rồi ngồi xuống đối diện Erlendur.

Có phải do cậu nói điều gì với cô ấy mà...

Ai cũng nghĩ vậy đấy, Viggó nói. Mọi người nghĩ rằng nó là lỗi của tôi. Thật quá tồi tệ. Phần tồi tệ nhất trong toàn bộ vấn đề. Tôi không thể chịu nổi điều đó.

Anh có để ý đến điều gì đặc biệt Dísa trước khi cô ấy chạy trốn không ? Bất cứ điều gì khiến cho cô ấy thất vọng ấy ?

Tất cả mọi người đều rất vui vẻ. Ông biết đấy, một đám cưới mà, ông hiểu tôi muốn nói gì phải không?

Không.

Chắc chắn là ông đã đến đám cưới rồi chứ ?

Một lần. Nhưng cách đây lâu lắm rồi.

“Lúc đó đã đến giờ nhảy điệu đầu tiên. Những bài phát biểu đã chấm dứt và các bạn gái của Dísa tổ chức một số trò vui đề giải trí, nhạc công accordion đã đến và chúng tôi chuẩn bị nhảy. Lúc đó tôi đang ngồi ở bàn và mọi người bắt đầu tìm Dísa, nhưng cô ấy đã đi rồi.”

“Lần cuối anh nhìn thấy cô ấy là khi nào?”

“Cô ấy ngồi bên tôi vả nói rằng cô ấy cần đi vệ sinh.”

“Thế anh có nói điều gì khiến cô ấy hờn dỗi không?”

“Không! Tôi hôn cô ấy và bảo cô ấy đi nhanh lên.”

“Từ lúc cô ấy đi đến khi các anh bắt đầu tìm cô ấy khoảng bao lâu?”

“Tôi không biết. Tôi ngồi xuống với các bạn của mình, sau đó ra ngoài hút thuốc - tất cả nhũng người hút thuốc đều phải ra ngoài. Tôi nói chuyện với vài người ở đó và cả lúc quay vào cũng vậy. Sau đó tôi ngồi xuống, rồi người chơi đàn accordion đi đến và thảo luận với tôi về điệu nhảy cùng bài nhạc. Tôi còn nói chuyện với vài người khác, chắc khoảng tầm nửa tiếng, tôi cũng không biết nữa.”

“Vả anh không nhìn thấy Dísa lần nào trong thời gian đó?”

“Không. Khi chúng tôi nhận ra thì cô ấy đã biến mất, đó thực sự là một thảm họa. Tất cả mọi người đều nhìn vào tôi như thể đó là lỗi của tôi vậy.”

“Anh nghĩ là chuyện gì đã xảy ra với cô ấy?”

“Tôi đã đi tìm khắp nơi, nói chuyện với tất cả bạn bè và người thân của cô ấy nhưng không ai biết gì hết, hoặc đó là điều mà họ nói.”

“Anh có nghĩ là có ai đó đã nói dối không?"

“Ờ thì chắc chắn cô ấy phải ở một chỗ nào đó.”

“Anh có biết lả cô ấy đã để lại một lời nhắn không?”

“Không. Lời nhắn gì? Ý ông là sao?”

“Cô ấy treo một tấm thiệp lên cái cây nhắn gửi. ‘Anh ta là một con quỷ, tôi đã làm gì thế này? - đó là nội dung tấm thiệp. Anh có biết cô ấy nói thế là có ý gì không?”

“Anh ta là một con quỷ,” Viggó nhắc lại, “cô ấy đang nói đến ai thế nhỉ?”

“Tôi nghĩ đó có thể là anh.”

“Là tôi á?” Viggó ngạc nhiên, bắt đầu trở nên kích động. “Tôi có làm gì cô ấy đâu, chưa hề! Chưa bao giờ. Đó không phải là tôi. Đó không thể là tôi!”

“Cái xe mà cô ấy lấy đi được tìm thấy ở Gardastraeti. Nơi đó có gợi cho anh nghĩ đến điều gì không?”

“Cô ấy không quen ai ở đó cả. Các ông có định thông báo về việc cô ấy mất tích không?”

“Tôi cho là bố mẹ cô ấy muốn cho cô ấy thời gian để quay về.”

“Vậy nếu cô ấy không về thì sao?”

“Lúc ấy chúng tôi sẽ xem xét...”Erlendur lưỡng lự. “Tôi đã nghĩ là cô ấy liên lạc với anh, để báo với anh lả mọi chuyện ổn cả.”

“Hượm đã, có phải ông đang cho rằng đó là lỗi của tôi và cô ấy không nói gì với tôi vì tôi đã làm điều gì đó với cô ấy không? Lạy Chúa, thật là một câu chuyện kinh dị đẫm máu. Ông có hiểu ngày thứ Hai tôi đi làm nó như thế nào không? Tất cả đồng nghiệp của tôi đều đến dự tiệc, sếp của tôi cũng đến. Ông nghĩ đó là lỗi của tôi à? Mẹ kiếp! Tất cả đều nghĩ là do lỗi của tôi!”

“Đàn bà,” Erlendur nói khi ông đứng lên. “Thật khó để quản lý chất lượng của họ.”

Erlendur vừa về đến vân phòng thì chuông điện thoại kêu. Ông nhận ra giọng người gọi ngay lập tức mặc dù đã lâu lắm rồi ông không nghe thấy giọng nói đó. Nó vẫn còn trong, khỏe vả chắc dù người nói đã khá lớn tuổi. Eriendur đã biết Marion Briem trong gần ba mươi năm qua và mối quan hệ của họ không phải lúc nào cùng thuận buồm xuôi gió.

“Tôi vừa từ biệt thự về,” giọng nói vang lên, “và về đến thị trấn tôi mới biết tin.”

“Cô đang nói đến Holberg phải không?” Erlendur hòi.

“Anh đã xem qua các báo cáo về ông ta chưa?”

“Sigurdur Óli đã kiểm tra các báo cáo trên máy tính nhưng tôi vẫn chưa nghe tin tức gì từ anh ta cả. Báo cáo nào vậy?”

“Câu hỏi đặt ra là liệu chúng có thực sự còn được lưu giữ trên máy tính hay không. Có thể là chúng đã bị vứt đi rồi. Có luật nào nói về thời gian các báo cáo trở nên vô hiệu lực không? Có phải chúng đã bị hủy đi rồi không?”

“Cô đang nói đến điều gì vậy?”

“Té ra là Holberg không phải là một công dân mẫu mực,” Marion Briem trả lời.

“Theo kiểu như thế nào mới được chứ?”

“Có khả năng ông ta lả một kẻ hiếp dâm.”

“Có khả năng?”

“Ông ta bị kiện vì tội hiếp dâm, nhưng chưa bao giờ bị kết án. Đó là vào năm 1963. Anh phải xem các báo cáo của mình đi.”

“Ai kiện ông ta?”

“Một người phụ nữ tên lả Kolbrún. Bà ta sống ở...”

“Keflavík phải không?”

“Phải, sao anh biết?”

“Chúng tôi tìm thấy một bức ảnh trong ngăn kéo bàn của Holberg. Dường như nó được giấu ở đó vậy. Đó là bức ảnh chụp ngôi mộ của một bé gái tên là Audur, trong một nghĩa trang mà chúng tôi chưa xác định được. Tôi đã đánh thức một cái thây sống ở Tổng cục Thống kê quốc gia và tìm thấy tên của Kolbrún trên giấy chứng từ. Đó là mẹ của Audur. Bà ta cũng đã chết rồi.”

Marion không nói gì cả.

“Marion?” Erlendur gọi.

“Thế anh nghĩ sao?” Giọng nói đáp lại.

Erlendur suy nghĩ.

“Theo tôi, nếu như Holberg đã cưỡng hiếp người mẹ thì có thể ông ta là cha đứa trẻ, và đó là lý do tại sao tấm ảnh lại ở trong bàn của ông ta. Cô bé sinh năm 1964, mới có bốn tuổi thì chết.”

“Holberg chưa bao giờ bị kết án cả,” Marion Briem nói. “Vụ án bị khép lại vì không có đủ bằng chứng.”

“Cô có nghĩ là bà ta đã dựng lên chuyện đó không?”

“Vào thời ấy thì đó là điều không thể, nhưng như thế cùng không chứng minh được gì. Tất nhiên là phụ nữ không dễ dàng gì được bồi thường cho những kiểu tội ác như vậy. Anh không thể tường tượng được bà ta đã phải trải qua những gì trong suốt gần bốn mươi năm đầu. Ngày nay phụ nữ có thể vượt qua được, nhưng ngày ấy thực sự là rất khó. Bà ta khó có thể làm chuyện ấy chỉ để bông đùa. Có thể bức ảnh đó là bằng chứng về tình cha con. Tại sao Holberg lại phải giấu tấm ảnh ấy trong bàn? Vụ hiếp dâm xảy ra năm 1963. Anh nói rằng Kolbrún có con gái một năm sau đó. Bốn năm sau cô bé chết, Kolbrún đã chôn cất cô bé. Holberg cũng bị dính líu vảo chuyện đó vì một lý do nào đấy. Có thể ông ta tự mình chụp bức ảnh. Tại sao, tôi không biết. Có vẻ điều đó không thuyết phục.”

“Chắc chắn là ông ta không thể đến dự đám tang, nhưng sau đó ông ta có thể đến ngôi mộ và chụp một bức ảnh. Ý cô là như thế phải không?”

“Cũng có một khả năng khác.”

“Sao cơ?”

“Có thể Kolbrún tự chụp bức ảnh và gửi nó cho Holberg.”

“Nhưng tại sao? Nếu đã bị ông ta hiếp, tại sao bà ấy lại gửi cho ông ta ảnh ngôi mộ của cô bé?”

“Câu hỏi hay đấy.”

“Giấy chứng tử có nói rõ nguyên nhân dẫn đến cái chết của Audur không?” Marion Briem hỏi. “Đó có phải là một tai nạn không?”

“Cô bé chết vì bệnh u não. Theo cô điều đó có quan trọng không?”

“Người ta có làm xét nghiệm tử thi không?”

“Chắc chắn rồi. Có tên của bác sĩ trên giấy chứng tử mà.”

“Thế còn người mẹ?”

“Chết đột ngột tại nhà.”

“Tự tử à?”

“Phải.”

“Anh đã thôi không gọi điện để gặp tôi nữa,” Marion nói sau một khoảng lặng ngắn ngủi.

“Tôi bận quá,” Erlendur nói. “Bận vô cùng.”

8

Sáng hôm sau, trời vẫn mưa và trên đường đến Keflavík, nước tràn vào các vết bánh xe tạo thành các hồ lầy. Mưa tuôn xối xả làm Erlendur khó có thể thấy gì, cửa kính lúc này đã sũng nước và kêu lạch cạch trong cơn bão khủng khiếp triền miên của vùng Đông Nam. Những chiếc cần gạt nước làm việc không kịp trên kính chắn gió, Erlendur ghì chặt vô lăng đến nỗi các đốt ngón tay của ông trắng bệch, ông lờ mờ nhìn thấy màu đèn đỏ của chiếc xe đi đằng trước và cố gắng bám họ hết sức có thể.

Ông đi một mình, nghĩ rằng như thế này là tốt nhất sau cuộc nói chuyện điện thoại khó khăn với chị gái của Kolbrún buổi sáng hôm đó. Trong giấy chứng tử bà ta được liệt vào danh sách thân nhân tiếp theo. Thái độ của người chị gái không được hợp tác cho lắm. Bà ta từ chối gặp Erlendur. Hình ảnh Holberg chết đã xuất hiện trên mặt báo. Erlendur hỏi người phụ nữ rằng bà có nhìn thấy hình ảnh đó không vả đang chuẩn bị hỏi liệu bà có còn nhớ ông ta không thì máy đã cúp. Ông quyết định thử xem bà ta sẽ làm gì nếu thấy ông xuất hiện trên bậc cửa nhà mình, ông không muốn để cảnh sát đến áp giải bà ta về chỗ mình.

Erlendur đã trải qua một đêm thật tồi tệ. Ông rất lo cho Eva Lind và sợ con bé sẽ làm điều gì ngu ngốc. Con bé có điện thoại, nhưng mỗi lần ông gọi là tiếng trả lời tự động lại vang lên nói rằng số máy không liên lạc được. Erlendur hiếm khi nhớ lại giấc mơ của mình, ông thấy không thoải mái khi phải thức dậy để vồ lấy một cơn ác mộng vừa trôi qua trong đầu trước khi nó hoàn toàn biến mất.

Cảnh sát đã thu thập được vài thông tin quý giá về Kolbrún. Bà ta sinh năm 1934, từng kiện Holberg về tội hiếp dâm vào ngày 23-11-1963. Trước khi Erlendur khởi hành đi Keflavík, Sigurdur Óli đã thuật lại vụ kiện tụng đó cho ông nghe, đồng thời còn mô tả lại cách thức lấy thông tin vụ kiện từ hồ sơ của cảnh sát mà Sigurdur Óli đã tìm thấy trong phòng lưu trữ - sau khi nhận được lời gợi ý từ Marion Briem.

Năm ba mươi tuổi Kolbrún sinh Audur, chín tháng sau vụ hiếp dâm. Theo lời các nhân chứng của Kolbrún thì cô ta đã gặp Holberg ở một vũ trường giữa Keflavík và Njardvik. Đó là một đêm thứ Bảy. Kolbrún không biết và cũng chưa từng gặp ông ta bao giờ. Cô ta đi cùng hai người bạn gái, còn Holberg cũng đi với hai người đàn ông khác. Họ đã ở cùng nhau trong vũ trường đêm hôm đó. Khi các điệu nhảy kết thúc, tất cả bọn họ đi dự tiệc tại nhà một bạn gái của Kolbrún. Khá muộn Kolbrún mới chuẩn bị ra về. Holberg đề nghị đưa cô ta về vì muốn cô ta được an toàn. Kolbrún cũng không phản đối. Cả hai người đều không say. Kolbrún nói rằng cô đã uống hết hai chai Vodka và Cokes ở vũ trường và sau đó không uống gì thêm. Còn Holberg không uống gì suốt buổi tối hôm ấy. Theo những gì Kolbrún nghe được thì ông ta nói rằng mình đang phải tiêm penecilin để trị chứng nhiễm trùng ở tai. Có giấy chứng nhận của bác sĩ kèm với phiếu thanh toán khẳng định điều đó là đúng.

* * *

Holberg hỏi xem liệu có thể gọi một taxi đến Reykjavík không. Kolbrún do dự một lát rồi chỉ cho ông ta chỗ chiếc điện thoại. Holberg đi vào phòng khách để gọi điện trong khi Kolbrún cởi áo khoác ở hành lang và vào bếp lấy một cốc nước. Cô không nghe thấy ông ta kết thúc cuộc đàm thoại của mình, nếu đúng là nó có thật. Cô cảm thấy ông ta đột ngột xuất hiện ngay đằng sau khi cô đứng bên bồn rửa bát.

Cô giật mình đến mức đánh rơi cả cốc, lảm đổ nước lênh láng ra bàn ăn. Cô hét lên khi bàn tay ông ta bắt đầu vồ lấy ngực mình, cô lao vội vào một góc để tránh.

“Anh làm cái trò gì thế?” Kolbrún thét lên.

“Chúng ta vui vẻ một chút được không nào?” Holberg trả lời và đứng ngay trước mặt cô, cơ bắp cuồn cuộn với bàn tay rắn chắc và những ngón tay to sụ.

“Tôi yêu cầu anh đi ra cho,” cô nói quả quyết. “Ngay bây giờ! Anh làm ơn đi ngay cho!”

“Chúng ta vui vẻ một chút đi!” Hắn nhắc lại rồi bước một bước lại gần cô. Cô khoanh tay lại như để tự vệ.

“Lùi lại!” Cô thét lên. “Tôi gọi cho cảnh sát bây giờ!”

Bất thình lình cô cảm thấy mình thật đơn độc và yếu đuối khi phải đối đầu với người đàn ông lạ mặt này, người mà cô đã mời về nhà và hắn đang tiến đến gần hơn, vặn tay cô ra đằng sau rồi đang cố gắng hôn cô.

Cô chống trả lại, nhưng vô ích. Cô cố gắng nói với hắn, yêu cầu hắn dừng lại, nhưng tất cả những gì cô cảm thấy chỉ là sự tổn thương của chính mình.

* * *

Erlendur thoát ra khỏi dòng suy nghĩ miên man khi một chiếc xe tải khổng lồ rú còi inh ỏi và ầm ầm vượt qua Erlendur khiến cho sóng nước té tới tấp vào xe ông. Erlendur giật manh vô lăng khiến chiếc xe nhảy chồm lên trong làn nước. Đuôi xe xoay vòng, trong một giây Erlendur đã nghĩ rằng mình sắp mất kiểm soát và sẽ bị ném vào vùng lầy mất. Ông cố dừng hẳn lại và nỗ lực giữ xe bám trên mặt đường, sau đó chửi mắng tên lái xe tải thậm tệ, nhưng lúc đó hắn đã biến mất khỏi tầm nhìn của ông trong làn mưa tầm tã.

Hai mươi phút sau ông đỗ xe trước một ngôi nhà mái tôn nhỏ trong khu vực cũ kỹ nhất của Keflavík. Ngôi nhà sơn trắng với một hàng rào trắng nhỏ bao quanh và một khu vườn được giữ quá cẩn thận. Người chị gái tên là Elín. Bà ta hơn Kolbrún vài tuổi và đã về hưu. Bà ta đang đứng ở sảnh trước, mặc một chiếc áo mưa và đang chuẩn bị ra ngoài khi Erlendur gọi cửa. Bà ta nhìn ông đầy kinh ngạc. Đó là một người phụ nữ thấp, mảnh khảnh với khuôn mặt đầy khắc nghiệt, ánh mắt sắc, xương gò má cao và khóe miệng đầy nếp nhăn.

“Hẳn tôi đã nói với ông rằng tôi không muốn can dự gì đến ông hay cảnh sát!” Người phụ nữ nói đầy tức giận khi Erlendur giới thiệu về mình.

“Tôi biết,” Erlendur nói, “nhưng...”

“Tôi yêu cầu ông để tôi được yên,” bà ta nói. “Ông không nên phí thời gian đến đây.”

Người phụ nữ bước ra bậc cửa, đóng sầm cửa lại rồi đi ra vườn và mở cái cửa nhỏ ở hàng rào, cứ để nó mở như thế ám chỉ rằng bà ta muốn Erlendur rời khỏi đây. Bà ta còn không thèm nhìn mặt ông nữa. Erlendur đúng trên bậc cửa và nhìn theo bóng bà ta.

“Bà biết là Holberg đã chết.”

Người phụ nữ không trả lời.

“Ông ta bị giết tại nhà. Bà biết điều đó.”

Erlendur lúc này đang đứng ở bậc thềm cuối cùng, ông vội đuổi theo bà ta. Người phụ nữ che một cái ô màu đen và nước mưa rơi như trút lên trên đó. Còn Erlendur thì chẳng có gì ngoài cái mũ để che chắn. Bà ta rảo bước nhanh hơn. Erlendur chạy để đuổi theo, ông không biết phải nói gì để yêu cầu người phụ nữ đó nghe mình, không hiểu tại sao bà ta lại cư xử như vậy.

“Tôi muốn hỏi bà về Audur,” ông nói.

Elín bất ngờ dừng lại và quay ngoắt lại, ném cho ông một cái nhìn

khinh bỉ.

“Các người là lũ cớm chết tiệt,” bà ta rít lên qua hàm răng nghiến chặt. “Ông mà cũng dám nhắc đến tên con bé à? Làm sao ông dám? Sau tất cả những gì mà các ông đã đối xử với mẹ nó? Cút đi! Cút ngay bây giờ! Đồ cớm khốn nạn!”

Người phụ nữ nhìn Erlendur với ánh mắt căm thù, còn ông nhìn lại bà ta chằm chằm.

“Sau tất cả những gì chúng tôi làm với cô ấy ư?” ông nói. “Với ai cơ?”

“Cút đi!” Bà ta hét lên rồi quay đi và rảo bước, để Erlendur đứng trơ lại một mình, ông không đuổi theo nữa mà nhìn theo người phụ nữ cho đến khi bà ta biến mất trong làn mưa, người hơi cúi, khoác chiếc áo mưa xanh lục và đi một đôi bốt thấp cổ. Erlendur quay lại,đi về phía nhà bà ta và chiếc xe của mình, suy nghĩ mông lung, ông chui vào xe và châm một điếu thuốc, hơi hé cửa kính, khởi động máy và chầm chậm lái xe ra khỏi ngôi nhà.

Khi hít vào, ông lại cảm thấy nhói đau nơi vùng ngực. Điều này xảy ra khá lâu rồi. Nó khiến Erlendur lo lắng gần một năm nay. Một nỗi đau mơ hồ đón chào ông vào mỗi buổi sáng nhưng thường biến mất ngay sau khi ông ra khỏi giường, ông không có đệm tốt để nằm. Đôi lúc cả người ông đau ê ẩm khi nằm trên giường quá lâu.

Ông hít hơi thuốc vào. Hy vọng đó là do cái đệm.

Khi Erlendur dập tắt điếu thuốc, chuông điện thoại chợt vang lên trong

túi áo khoác. Người gọi là đội trưởng nhóm pháp y, thông báo rằng họ đã thành công trong việc giải mã các chữ khắc trên mộ và đã tìm được vị trí của nó trong Kinh thánh.

“Nó được trích từ Kinh Psalm 64,” đội trường nói.

“Tốt lắm,” Erlendur nói.

“Hãy gìn giữ mạng sống của con khỏi sợ kè thù nghịch.”

“Sao cơ?”

“Đó là dòng chữ được khắc trên tấm bia mộ: “Hãy gìn giữ mạng sống của con khỏi sợ kẻ thù nghịch”. Trích từ Kinh Psalm 64.

“Hãy gìn giữ mạng sống của con khỏi sợ kẻ thù nghịch.”

“Điều đó có ích gì cho ông không?”

“Tôi chưa biết.”

“Có hai mẫu vân tay trên bức ảnh.”

“Phải, Sigurdur Óli đã nói cho tôi biết.”

“Một là của Holberg, nhưng mẫu còn lại không có trong hồ sơ của

chúng ta. Chúng khá mờ. Những dấu vân tay đã từ lâu lắm rồi.”

“Ông có thể biết bức ảnh được chụp bởi loại máy nào không?”

Erlendur hòi.

“Không thể nói được. Nhưng tôi nghĩ rằng đó là loại máy khá xịn đấy.”

9

Sigurdur Óli đỗ xe tại sân của công ty Vận tải Iceland, hy vọng là nó không nằm trên đường đi của xe tải. Các xe tải xếp thành hàng dài trên sân. Một số xe đang được chất hàng lên, một số đã được lái đi, những chiếc còn lại được đưa về kho hàng hóa. Một thứ mùi khó chịu của xăng và dầu tràn ngập trong không khí, tiếng ồn phát ra từ động cơ xe đinh tai nhức óc. Nhân viên và khách hàng đang hối hả đi trong sân và kho hàng.

Trụ sở cảnh sát Luân Đôn đã dự báo thời tiết sẽ còn ẩm ướt hơn nữa. Sigurdur Óli cố kéo cao chiếc áo khoác lên đầu để thoát khỏi cơn mưa khi ông chạy đến kho hàng. Ông chạy về hướng người quản đốc lúc này đang ngồi trong một phòng làm việc nhỏ kiểm tra giấy tờ và có vẻ cực kỳ bận rộn.

Ông quản đốc là một người to béo. Ông ta mặc chiếc áo khoác có mũ trùm đầu màu xanh và cài một chiếc cúc quanh bụng, tay cầm điếu xì gà. Người đàn ông đó đã nghe tin về cái chết của Holberg và nói rằng ông ta biết Holberg khá rõ. Theo ông ta, Holberg là một người đáng tin cậy, một công nhân chăm chỉ, người đã lái xe từ đầu này đến đầu kia đất nước trong nhiều thập kỷ và thuộc mạng lưới đường bộ của Iceland như lòng bàn tay. Người đốc công còn nói rằng Holberg thuộc kiểu người giữ kẽ, không bao giờ kể về mình hay về những vấn đề cá nhân, không bao giờ kết bạn với ai trong công ty cũng như nói về những việc mình đã làm trước đây. Ông ta nghĩ rằng Holberg luôn luôn là một người lái xe tải. Holberg nói chuyện như thế là đã làm nghề này từ trước. Theo người đốc công thì ông ta độc thân, không có con, cũng không bao giờ nói về gia đình thân thuộc của mình.

“Đó là tất cả những gì tôi biết”, người đốc công nói như thể muốn kết thúc cuộc nói chuyện tại đây trong lúc lấy ra một cái bật lửa từ túi áo và châm điếu xì gà. “Thật là buồn”, phù phù, “khi mọi chuyện thành ra như vậy”, phù.

“Ông ta chủ yếu giao du với ai ở đây?” Sigurdur Óli hỏi, cố gắng không hít phải hơi khói hôi hám tỏa ra từ điếu xì gà.

“Ông có thể gặp Hilmar, tôi nghĩ là anh ta biết ông ta rõ nhất. Anh ta ở Reydarfjordur nên thỉnh thoảng nghỉ lại nhà Holberg ở Nordurmýri mỗi khi anh ta phải qua đêm tại thị trấn. Có những qui định về nơi nghỉ ngơi mà các lái xe phải tuân theo, do vậy họ phải có nơi nào đó để ở trong thành phố.”

“Anh ta có ở đó vào cuối tuần trước không?”

“Không. Lúc ấy anh ta đang làm việc ở miền Đông, tuy nhiên anh ta có thể ở đó vào cuối tuần trước nữa.”

“Ông nghĩ ai có thể làm hại Holberg? Do xích mích ở chỗ làm hay... ”

“Không, không có,” phù, “lý nào”, phù, “lại như thế được”, phù. Người đàn ông gặp khó khăn trong việc giữ cho điếu xì gà của mình cháy. “Nói chuyện với”, phù, “Hilmar”, phù, “anh ta có thể giúp ông đấy”.

Sigurdur Óli đi tìm Hilmar sau khi nghe người đốc công chỉ dẫn. Hilmar đang đứng gần một ô cửa kho hàng giám sát việc dỡ hàng xuống xe. Ông ta là một người khổng lồ, cao phải đến hai mét, cơ bắp cuồn cuộn, khỏe mạnh, râu ria xồm xoàm với hai cánh tay rậm lông lộ ra dưới lớp áo phông. Ông ta tầm năm mươi tuổi. Chiếc dây đeo màu xanh lỗi thời giúp kéo chiếc quần bò rách rưới lên. Một máy nâng hàng nhỏ đang tháo dỡ hàng khỏi xe tải. Một chiếc xe khác đang lùi về ô hàng bên cạnh. Cùng lúc đó hai người lái xe bóp còi inh ỏi và chửi nhau loạn xạ trong sân.

Sigurdur Óli đi về phía Hilmar mà vỗ nhẹ vào vai ông ta, nhưng người đàn ông không chú ý đến Sigurdur Óli. Ông đập mạnh hơn, và cuối cùng Hilmar cũng quay lại. Ông ta có thể thấy Sigurdur Óli đang nói gì đó với mình nhưng không thể nghe thấy gì và nhìn xuống viên cảnh sát với vẻ mặt đần độn. Sigurdur Óli nói to hơn, nhưng cũng chẳng ích gì. Lần này anh nói to hơn nữa và nghĩ rằng Hilmar đã mơ hồ hiểu ra, nhưng anh đã lầm. Hilmar chỉ lắc đầu và chỉ vào tai mình.

Trước tình cảnh này, Sigurdur Óli cố gắng gấp đôi, anh uốn cong mình, kiễng chân lên và hét lên với giọng to nhất có thể vào cái lúc tất cả mọi thứ lại hoàn toàn trở nên yên lặng. Tiếng của anh vang lên với một âm lượng khủng khiếp, dội vào các bức tường trong kho hàng khổng lồ và vọng cả ra ngoài sân:

“ÔNG ĐÃ NGỦ VỚI HOLBERG PHẢI KHÔNG?”

10

Khi Erlendur đến, người đàn ông đang cào lá trong vườn không ngẩng đầu lên cho đến khi Erlendur đã đứng quan sát ông ta được một lúc lâu. Ông ta làm việc chậm chạp với sức lực của một ông già và quệt một giọt mồ hôi nơi đầu mũi. Dường như chuyện mưa gió làm những chiếc lá dính lại với nhau rất khó cào có vẻ không ảnh hưởng gì đến công việc của ông. Ông làm việc chậm rãi, móc những cái lá bằng một cái cào và cố gắng gom chúng thành từng đống nhỏ. Ông ta vẫn sống ở Keflavík, sinh ra và lớn lên ở đó.

Erlendur nhờ Elínborg thu thập thông tin về ông ta và cô đã tìm ra những điểm chính về người đàn ông lớn tuổi mà giờ đây Erlendur đang quan sát trong vườn - đồng nghiệp của ông, người từng hứng chịu bao nhiêu lời chỉ trích về tư cách đạo đức và quá trình phục vụ trong suốt nhiều năm làm trong ngành, việc giải quyết vụ Kolbrún và cả việc ông đã bị khiển trách nặng nề sau chuyện đó. Elínborg gọi lại để báo tin trong lúc Erlendur đang ngồi ăn ở Keflavík. Ông định lùi cuộc gặp sang ngày hôm sau, sau đó lại thầm nghĩ rằng mình không thể ngại việc lái xe xuống đó rồi quay về trong thời tiết bão dữ dội như này, nên ông muốn tiến hành luôn.

Người đàn ông khoác áo choàng dài và đội một cái mũ bóng chày. Đôi bàn tay trắng xanh gầy guộc đang cầm chặt cán cào. Ông ta cao lớn, hẳn trước đây ông phải rất cường tráng và có dáng dấp quyền uy, nhưng lúc này trông ông ta thật già nua, nhăn nheo và còn chảy cả nước mũi. Erlendur quan sát ông già lúc ấy đang đi thơ thẩn trong vườn. Người đàn ông đó ngước nhìn lên, nhưng không chú ý đặc biệt đến người đang nhìn mình. Một khoảnh khắc yên tĩnh trôi qua cho đến khi Erlendur quyết định tiến lại.

“Tại sao chị gái bà ta không chịu nói chuyện với tôi?” Ông nói và người đàn ông bắt đầu ngẩng lên nhìn.

“Sao cơ? Chuyện gì cơ?” Người đàn ông ngừng tay. “Ông là ai?” Ông ta hỏi.

“Ông đã đối xử với Kolbrún như thế nào khi bà ta đến chỗ ông để khiếu kiện?”. Erlendur hỏi.

Ông ta nhìn người lạ đã bước vào vườn nhà mình từ đầu đến chân và lấy mu bàn tay lau mũi.

“Tôi có biết ông không?” Ông ta hỏi. “Ông đang nói về chuyện gì vậy? Ông là ai?”.

“Tên tôi là Erlendur. Tôi đang điều tra vụ giết một người đàn ông ở Reykjavík có tên là Holberg. Ông ta đã bị buộc tội hiếp dâm cách đây gần 40 năm. Ông chịu trách nhiệm điều tra vụ đó. Người phụ nữ bị cưỡng hiếp tên là Kolbrún. Cô ta đã chết. Chị gái của cô ta không chịu nói chuyện với cảnh sát vì một vài lý do nào đó mà tồi đang cố điều tra. Bà ta nói với tôi là ‘sau tất cả những gì các ông đã làm với cô ấy’. Tôi muốn ông nói cho tôi biết bà ta đang đề cập đến điều gì”.

Người đàn ông chỉ đưa mắt nhìn Erlendur và vẫn yên lặng.

“Ông đã làm gì với cô ấy?” Erlendur hỏi lại.

“Tôi không nhớ được... Ông có quyền gì chứ? Đây là kiểu lăng mạ nào vậy?” Giọng ông ta run nhẹ. “Ra khỏi vườn của tôi, nếu không tôi gọi cảnh sát đấy!”

“Không, Rúnar, tôi là cảnh sát. Và tôi không có thì giờ để làm những chuyện nhảm nhí đâu!

Rúnar suy nghĩ một lát. “Đây là phương pháp mới à? Tấn công người khác với những lời buộc tội và thóa mạ?”

“Thật tiện khi ông nhắc đến các phương pháp và sự thóa mạ” Erlendur nói. “Cùng một lúc ông thụ lý tám vụ án liên quan đến vi phạm thuế, bao gồm cả gây rối trật tự. Tôi không biết ông phải phục vụ ai để giữ công việc của mình, nhưng kết cục ông lại không làm tốt lắm bởi cuối cùng ông đã phải rời ngành cảnh sát trong nhục nhã. Bị sa thải... ”

“ Anh im đi,” Rúnar nói, nhìn nhanh xung quanh. “Làm sao anh dám... ?”

“… vì tội quấy rối tình dục thường xuyên.”

Bàn tay trắng xương xẩu của ông ta xiết chặt cái cào, làn da xanh xao bị kéo căng cho đến khi các đốt ngón tay hằn lên. Mặt ông ta đanh lại đầy vẻ căm thù, nhìn chòng chọc vào Erlendur cho đến khi mắt ông ta khép lại còn một nửa. Trên đường đến gặp Rúnar, trong lúc các thông tin mà Elínborg cung cấp cứ trở đi trở lại trong đầu, Erlendur đã cân nhắc xem liệu Rúnar có đáng bị xử phạt vì những gì ông ta đã làm trong một cuộc sống khác, khi ông ta còn là một người đàn ông khác.

Erlendur đã làm trong lực lượng cảnh sát đủ lâu để nghe được nhiều chuyện về Rúnar, về những rắc rối mà ông ta gây ra. Thực ra nhiều năm trước đây ông đã gặp Rúnar một vài lần, nhưng người đàn ông trong vườn giờ đây quá già và lụ khụ đến nỗi Erlendur phải mất một lúc mới chắc chắn được đó chính là ông ta. Các câu chuyện về Rúnar vẫn được truyền đi truyền lại trong sở cảnh sát. Đã có lần Erlendur đọc được rằng quá khứ là một mảnh đất khác và ông có thể hiểu được điều đó. Ông hiểu rằng thời thế thay đổi và con người cũng vậy. Nhưng ông chưa sẵn sàng để tẩy xóa đi quá khứ.

Họ đứng mặt đối mặt trong vườn.

“Còn về Kolbrún thì sao?” Erlendur hỏi.

“Cút đi!”

“Chừng nào ông nói cho tôi biết về Kolbrún.”

“Cô ta là một con đĩ mạt hạng!” Rúnar bất thình lình rít lên giữa hai hàm răng nghiến chặt. “Nhớ lấy điều đó và cút đi! Mọi thứ cô ta nói về tôi và với tôi đều là những lời nói dối bẩn thỉu. Chẳng có vụ hiếp dâm khốn nạn nào cả. Cô ta nói dối từ đầu đến cuối!”

Erlendur tưởng tượng ra hình ảnh Kolbrún ngồi trước mặt người đàn ông này nhiều năm trước đây khi cô đã trình báo vụ hiếp dâm. Ông hình dung việc từng ngày từng ngày cô phải thu hết can đảm cho đến khi dám đến sở cảnh sát để trình báo việc đã xảy ra với mình. Ông thấy sự khủng khiếp mà cô phải trải qua và, hơn tất thảy mọi thứ, muốn quên nó đi như thể nó chưa từng xảy ra, như thể nó chỉ là một cơn ác mộng mà cuối cùng cô cũng thức dậy. Sau đó cô nhận ra rằng mình sẽ không bao giờ tỉnh lại được. Cô đã bị làm ô nhục. Cô đã bị tấn công và bị cưỡng bức.

“Cô ta tới trình báo khi vụ việc xảy ra được ba ngày và buộc người ta tội hiếp dâm,” Rúnar nói. “Lý lẽ không được thuyết phục cho lắm.”

“Vậy nên ông đã tống cô ta ra ngoài?” Erlendur nói.

“Cô ta nói dối.”

“Và ông cười vào mặt cô ấy, xem thường cô ấy và bảo cô ấy quên chuyện đó đi. Nhưng cô ấy không quên được, phải không?”

Người đàn ông nhìn Erlendur với ánh mắt khinh bỉ.

“Cô ấy đã đến Reykjavík phải không?” Erlendur hỏi.

“Holberg chưa bao giờ bị buộc tội cả.”

“Nhờ có ai đó, ông có nghĩ thế không?”

Erlendur hình dung ra cảnh Kolbrún cãi lộn với Rúnar trong sở cảnh sát. Cãi lộn với ông ta! Người đàn ông đó! Tranh cãi về sự thật mà cô đã trải qua. cố gắng thuyết phục ông ta rằng cô đang nói sự thật như kiểu ông ta là vị quan tòa tối cao đang xét xử vụ việc của mình.

***

Cô phải dồn hết sức mình để liên kết các sự việc trong buổi tối hôm đó và cố gắng kể một cách rành mạch, nhưng điều đó quá đau đớn. Cô không thể miêu tả lại được. Không thể kể lại được cái điều mơ hồ và ghê tởm ấy. Bằng cách nào đó cô đã cố gắng ráp nối các mảnh rời rạc trong câu chuyện của mình. Có phải đó là một điệu cười nhếch mép không? Cô không hiểu tại sao viên cảnh sát lại có hành động đó. Cô có cảm tưởng đó là điệu cười nhếch mép, nhưng không thể như thế được. Sau đó ông ta bắt đầu tra hỏi cô về các chi tiết cụ thể.

“Kể cụ thể cho tôi xem chuyện đó như thế nào.”

Cô nhìn ông ta, bối rối. Cô ngập ngùng kể lại câu chuyện của mình.

“Không, tôi đã nghe điều đó rồi. Tôi muốn cô kể chính xác cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra. Cô đang mặc quần lót. Làm thế nào mà hắn cởi được quần lót của cô ra? Hắn đi vào trong cô như thế nào?”

Ông ta đang đùa hay sao thế? Cuối cùng cô hỏi xem có nữ cảnh sát nào đang làm việc ở đó không.

“Không. Nếu cô muốn kiện ông ta tội hiếp dâm, cô phải kể cụ thể hơn thế này. Cô hiểu chứ? Hay là cô có dụ dỗ nên ông ta mới nghĩ rằng cô đề nghị chuyện đó?”

Đề nghị chuyện đó ư? Cô nói với ông ta bằng giọng gần như lạc đi.

“Cô phải nói ra. Hắn cởi quần lót của cô như thế nào?”

Kolbrún chắc chắn đó là nụ cười nhếch mép. Rúnar xấc xược tra hỏi cô, chất vấn những điều cô nói một cách thô lỗ, một vài câu hỏi còn bộc lộ sự sỉ nhục rành rành, thật là bẩn thỉu. Hắn cư xử như thể cô đã gây ra chuyện xấu xa đó, đã muốn làm tình với cái gã đốn mạt kia, và có lẽ về sau cô đã thay đổi quyết định nhưng đã quá muộn, quá muộn để trốn tránh khỏi chuyện đó. “Không có ích gì khi cô đã đến sàn nhảy, ve vãn người đàn ông và sau đó lại dừng lại giữa chừng. Chẳng ích gì đâu!” Ông ta nói.

Cô khóc nức nở khi cuối cùng cô cũng phải mở túi xách, lấy ra một cái túi bằng nhựa và đưa nó cho ông ta. Ông mở cái túi và lấy ra chiếc quần lót đã bị xé toạc...

Rúnar bỏ cái cào xuống và sắp sửa đi qua Erlendur, nhưng Erlendur đã chặn đường ông ta và xoay lưng ông ta vào tường nhà. Họ nhìn thẳng vào mắt nhau.

“Cô ấy đã đưa cho ông chứng cứ,” Erlendur nói. “Chứng cứ duy nhất mà cô ấy có. Cô ấy chắc chắn là Holberg đã để lại thứ gì đó.”

“Cô ta chưa bao giờ đưa cho tôi cái gì cả!” Rúnar rít lên. “Để tôi được yên.”

“Cô ấy đã đưa cho ông chiếc quần lót.”

“Cô ta nói dối dấy.”

“Đáng lý ra người ta nên khử ông đi thì hơn. Đồ súc vật khốn kiếp.” Với một sự ghê tởm, Erlendur chầm chậm lùi lại, tránh xa người đàn ông hom hem lúc này đang gập mình trước bức tường.

“Tôi chỉ nói cho cô ta biết điều gì sẽ chờ đợi cô ta nếu cô ta muốn kiện tụng.” người đàn ông rít lên. “Tôi đã giúp cô ta đấy chứ. Quan tòa sẽ cười vào những vụ kiện như thế.”

Erlendur xoay người bước đi, tự hỏi làm sao mà Chúa, nếu Người thực sự tồn tại, lại để cho những kẻ như Rúnar còn sống đến già trong khi lấy đi sinh mạng của một bé gái vô tội mới tròn bốn tuổi.

Ông dự định sẽ quay trở về gặp người chị của Kolbrún nhưng lại ghé qua thư viện Keflavík trước. Ông đi giữa các giá sách, quét ánh mắt lên gáy sách cho đến khi tìm thấy cuốn Kinh thánh.

Erlendur biết Kinh thánh rất rõ. Ông mở mục Psalm số 64 và tìm thấy dòng chữ được khắc trên bia đá. “Hãy gìn giữ mạng sống của con khỏi sợ kẻ thù nghịch.”

Ông đã nhớ chính xác. Các chữ khắc là dòng tiếp theo của dòng đầu tiên trong kinh Psalm, Erlendur đọc đi đọc lại mấy lần, từ từ lần tay theo dòng chữ, và thầm đọc lại câu thánh thi khi đứng bên giá sách.

Dòng đầu tiên trong kinh Psalm là một lời thỉnh cầu lên Chúa. Erlendur dường như có thể nghe thấy tiếng khóc thầm của người phụ nữ vang vọng suốt bao nhiêu năm.

“Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy nghe tiếng than thở tôi.”

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 3

Đang tải bình luận...