11
Erlendur đỗ xe bên ngoài khu nhà sơn trắng có mái tôn và tắt máy. Ông ngồi trong xe và hút nốt điếu thuốc của mình. Ông đang cố gắng hạn chế hút thuốc và đã giảm được chỉ còn năm điếu một ngày khi mọi thứ đều tốt đẹp. Nhưng hôm nay, chưa đến ba giờ chiều mà đây đã là điếu thứ tám.
Erlendur xuống xe, đi bộ đến bậc thềm và bấm chuông. Ông chờ một lúc khá lâu, nhung không ai ra mở cửa. Ông thử lại lần nữa, nhưng kết quả vẫn vậy. Ông áp mặt vào cửa sổ và nhìn thấy chiếc áo mưa màu xanh cùng với cái ô và đôi ủng. Ông bấm chuông lần thứ ba, đứng ở bậc thềm trên cùng và cố gắng để không bị ướt. Bất thình lình, cửa mở ra và Elín nhìn ông trùng trừng.
“Để tôi được yên, ông nghe thấy chưa? Cút đi! Đi khỏi đây!”
Bà ta cố gắng đóng sầm cửa nhưng Erlendur lấy chân chặn nó lại.
“Không phải tất cả chúng tôi đều giống Rúnar,” ông nói. Tôi biết em gái bà đã bị đối xử bất công. Tôi đã đến và nói chuyện với Rúnar. Những điều ông ta đã làm là không thể tha thứ được, nhưng hiện tại chúng ta không thay đổi nó được nữa. Ông ta đã già nua và yếu ớt, và ông ta sẽ không bao giờ nhìn ra mình đã làm sai điều gì.”
“Làm ơn để tôi được yên!”
“Tôi phải nói chuyện với bà. Nếu bà không muốn thế này thì tôi buộc phải đưa bà về đồn để thẩm vấn. Tôi không muốn làm điều đó.” Ông lấy bức ảnh chụp ngôi mộ ra khỏi túi và đẩy nó vào khe hở trên cửa. “Tôi tìm thấy tấm ảnh này ở căn hộ của Holberg.”
Elín không trả lời ông. Một khoảng thời gian dài trôi qua. Erlendur giữ bức ảnh qua khe cửa, nhưng ông không thể trông thấy Elín - bà ta vẫn đẩy cửa ra. Dần dần ông thấy sức ép lên chân mình giảm dần và Elín cầm lấy bức ảnh. Ngay sau đó cánh cửa mở ra, Erlendur theo người phụ nữ bước vào trong và cẩn thận đóng cửa.
Elín biến mất vào phòng khách nhỏ và trong một thoáng Erlendur băn khoăn liệu ông có phải cởi đôi giày ướt của mình ra không. Ông chùi chúng trên thảm và đi theo Elín vào phòng khách. Trong phòng có những bức tranh và tranh thêu lồng khung mạ vàng treo tường, một chiếc đàn organ nhỏ đặt ở góc nhà.
“Bà có nhận ra bức ảnh này không?” Erlendur thận trọng hỏi.
“Tôi chưa từng thấy nó bao giờ”, bà ta trả lời.
“Em gái bà có liên hệ gì với Holberg sau... vụ việc đó không?”
“Theo tôi biết thì không. Không bao giờ. Ông có thể hiểu điều đó.”
“Người ta có xét nghiệm máu để xác nhận xem liệu ông ta có phải là cha đứa trẻ hay không?”
“Để làm gì mới được chứ?”
“Nó sẽ củng cố lời khai của em gái bà. Rằng cô ấy đã bị cưỡng hiếp.”
Bà ta rời mắt khỏi bức Inh và nhìn Erlendur chằm chằm, “Các ông giống nhau cả thôi, lũ cảnh sát ạ. Quá lười đến nỗi chẳng chịu động chân động tay vào việc gì cả.”
“Thật sao?”
“Ông chưa nghiên cứu vụ án à?”
“Những chi tiết chính thôi, tôi nghĩ vậy ”
“Holberg không phủ nhận rằng họ đã quan hệ với nhau. Nhưng hắn thông minh hơn thế. Hắn phủ nhận đó là hành vi cưỡng dâm. Holberg còn nói em gái tôi muốn hắn, rằng con bé đã dụ dỗ vả mời hắn về nhà. Đó là lời phản kháng có giá trị nhất của hắn. Rằng Kolbrún đã ngủ với hắn vì tự nguyện. Hắn hoàn toàn vô tội. Hoàn toàn vô tội, đồ con hoang!”
“Nhưng... ”
Kolbrún không quan tâm đến việc chứng minh huyết thống. Em tôi không muốn hắn ta động đến đứa bé. Việc chứng minh Holberg là cha của Andur không có ích gì cho việc con bé buộc tội hắn cưỡng hiếp mình nên việc thử máu là vô ích.”
“Tôi đã không nhận ra điều đó.”
“Tất cả những gì mà em gái tôi có là chiếc quần lót bị xé toạc,” Elín nói tiếp. “Trông con bé không quá tả tơi. Chỉ là nó không được khỏe, không thể kháng cự được. Kolbrún nói với tôi rằng con bé đờ người ra vì sợ hãi khi Holberg bắt đầu vuốt ve mình trong bếp. Hắn ta ép em tôi đi vào phòng ngủ và đã làm điều đồi bại ở đó. Hai lần. Hắn giữ Kolbrún nằm xuống, sờ mó, và nói những điều tục tĩu cho đến khi hắn đủ sức để làm một lần nữa. Kolbrún đã mất ba ngày mới thu hết can đảm để đến sở cảnh sát. Phiếu kiểm tra sức khỏe người ta đưa cho con bé về sau cũng chẳng có ích gì. Em tôi không bao giờ hiểu được tại sao hắn lại tấn công mình. Con bé tự trách mình vì đã khiêu khích hắn làm chuyện đó. Kolbrún nghĩ rằng mình đã dụ dỗ Holberg tại bữa tiệc sau khi sàn nhảy đóng cửa, rằng mình đã nói hoặc đề nghị điều gì đó khiến cho hắn bị kích thích. Con bé tự buộc tội mình. Có lẽ đó là một phản ứng bình thường.”
Elín ngừng lại một lúc.
“Cuối cùng, khi đã suy nghĩ kỹ, em tôi chạy đến chỗ Rúnar,” bà ta tiếp. “Tôi đã có thể đi với Kolbrún, nhưng con bé quá xấu hổ tới mức không dám nói với ai về chuyện đã xảy ra mãi lâu sau đó. Holberg dọa nạt em tôi và nói rằng nếu con bé làm gì, hắn sẽ quay lại và hành hạ. Khi Kolbrún đến sở cảnh sát, con bé nghĩ rằng mình sắp được an toàn. Mình sẽ được giúp đỡ. Người ta sẽ lo cho mình. Cho đến tận khi Rúnar đưa con bé về nhà, sau khi đùa cợt con bé, giữ lấy chiếc quần lót và bảo em tôi quên nó đi, con bé mới đến chỗ tôi.”
“Cái quần lót không bao giờ được tìm thấy nữa,” Erlendur nói. “Rúnar phủ nhận...”
“Kolbrún nói rằng con bé đã đưa cho hắn cái quần và tôi biết em tôi không bao giờ nói dối. Tôi không biết gã đàn ông đó nghĩ gì. Tôi thấy hắn đi quanh quẩn ở thị trấn này một vài lần, trong siêu thị hoặc ở cửa hàng bán cá. Có một lần tôi đã chửi gã vì không kiềm chế được mình. Hắn ta có vẻ lấy làm thích thú lắm, hắn đã cười nhếch mép. Kolbrún đã kể cho tôi nghe về điệu cười ấy của hắn một lần. Hắn nói rằng chưa bao giờ nhận được chiếc quần lót nào cả và lời lẽ của em tôi quá mập mờ. Hắn cho rằng em tôi bị tác động bởi ai đó và đó là lý do hắn đưa em tôi về nhà.”
“Kết cục là ông ta đã bị cảnh cáo,” Erlendur nói, “nhưng nó không có tác dụng lắm. Rúnar luôn luôn phải nhận cảnh cáo. Ông ta có tiếng là một tên lưu manh trong sở cảnh sát nhưng lại được ai đó bao che, và đến khi ông ta không được bảo vệ nữa thì bị sa thải.”
“Không đủ chứng cứ để đưa vụ việc ra xét xử, đó là những điều mà người ta nói. Rúnar nói đúng, em tôi nên quên chuyện đó đi. Tất nhiên, Kolbrún đã run sợ trong một thời gian dài, quá dài, và con bé ngốc nghếch đến mức lau dọn toàn bộ nhà cửa từ trong ra ngoài, cả quần áo ngủ, xóa đi mọi dấu vết. Con bé chỉ giữ lại chiếc quần lót. Sau đó em tôi cũng cố gắng để giữ lại một số tang chứng khác. Cô gái tội nghiệp nghĩ rằng như thế đã là đủ để nói lên sự thật. Kolbrún muốn xóa sạch mọi dấu vết của vụ cưỡng dâm ra khỏi cuộc đời mình. Con bé không muốn sống chung với nó. Và, như tôi đã nói Kolbrún trông không tả tơi cho lắm. Đôi môi con bé chỉ bị rách ra - nơi tên khốn kia đã cắn vào - và một bên mắt bị đỏ ngầu. Ngoài ra không còn vết thương nào cả.”
“Cô ấy có vượt qua được chuyện đó không?”
“Không bao giờ. Kolbrún là một phụ nữ rất nhạy cảm. Một tâm hồn đẹp đẽ và một con mồi hiền lành khiến bất kỳ ai cũng có thể làm tổn hại, giống như Holberg, Rúnar. Bọn chúng cảm nhận thấy điều đó, cả hai bọn chúng. Chúng tấn công con bé theo cách riêng của mình. Tấn công con mồi một cách hung bạo, “bà ta nhìn xuống sàn nhà. “Như những con thú.”
Erlendur chờ một lát trước khi tiếp tục.
“Cô ấy đã phản ứng như thế nào khi nhận ra mình đã có thai?” Ông hỏi.
“Rất hợp lý thôi, tôi nghĩ thế. Ngay lập tức em tôi quyết định sẽ vui vẻ vì đứa trẻ bất chấp hoàn cảnh hiện tại và em tôi yêu Audur thực sự. Hai mẹ con rất quấn quít với nhau và Kolbrún chăm sóc con mình rất chu đáo. Em tôi làm tất cả mọi thứ có thể cho con bé. Con bé đáng yêu tội nghiệp ấy.”
“Vậy Holberg có biết Audur là con của mình không?”
“Tất nhiên là hắn biết. Nhưng hắn phủ nhận hoàn toàn chuyện đó. Hắn nói rằng con bé chẳng dính dáng gì đến hắn cả. Hắn còn buộc tội em tôi đi ngủ lang chạ.”
“Họ không bao giờ liên lạc với nhau, không liên lạc gì về con gái mình hay... ”
“Liên lạc ư? Không đời nào! Làm sao ông có thể hình dung ra chuyện như vậy? Chuyện đó không bao giờ có thể xảy ra.”
“Chắc Kolbrún không gửi tấm ảnh cho ông ta chứ?”
“Không. Không, tôi biết rõ điều đó. Đó là điều không thể.”
“Chắc hẳn là Holberg tự chụp lấy. Hoặc ai đó đã biết chuyện ngày trước liền chụp và gửi cho ông ta. Có thể Holberg đã trông thấy tin buồn trên báo. Có thông cáo nào về cái chết của Audur không?”
“Có một bài tin buồn trên báo địa phương. Tôi viết một thông cáo ngắn. Có thể hắn ta đã đọc được nó.”
“Audur được chôn cất tại đây - Keflevik à?”
“Không, hai chị em tôi đến từ Sandgerdi, và có một nghĩa trang ở Hvalsnes, ngay bên ngoài đó. Kolbrún muốn chôn con bé ở đó. Lúc ấy là vào giữa mùa đông.
Người ta đã phải mất rất nhiều thời gian để đào mộ.”
“Giấy chứng tử nói rằng cô bé bị bệnh u não.”
“Đó là lời giải thích mà người ta nói với em tôi. Con bé đã chết. Chết trên tay chúng tôi, cô bé tội nghiệp. Chúng tôi đã không thể làm được gì suốt năm con bé tròn bốn tuổi.”
Elín ngước nhìn lên Erlendur. “Con bé đã chết.”
Lúc đó trong nhà đã tối, tiếng nói vang vọng trong bóng tối ảm đạm mang nặng nỗi hoài nghi và đau đớn. Elín từ từ đứng dậy bật chiếc đèn đứng tỏa ánh sáng mù mờ rồi đi ra hành lang để vào bếp. Erlendur nghe thấy tiếng bà mở vòi nước, đổ nước vào cái gì đó, rồi bà mở một cái hộp, và ông ngửi thấy mùi thơm của cà phê. Ông đứng dậy và ngắm các bức tranh trên tường. Một bức tranh phấn màu do một em bé vẽ được lồng trong chiếc khung mỏng màu đen. Cuối cùng ông đã thấy thứ mà mình đang tìm kiếm. Đó là hai bức ảnh, có lẽ được chụp ở hai năm khác nhau - những bức ảnh của Audur.
Bức thứ nhất được chụp trong một hiệu ảnh. Đó là ảnh đen trắng. Có lẽ em bé trong ảnh chỉ tầm một tuổi, đang ngồi trên một tấm nệm lớn, mặc một bộ váy xinh xắn với nơ cài trên tóc và tay cầm một chiếc trống. Cô bé xoay nửa người về phía thợ chụp ảnh và mỉm cười, để lộ ra bốn chiếc răng nhỏ xíu. Bức ảnh còn lại chụp lúc cô bé khoảng tầm ba tuổi. Erlendur nghĩ là Kolbrún đã chụp bức hình. Audur đang đứng trong một bụi cây, và ánh mặt trời rọi thẳng xuống đầu cô bé. Cô bé mặc một chiếc áo màu đỏ với váy ngắn, chân đi tất trắng, giày đen với những chiếc khóa lấp lánh. Cô bé nhìn thẳng vào máy ảnh, ánh nhìn nghiêm nghị. Có lẽ cô bé không muốn cười.
“Kolbrún chưa bao giờ vượt qua được chuyện đó,” Elín vừa bước ra phòng khách vừa nói. Erlendur đứng thẳng người lên.
“Đó là điều tồi tệ nhất mà con người phải trải qua,” ông nói và lấy một tách cà phê. Elín ngồi xuống sofa, cầm lấy cốc của mình. Erlendur ngồi đối diện với bà và nhấp một ngụm cà phê.
“Nếu ông hút thuốc thì xin cứ tự nhiên,” bà nói.
“Tôi đang cố bỏ thuốc,” Erlendur trả lời, cố gắng không tỏ ra tiếc nuối. Suy nghĩ của ông quay về cơn đau trong ngực, nhung sau đó ông lại lấy gói thuốc nhăn nhúm từ trong túi áo ra và rút một điếu. Điếu thuốc thứ chín trong ngày. Elín đẩy cái gạt tàn về phía Erlendur.
“Thật may mắn là con bé ra đi nhanh chóng,” Elín nói. “Nó bắt đầu cảm thấy đau trong đầu giống như là chứng đau đầu vậy. Bác sĩ khám cho con bé chỉ nói là bệnh đau nửa đầu ở trẻ em. Ông ta kê cho con bé một ít thuốc, nhưng chẳng có tác dụng gì cả. Ông ta không phải là một bác sĩ giỏi. Kolbrún nói đã ngửi thấy mùi rượu trong hơi thở của ông ta và nó lo lắng về chuyện đó. Nhưng rồi mọi việc đã diễn ra quá nhanh. Sức khỏe Audur giảm sút dần. Có một khối u trên da mà đáng lẽ ra ông bác sĩ đã phải chú ý đến nó. Các dấu hiệu. Ở bệnh viện người ta gọi chúng là café au lait (1). Chủ yếu là ở dưới cánh tay con bé. Cuối cùng Audur được đưa đến bệnh viện ở Keflavík, ở đó người ta chẩn đoán là bệnh u xơ thần kinh. Hóa ra đó là bệnh u não. Tất cả mọi chuyện diễn ra trong vòng sáu tháng.”
Elín yên lặng. “Như tôi đã nói, sau cái chết của con gái, Kolbrún chưa bao giờ như thế,” bà thở dài. “Tôi không nghĩ là có ai đó lại vượt qua được bi kịch như thế.”
“Người ta có tiến hành khám nghiệm tử thi với Audur không?” Erlendur hỏi, hình dung ra cảnh một cơ thể bé nhỏ được chiếu sáng bằng đèn huỳnh quang, đặt trên một chiếc bàn thép lạnh lẽo với một đường cắt hình chữ Y trên ngực.
“Kolbrún không chấp nhận chuyện đó,” Elín nói, “nhưng nó không nói gì cả. Em tôi nổi điên lên khi biết rằng người ta đã mổ con bé. Tất nhiên nó hóa điên vì buồn khổ sau cái chết của con gái, và nó không nghe ai cả. Kolbrún không chịu nổi cái ý nghĩ rằng con gái mình bị mổ tử thi. Con bé đã chết, và không gì có thể thay đổi được sự thật đó. Việc khám nghiệm khẳng định chẩn đoán là chính xác. Người ta tìm thấy một khối u ác tính trong não con bé.”
“Còn em gái bà thì sao?”
“Kolbrún tự tử ba năm sau đó. Em tôi rơi vào tình trạng suy nhược không kiểm soát nổi và phải nhờ đến chăm sóc y tế. Em tôi phải vào trại tâm thần một thời gian ở Reykjavík, sau đó trở về nhà ở Keflavík. Tôi cố gắng chăm sóc nó hết mình nhưng dường như nó không còn biết gì nữa. Kolbrún không còn thiết sống. Audur đã mang lại hạnh phúc cho nó cho dù hoàn cảnh có thế nào đi chăng nữa. Nhưng lúc ấy con bé đã đi rồi.”
Elín nhìn sang Erlendur. “Có lẽ ông sẽ thắc mắc em tôi tự tử như thế nào.”
Erlendur không đáp lời.
“Kolbrún đi vào nhà tắm và rạch cả hai cổ tay. Nó đã mua dao lam để làm chuyện đó.”
Elín thôi không nói nữa và bóng tối ảm đạm trong phòng khách bủa vây quanh họ. “Ông có biết điều gì hiện lên trong suy nghĩ của tôi khi tôi nghĩ về vụ tự tử đó không? Đó không phải là máu trong bồn tắm. Không phải là em gái tôi nằm trong bồn nước đỏ lòm, không phải là các vết cắt, mà đó là hình ảnh Kolbrún đến cửa hàng, mua lưỡi dao cạo, trả tiền rồi đếm các đồng xu.”
Elín dừng lại.
“Ông có nghĩ là cái cách đầu óc chúng ta làm việc thật buồn cười không? ”
Bà ta nói như thể là nói với chính mình.
Erlendur không biết phải trả lời bà thế nào.
“Tôi phát hiện ra Kolbrún,” Elín nói tiếp. “Nó đã sắp đặt mọi chuyện, gọi điện cho tôi và bảo tôi ghé qua. Chúng tôi nói chuyện một lát. Tôi luôn cảnh giác trước sự suy nhược của Kolbrún, nhưng về sau nó trông có vẻ tiến triển tốt, như thể là sương mù đã tan đi và em tôi có thể gượng dậy một lần nữa. Giọng nó không hề để lộ một chút nào rằng mình chuẩn bị tự tử đêm hôm đó. Không một chút nào. Chúng tôi nói về tương lai, hai chị em tôi sẽ đi du lịch cùng nhau. Khi tôi phát hiện ra, trông Kolbrún thật bình thản - điều mà tôi không nhìn thấy ở em tôi trong một thời gian dài. Thanh thản và chấp nhận. Nhung tôi biết Kolbrún không hề mảy may chấp nhận chuyện đó và tâm hồn nó không bao giờ yên ổn cả.”
“Tôi muốn hỏi bà một điều và sau đó tôi sẽ không làm phiền bà thêm nữa,” Erlendur nói. “Tôi cần nghe câu trả lời của bà.”
“Chuyện gì vậy?”
“Bà có biết gì về vụ Holberg bị sát hại không?”
“Không, tôi không biết.”
“Và bà không dính dáng gì đến vụ đó, trực tiếp hay gián tiếp chứ?”
“Không.”
Một thoáng yên lặng giữa hai người.
“Những chữ mà cô ấy chọn khắc trên mộ Audur là nói về kẻ thù,” Erlendur nói.
“Hãy gìn giữ mạng sống của con khỏi sợ kẻ thù nghịch.” Kolbrún tự chọn dòng chữ ấy, mặc dù nó không được khắc trên mộ em tôi,” Elín nói. Bà đứng lên, đi đến chỗ cái tủ kính xinh xắn, mở một ngăn kéo và lấy ra một hộp nhỏ màu đen. Bà mở cái hộp bằng một chiếc chìa khóa, rồi nhấc lên mấy cái phong bì và lấy ra một mẩu giấy nhỏ. “Tôi tìm thấy cái này trên bàn ăn vào đêm Kolbrún chết, nhưng tôi không chắc là em gái tôi có muốn tôi khắc trên bia mộ của nó không. Tôi hoài nghi điều đó. Tôi không cho là mình nhận ra những điều mà em tôi phải trải qua cho đến khi nhìn thấy cái này.”
Elín đưa cho Erlendur mẩu giấy. Trên đó là những từ đầu tiên của kinh Psalm mà ông vừa thấy trong cuốn Kinh thánh lúc trước: “Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy nghe tiếng than thở tôi.”
1. Café au lait: Là tên gọi của loại cà phê sữa pha theo kiểu Pháp. Trong y học, người ta dùng thuật ngữ này để chỉ triệu chứng dưới da xuất hiện những vết đốm hoặc bớt màu cà phê sữa (gọi tắt là Dát cà phê sữa).
12
Buổi tối hôm đó, khi Erlendur về đến nhà, con gái ông, Eva Lind đã ngồi trước cửa, hình như đang ngủ gật. Ông gọi và cố đánh thức con dậy nhưng Eva không có phản ứng gì nên ông xốc vai con bé đưa vào nhà. Ông không biết nó đang ngủ hay là bị say thuốc. Erlendur đặt con gái lên ghế sofa trong phòng khách. Hơi thở đều. Mạch có vẻ bình thường, ông nhìn con gái hồi lâu rồi băn khoăn không biết nên làm gì. Hơn hết ông muốn đưa con vào bồn tắm. Người nó bốc lên thứ mùi hôi hám, tay bẩn và tóc bết đầy rác rưởi.
“Con đã ở đâu vậy?” Erlendur thì thầm với chính mình.
Ông ngồi xuống cái ghế bên cạnh con, vẫn đội mũ và áo khoác, nghĩ về con gái cho đến khi chìm vào giấc ngủ.
Sáng hôm sau, khi Eva Lind lắc ông dậy, Erlendur không muốn mở mắt ra, cố gắng níu giữ lại những giấc mơ khiến ông cảm thấy khó chịu giống như đêm hôm trước. Erlendur biết rằng những giấc mơ đó giống nhau, nhưng ông không thể sắp xếp chúng lại trong đầu, không thể nắm bắt được chúng. Tất cả những gì còn lại chỉ là sự bất ổn kéo dài.
Lúc đó chưa đến tám giờ sáng và bên ngoài trời vẫn đen như mực. Mưa và gió mùa thu vẫn chưa dịu bớt. Erlendur kinh ngạc khi ngửi thấy mùi cà phê trong bếp và hơi nước như thể có ai đó đã ở trong bồn tắm. ông thấy Eva Lind đang mặc chiếc sơ mi và quần jean cũ của ông, con bé phải lấy chiếc thắt lưng túm cái cạp quần lại quanh vòng eo nhỏ. Con bé đi chân trần và trông sạch sẽ.
“Tối qua trông con hay ho lắm đấy,” ông nói.
“Con đã quyết định rồi,” Eva Lind nói trong lúc đi vào bếp. “Con sẽ khiến bố trở thành ông ngoại, ông ngoại Erlendur.”
“Có phải tối qua là lần cuối con ăn chơi bù khú không? Hay là chuyện gì?”
“Con có thể ở lại đây một thời gian cho đến khi con tìm được chỗ ở mới không?”
“Bố không quan tâm chuyện đó.”
Ông ngồi xuống bàn ăn cùng con và nhấp một ngụm cà phê mà con bé đã rót ra cốc cho ông.
“Vậy con đã đi đến quyết định này như thế nào?”
“Chỉ quyết định thôi.”
“Chỉ quyết định thôi à?”
“Con có thể ở với bố hay không?”
“Bao lâu tùy thích. Con biết điều đó mà.”
“Bố có thể thôi chất vấn con đi có được không? Ngừng cái việc thẩm vấn của bố lại. Cứ như thể lúc nào bố cũng làm việc vậy.”
“Lúc nào bố cũng làm việc!”
“Bố đã tìm thấy cô gái ở Gardabaer chưa?”
“Chưa. Đó không phải là một trường hợp ưu tiên. Bố đã nói chuyện với chồng cô ta ngày hôm qua. Anh ta chẳng biết gì cả. Lời nhắn mà cô gái để lại nói rằng “Anh ta là một con quỷ. Tôi đã làm gì thế này?”
“Chắc hẳn có ai đó đã lăng mạ cô ta trong tiệc cưới.”
“Lăng mạ ư?” Erlendur hỏi lại. “Đó có phải là một từ đúng không?”
“Bố có thể làm gì với một cô dâu trong lễ cưới để khiến cô ta chạy trốn cơ chứ?”
“Bố không biết,” Erlendur nói mà không mấy hứng thú. “Theo bố thì chàng rẻ đã tán tỉnh mấy cô phù dâu và cô ta đã thấy. Bố rất vui vì con sắp sinh con. Có thể chuyện đó sẽ giúp con thoát ra khỏi cái vòng tròn luẩn quẩn này. Đã đến lúc rồi.”
Ông ngừng lại. “Thật là lạ khi thấy con tươi tỉnh như thế sau tình trạng ngày hôm qua,” cuối cùng ông nói.
Ông diễn đạt điều này thận trọng hết sức có thể, nhưng ông cũng biết rằng, trong những hoàn cảnh bình thường, Eva Lind sẽ chẳng bao giờ rực rỡ như một ngày hè, sạch sẽ sau khi tắm gội, pha cà phê và cư xử giống như con bé chưa từng làm điều gì khác ngoài việc chăm sóc bố. Eva Lind nhìn ông và ông thấy con bé đang cân nhắc các lựa chọn. Erlendur chờ đợi con gái suy nghĩ thật kỹ và thổ lộ cho ông biết ý nghĩ của mình. Nhưng con bé không nói gì.
“Con đã mua mấy viên thuốc,” Eva nói thật bình tĩnh. “Việc đó xảy ra không theo ý muốn. Và không phải là trong chốc lát. Nó xảy ra chậm chạp, trong một thời gian dài, nhưng đó là cách mà con muốn.”
“Thế còn đứa bé thì sao?”
“Nó không bị ảnh hưởng bởi thứ thuốc con dùng đâu. Con không có ý định làm hại nó. Con sẽ sinh con.”
“Con biết gì về ảnh hưởng của ma túy đối với thai nhi?”
“Con biết.”
“Hãy giữ cái thai theo cách của riêng con. Ăn uống gì đó, tự làm mình phấn chấn hoặc bất cứ điều gì tương tự, ở trong nhà, suy nghĩ tích cực về bản thân. Bố có thể ... “
“Không,” Eva Lind nói. “Bố đừng làm gì cả. Bố cứ sống cuộc sống của mình và thôi kiểm soát con đi. Đừng băn khoăn về những gì con đang làm nữa. Nếu bố về mà không thấy con thì cũng chẳng sao. Nếu con về muộn hoặc không về nhà, bố cũng đừng can thiệp. Nếu điều đó xảy ra, con sẽ đi, chắc chắn là thế.”
“Vậy bố không liên can.”
“Đó chưa bao giờ là việc của bố cả,” Eva Lind nói, và nhấp một nhụm cà phê.
Điện thoại reo và Erlendur đứng lên nghe. Người gọi là Sigurdur Óli, anh ta gọi từ nhà.
“Tôi không liên lạc được với ông cả ngày hôm nay,” anh nói.
Erlendur nhớ lại là mình đã tắt điện thoại khi nói chuyện với Elin ở Ketlavík, và ông vẫn chưa bật nó lên.
“Có tiến triển gì mới không?” Erlendur hỏi.
“Hôm qua tôi đã nói chuyện với một người đàn ông tên là Hilmar. Đó là một người lái xe tải thi thoảng ngủ lại nhà Holberg ở Nordurmýri. Nghỉ giữa chặng hay đại loại thế. Anh ta nói với tôi rằng Holberg là một người bạn tốt, không có gì phải phàn nàn, và mọi người trong công ty đều có vể quý mến ông ta. Ông ta tốt bụng, thân thiện, vân vân ... Anh ta không tưởng tượng được là Holberg lại cỏ kẻ thù, nhưng vội bổ sung thêm rằng mình không thực sự hiểu ông ta lắm. Hilmar cũng nói với tôi rằng Holberg không được bình thường lắm khi anh ta ở nhà ông ấy lần cuối cùng. Rõ ràng là ông ta cư xử rất lạ.”
“Lạ như thế nào?”
“Theo Hilmar kề lại thì ông ta có vẻ sợ phải trả lời điện thoại. Hình như có vài kẻ chó chết nào đó sẽ không để ông ấy được yên, vì khi ông ấy vừa bỏ máy xuống, chuông điện thoại lại kêu liên tục. Hilmar nói rằng anh ta ở nhà Holberg tối thứ bảy và ông ta nhờ Hilmar trả lời điện thoại một lần. Hilmar đã làm, nhưng khi người gọi nhận ra đó không phải là Holberg, hắn bèn ném phịch điện thoại xuống.”
“Chúng ta có thể tìm ra ai đã gọi điện cho Holberg không?”
“Tôi đang cho kiểm tra. Còn một điều khác nữa. Tôi đã lấy được bản kê chi tiết các cuộc gọi của Holberg từ công ty điện thoại, và trong đó có vài điều thú vị.”
“Điều gì vậy?”
“Ông có nhớ cái máy tính của ông ta không?”
“Có.”
“Chúng ta chưa xem xét gì đến nó cả.”
“Không. Các kỹ thuật viên làm việc đó chứ.”
“Ông có chú ý không nếu nó được nối vào điện thoại?”
“Không.”
“Tất cả các cuộc gọi của Holberg, nói đúng hơn là hầu hết chúng, là gọi đến một nhà cung cấp mạng, ông ta đã dành phần lớn những ngày cuối đời để lướt Net.”
“Điều đó nói lên cái gì?” Erlendur hỏi, ông đặc biệt mù tịt về máy tính.
“Có thể chúng ta sẽ biết điều đó nếu chúng ta bật máy tính lên.” Sigurdur Óli đáp.
Họ đến căn hộ của Holberg ở Nordurmýri cùng một lúc. Dải băng màu vàng đã được dọn đi và ở đó chẳng còn dấu hiệu nào cho thấy một tội ác đã xảy ra. Không có ánh đèn nào sáng ở các tầng trên. Có vẻ như những người hàng xóm không ở nhà. Erlendur có chìa khóa để mở cửa căn hộ. Họ đi thẳng đến cái máy tính và bật nó lên. Cái máy bắt đầu kêu ro ro.
“Cái máy này khá tốt đấy,” Sigurdur Óli nói, thoáng băn khoăn không biết có nên giải thích với Erlendur về kích cỡ và chủng loại máy không, nhưng rồi anh quyết định thôi.
“Được rồi,” Sigurdur Óli nói, “tôi sẽ xem xem ông ta lưu những địa chỉ web nào trong danh mục ưa thích. Nhiều lắm, rất nhiều là đằng khác. Có thể ông ta đã tải về một số tập tin nào đó. Ôi chà!”
“Cái gì thế?”
“Ổ cứng của máy đầy chặt rồi.”
“Thế thì sao?”
“Phải có rất nhiều thứ thì mới làm đầy bộ nhớ ổ cứng được. Chắc hẳn là toàn phim ảnh trong đây. Đây là thứ mà ông ta gọi là avideo3. Chúng ta sẽ xem nó là cái gì chứ?”
“Chắc chắn rồi.”
Sigurdur Óli mở một tập tin và một cửa sổ video hiện ra. Đó là một bộ phim khiêu dâm.
“Có phải họ đang giữ một con dê trên người cô ta không?” Erlendur hỏi mà không tin vào mắt mình.
“Có 312 tập tin avideo,” Sigurdur Óli nói. “Chúng có thể là những đoạn phim ngắn như vừa rồi, thậm chí là cả một bộ phim.”
“Avideo ư?” Erlendur hỏi lại.
“Tôi không biết,” Sidurdur Óli trả lời. “Có thể là animal video - phim con heo ý. Xem nào, chúng ta có nên xem gvideo88 không? Kích đúp ... phóng to cửa sổ ra nào ...”
"... đúp?” Erlendur hỏi, nhưng chợt khựng lại khi thấy bốn người đàn ông lõa lồ đang làm tình trên cái màn hình 17 inch.
“Gvideo chắc là gay video - video đồng tính,” Sigudur Óli nói khi tắt cửa
sổ.
“Chắc hẳn là ông ta đã bị ám ảnh,” Erlendur nói. “Có bao nhiêu phim tất
cả?”
“Có hơn một nghìn tập tin ở đây, nhưng có lẽ còn rất nhiều tập tin lưu ở các vùng khác trong ổ cứng.”
Điện thoại của Erlendur reo lên trong túi áo khoác. Đó là Elínborg. Cô đã cố gắng theo dấu hai gã đàn ông đã đi cùng Holberg đến vũ trường ở Keflavík vào cái đêm Kolbrún bị tấn công. Elínborg nói với Erlendur rằng một gã trong số họ tên là Grétar và ông ta đã biến mất nhiều năm trước đây.
“Biến mất ư?” Erlendur hỏi.
“Phải. Một trong số những nạn nhân bị mất tích của chúng ta.”
“Còn gã thứ hai thì sao?”
“Gã kia đang ở trong tù,” Elínborg nói. “Luôn luôn gây rắc rối. Hắn ta còn một năm nữa trong án tù bốn năm.”
“Vì tội gì?”
“Ông thử tìm hiểu xem.”
13
Erlendur nhắc nhở đội pháp y về cái máy tính. Cũng phải mất một thời gian người ta mới xem xét được hết mọi thứ trong đó. Ông yêu cầu họ phải xem xét từng file nhỏ một, liệt kê và phân loại, tường thuật lại một cách cụ thể nội dung của chúng. Sau đó ông và Sigurdur Óli lên đường đi nhà tù Litla - Hraun ở phía đông thành phố. Họ mất một tiếng đồng hồ để đến đó. Tầm nhìn hạn chế, đường đã đóng băng trong khi chiếc xe vẫn lắp những chiếc lốp dành cho mùa hè, do vậy họ phải rất cẩn thận.
Thời tiết ấm dần lên khi họ đi qua đèo Threngslin. Hai người qua sông Olfusá và ngay lúc đó, từ bờ sông rải sỏi họ đã nhìn thấy hai nóc nhà tù vươn lên từ khoảng xa mờ mịt. Tòa nhà cũ hơn cao ba tầng, mái có đầu hồi. Nhiều năm trước, tòa nhà có mái tôn màu đỏ, và từ xa trông nó như một nhà xưởng cũ khổng lồ. Ngày nay, mái nhà đã được sơn màu xám cho hợp với tòa nhà mới bên cạnh. Đó là một tòa nhà bọc thép, có màu xanh xám với một tháp đồng hồ, hiện đại và vững chãi, không khác nào một cơ quan tài chính ở Reykijavík.
“Thời gian làm thay đổi nhiều thứ quá,” Erlendurthầm nghĩ.
Elínborg đã thông báo cho ban quản lý nhà tù về việc hai thám tử đến và tên tù nhân hai người muốn nói chuyện. Người quản lý trại giam đón hai người vào văn phòng, ông ta muốn hai thám tử biết một số thông tin về tù nhân trước khi gặp hắn. Họ đã đến đúng vào thời điểm tồi tệ nhất. Tên tù đó đang bị biệt giam sau khi hắn và hai tên khác tấn công một kẻ hiếp dâm trẻ em rồi để mặc kẻ đó đến chết, ông ta nói rằng không muốn kể chi tiết, nhưng vẫn muốn thông báo cho cảnh sát để nói rõ ràng cuộc viếng thăm của họ phá vỡ án biệt giam của hắn và tên tù nhân chắc chắn đang trong trạng thái không ổn định. Sau cuộc gặp, hai thám tử được hộ tống đến phòng gặp. Họ ngồi xuống và chờ đợi tên tù.
Tên hắn là Ellidi, năm mươi sáu tuổi, là một tên tội phạm đầy ắp tiền án tiền sự. Erlendur biết hắn ta, thực ra có lần ông đã áp giải hắn đến Litla-Hraun. Ellidi đã làm nhiều loại công việc trong suốt cuộc đời khốn khổ của mình, hắn từng làm việc trong các thuyền cá và tàu buôn, rồi buôn lậu rượu và thuốc phiện tại đó, và cuối cùng hắn đã bị bắt vì tội danh đó. Hắn còn gian lận bảo hiểm bằng cách phóng hỏa trên một con thuyền nặng hai mươi tấn ngoài bờ biển Tây Nam và đánh chìm nó. Ba người trong số chúng “sống sót”. Thành viên thứ tư trong nhóm vô tình bị bỏ quên lại, bị khóa ở phòng máy và chìm cùng con tàu. Tội ác đó bị phát hiện khi những người thợ lặn xuống chỗ con tàu chìm và phát hiện ra rằng lửa bốc ra ở ba chỗ cùng một lúc. Ellidi phải vào Litla-Hraun bốn năm vì tội gian lận bảo hiểm, ngộ sát và thêm hai năm rưỡi nữa vì một số tội nhỏ tích lũy ở Viện kiểm soát Nhà nước mà hắn bị truy tố cùng một lúc.
Ellidi khét tiếng với những vụ tấn công bạo lực, trong đó vụ khủng khiếp nhất là khiến nạn nhân bị thương nghiêm trọng đến mức dần dần trở thành tàn tật. Erlendur đặc biệt nhớ một vụ và mô tả nó cho Sigurdur Óli khi họ đi qua một bãi hoang. Ellidi đã ở với một người thanh niên trong một ngôi nhà tại Snorrabraut. Khi cảnh sát đến hiện trường, hắn đã đánh người thanh niên kia đến mức anh ta phải được chăm sóc đặc biệt trong bốn ngày. Sau khi đã trói người thanh niên vào một cái ghế, hắn dọa dẫm bằng cách lấy một cái chai vỡ cắt vào mặt anh ta. Trước khi cảnh sát chế ngự được Ellidi, y đã đốn ngã một cảnh sát và bẻ gãy một cánh tay của người này. Thế nhưng các vị thẩm phán ở Iceland vốn lừng danh là nhân hậu. Hắn chỉ bị tù hai năm vì vụ đó và một vài tội danh nhỏ nhặt khác như lần trước. Khi bản án được đọc lên, y cười nhạo nó.
Cửa mở ra và Ellidi được hai lính canh đưa vào phòng. Hắn trông vẫn còn cường tráng mặc dù tuổi đã cao. Da đen, đầu cạo nhẵn thín. Dái tai hắn nhỏ xíu, tuy nhiên hắn vẫn cố chọc được một cái lỗ và treo lủng lẵng một cái khuyên hình chữ Vạn nào đó. Hàm răng già của hắn rít lên mỗi khi hắn nói. Hắn mặc một chiếc quần bò rách rưới và một cái áo phông đen để lộ ra hai bắp tay cuồn cuộn với những hình xăm ở cả hai cánh tay. Ellidi cao gần mét chín. Hai thám tử để ý thấy hắn bị còng tay. Một mắt hắn đỏ ngầu, mặt bị cào xước và môi trên sưng phồng.
Một kẻ tâm thần tàn bạo, Erlendur tự nhủ.
Hai người lính canh ra đứng ở cửa và Ellidi đi đến cái bàn, ngồi đối diện với Erlendur và Sigurdur Óli. Hắn nhìn họ với đôi mắt xám vô hồn, hoàn toàn không quan tâm.
“Ông có biết người nào tên là Holberg không?” Erlendur hỏi.
Ellidi không trả lời. Hắn giả vờ như không nghe thấy câu hỏi. Hắn nhìn Erlendur và Sigurdur Óli với con mắt đờ đẫn như nhau. Những người lính canh nói chuyện thầm với nhau ngoài cửa. Đâu đó trong tòa nhà vằng lên tiếng quát tháo. Một cánh cửa đóng sầm lại. Erlendur nhắc lại câu hỏi, tiếng ông vọng trong căn phòng trống. “Holberg! Ông có nhớ ông ta không?”
Tuy nhiên ông vẫn không nhận được câu trả lời của Ellidi, lúc này hắn đang nhìn vô định quanh căn phòng, như thể là họ không ở đó. Một khoảng thời gian trôi qua trong yên lặng. Erlendur và Sigurdur Óli nhìn nhau và Erlendur hỏi lại lần thứ ba. Hắn có biết Holberg không? Mối quan hệ của họ là gì? Holberg đã chết. Nghi là bị giết.
Ellidi trở nên quan tâm khi hắn nghe thấy những từ cuối cùng. Hắn đặt cánh tay lực lưỡng lên mặt bàn, rung chiếc còng lách cách, không giấu nổi vẻ ngạc nhiên. Hắn nhìn chòng chọc vào Erlendur.
“Holberg bị giết tại nhà cuối tuần trước,” Erlendur nói. “Chúng tôi đang thẩm vấn những người biết ông ta vào các thời điểm khác nhau, và có vẻ như ông có quen ông ta.”
Ellidi bắt đầu nhìn Sigurdur Óli chằm chằm, lúc này anh cũng đang nhìn lại. Hắn không trả lời Erlendur.
“Thủ tục là ...”
“Tôi không nói chuyện với các ông khi tay tôi bị còng,” Ellidi đột nhiên nói, không rời mắt khỏi Sigurdur Óli. Giọng hắn khàn khàn và khiêu khích. Erlendur cân nhắc một lát, sau đó đứng dậy và tiến về phía hai lính canh. Ông trình bày yêu cần của Ellidi và hỏi xem liệu có thể tháo còng tay của hắn ra không. Họ lưỡng lự, nhưng sau đó cũng đi về phía hắn, tháo cái
còng và quay trở về bên cánh cửa.
“Ông có thể cho chúng tôi biết về Holberg được không?” Erlendur hỏi.
“Hãy bảo họ đi trước đã,” Ellidi nói, hất đầu về phía hai lính canh.
“Không thể được.” Erlendur đáp.
“Mày là một thằng đồng tính khốn kiếp phải không?” Ellidi hỏi, tia nhìn của hắn vẫn chiếu vào Sigurdur Óli.
“Đừng có nói với chúng tôi những chuyện vô bổ như thế,” Erlendur nói.
Sigurdur Óli không trả lời hắn. Anh và hắn chỉ nhìn nhau.
“Chẳng có gì là không thể được cả,” Ellidi nói. “Đừng có nói với tôi bất cứ
điều gì không liên quan đến câu hỏi.”
“Họ sẽ không đi đâu cả,” Erlendur nói.
“Mày có phải là một thằng đồng tính không?” Ellidi hỏi lại trong khi mắt vẫn không rời Sigurdur Óli, và anh vẫn không có phản ứng gì.
Trong một lúc họ chỉ lặng thinh nhìn nhau. Cuối cùng Erlendur đứng lên, đi về phía hai lính canh, nhắc lại yêu cầu của Ellidi và hỏi xem liệu họ có thể ở với hắn ta một mình không. Những người lính trả lời rằng điều đó là không thể, họ được lệnh là không được rời hắn nửa bước. Sau khi tranh luận một hồi, họ để Erlendur nói chuyện với người quản lý trại giam qua bộ đàm. Erlendur nói rằng việc các lính canh đứng ở bên trong hay bên ngoài cánh cửa cũng không khác nhau nhiều lắm, Erlendur và Sigurdur Óli đã phải đi cả một quãng đường dài từ Reykjavík đến đây và tên tù nhân đồng ý hợp tác ở một mức độ nhất định nếu vài điều kiện hắn đưa ra được thỏa mãn. Viên quản lý nói với người của ông ta rằng mình sẽ tự chịu trách nhiệm về sự an toàn của hai thám tử. Những người lính canh bèn bước ra ngoài còn Erlendur quay trở về bàn và ngồi xuống.
“Ông có thể nói với chúng tôi được rồi chứ?” ông hỏi.
“Tôi không biết rằng Holberg đã bị giết,” Ellidi nói. “Những tên phát xít đó đã tống tôi vào biệt giam vì những chuyện cứt mà tôi đếch làm. Thế hắn bị giết như thế nào?” Ellidi vẫn nhìn trừng trừng vào Sigurdur Óli.
“Đó không phải là việc của ông,” Erlendur nói.
“Bố tôi nói rằng tôi là một thằng con hoang tò mò nhất trên thế giới, ông ta luôn luôn nói điều đó. Không phải việc của mày. Không phải việc của mày! Vậy là hắn đã chết. Hắn bị đâm có phải không? Holberg bị đâm phải không?”
“Đó không phải là việc của ông.”
“Không phải việc của tôi!” Ellidi nhắc lại và nhìn Erlendur. “Thế thì cút đi!”
Erlendur suy nghĩ một lát. Không ai ngoài Cục điều tra tội phạm được biết chi tiết vụ án. Ông đã chán với việc luôn phải nhường bước trước nhân vật này.
“Ông ta bị đánh vào đầu. Sọ bị vỡ. Gần như chết ngay lập tức.”
“Là cái búa à?”
“Một cái gạt tàn.”
Ellidi dần dần chuyển tia nhìn từ Erlendur trở lại Sigurdur Óli.
“Loại người ngu độn nào lại dùng một cái gạt tàn nhỉ?” Hắn nói. Erlendur để ý thấy mồ hôi lấm tám trên trán Sigurdur Óli.
“Đó là điều mà chúng tôi đang muốn tìm ra,” Erlendur nói. “Ông có liên lạc với Holberg không?”
“Hắn có đau đớn không?”
“Không.”
“Như một cái giật mình.”
“Ông có nhớ Grétar không?” Erlendur hỏi. “Ông ta đã cùng đi với ông và Holberg ở Keflavík.”
“Grétar ư?”
“Ông có nhớ ông ta không?”
“Các ông hỏi về hắn làm gì?” Ellidi nói. “Hắn ta làm sao?”
“Ông ta đã mất tích nhiều năm trước đây,” Erlendur nói. “ông có biết gì về việc ông ta biến mất không?”
“Tôi nên biết điều gì về chuyện đó nhỉ?” Ellidi hỏi. “Điều gì khiến ông nghĩ rằng tôi biết chuyện đó?”
“Ba người các ông - ông, Grétar và Holberg - đã làm gì ở Keflavík ...” “Grétar chỉ là một tên dở hơi,” Ellidi nói, cắt ngang lời của Erlendur.
“Các ông đã làm gì ở Keflavík khi ... ”
“… hắn cưỡng hiếp con mụ đó?” Ellidi xen vào.
“Ông vừa nói gì?”
“Các ông đến đây là vì thế à? Để hỏi về con mèo hen ở Keflavík à?”
“Vậy ông nhớ chuyện đó chứ?”
“Chuyện đấy thì có liên quan gì?”
“Tôi chưa bao giờ nói rằng ...”
“Holberg thích nói về chuyện đó, khoe khang thì đúng hơn. Hắn trốn tránh trách nhiệm, hiếp cô ta hai lần, các ông biết điều ấy chứ?” Ellidi nói thẳng thừng và lần lượt nhìn hai thám tử.
“Ông đang nói về vụ hiếp dâm ở Keflavík đấy à?”
“Em đang mặc đồ lót màu gì vậy, em yêu?” Ellidi chuyển sang Sigurdur Óli và lại nhìn chòng chọc vào anh. Erlendur quay sang đồng nghiệp, lúc này mắt anh đang nhìn xoáy vào Ellidi.
“Cẩn thận cái mồm chết tiệt của ông đấy,” Erlendur nói.
“Hắn hỏi cô ta thế. Holberg ấy. Hỏi về đồ lót của cô ta. Thậm chí hắn còn điên rồ hơn cả tôi nữa.” Ellidi cười rinh rích. “Và người ta tống tôi vào tù!”
“Ông ta hỏi ai về cái quần lót cơ?”
“Con gà ở Keflavík chứ ai.”
“Ông ta nói với ông về chuyện đó à?”
“Tất cả mọi chi tiết,” Ellidi trả lời. “Hắn luôn luôn nói về chuyện đó. Dù sao đi nữa, ông hỏi về Keflavík để làm gì? Keflavík thì có liên quan gì đến chuyện đó? Và tại sao ông lại hỏi về Grétar? Tôi không hiểu.”
“Chỉ là công việc tẻ nhạt hàng ngày của chúng tôi thôi,” Erlendur nói.
“Ông đã có mọi thứ ông muốn. Chúng tôi đang ngồi đây một mình với ông và còng tay của ông đã được tháo ra. Chúng tôi phải nghe những lời bẩn thỉu của ông. Chúng tôi không thể làm được gì cho ông nữa. Hoặc là ông trả lời câu hỏi của chúng tôi, hoặc chúng tôi đi.”
Ông không thể kìm mình lại nữa. Vươn tay qua bàn, ông chộp lấy khuôn mặt của Ellidi và quay nó về phía mình.
“Bố mày không dạy mày rằng thật là thô lỗ khi nhìn chăm chăm vào mặt người khác như thế à?” Ông gân giọng. Sigurdur Óli nhìn Erlendur. “Tôi có thể kiểm soát hắn được mà. Không sao đâu.”
Erlendur buông tay khỏi mặt của Ellidi.
“Ông biết Holberg như thế nào?” Ông hỏi. Ellidi xoa xoa quai hàm. Hắn biết rằng mình đã có được một thành công nhỏ. Và hắn không dừng lại ở đó.
“Đừng nghĩ rằng tôi không nhớ ông,” hắn nói với Erlendur. “Đừng nghĩ rằng tôi không biết ông là ai. Đừng nghĩ rằng tôi không biết Eva!”
Erlendur nhìn chăm chăm vào tên tù nhân, choáng váng. Đây không phải là lần đầu tiên ông nghe được những lời như thế này từ bọn tội phạm, nhưng chưa bao giờ ông lại thiếu chuẩn bị đến thế. Ông không biết chính xác Eva Lind đã giao du với những ai, nhưng một vài kẻ trong số đó là tù nhân, kẻ buôn ma túy, trộm cắp, gái điếm, đồ tể. Danh sách đó khá dài.
Bản thân con bé cũng đã dính dáng đến pháp luật. Một lần con bé đã bị bắt khi một phụ huynh tố cáo vì tội bán ma túy trong trường. Con bé có thể dễ dành quen một kẻ như Ellidi. Một kẻ như Ellidi cũng dễ dàng quen con bé.
“Ông biết Holberg như thế nào?” Erlendur nhắc lại.
“Eva rồi sẽ ổn thôi,” Ellidi nói. Erlendur có thể đọc được vô vàn ý nghĩa trong từ ngữ của hắn ta.
“Nếu ông mà còn nhắc đến con bé một lần nữa, chúng tôi sẽ đi,” ông nói. “Và sau đó ông không còn ai để mà đùa giỡn nữa đâu.”
“Thuốc lá, tivi trong phòng giam, không lao động khổ sai, không biệt giam. Đó có phải là đòi hỏi quá nhiều không? Hai siêu cớm mà không làm được những điều đó à? Và nếu được thì có thêm cả gái điếm ở đây mỗi tháng một lần nữa nhé. Con gà của hắn ta chằng hạn,” hắn nói và chỉ vào Sigurdur Óli.
Erlendur đứng lên và Sigurdur Óli từ từ đứng lên. Ellidi bắt đầu cười phá lên. Tiếng cười khùng khục trong cổ họng hắn dần chuyển thành tiếng òng ọc, sau đó hắn ho khù khụ và khạc ra mấy cục đờm vàng khè trên sàn nhà. Hai thám tử quay người và đi ra phía cửa.
“Hắn kể cho tao nghe rất nhiều về vụ hiếp dâm đó ở Keflavík!” Hắn hét lên. “Kể cho tao tất cả mọi thứ về ả. Cái cách mà con mèo hen ấy ré lên như một con lợn bị chọc tiết và những điều mà hắn thì thầm vào tai cô ả khi hắn chở để làm thêm một lần nữa. Chúng mày có muốn nghe điều đó không?! Mẹ kiếp những thằng ngu! Chúng mày có muốn nghe chuyện đó không?”
Erlendur và Sigurdur Óli dừng lại. Họ quay lại và thấy Ellidi lắc đầu nguầy nguậy về phía họ, sùi cả bọt mép, la hét và nguyền rủa. Hắn đã đứng dậy, tay chống lên bàn, tì người lên đó, vươn cái đầu to lớn về phía họ và rống lên như một con bò điên.
Cánh cửa bật mở và hai người lính canh bước vào.
“Hắn còn nói với ả ta về một con đĩ khác,” Ellidi hét lên. “Hắn nói với ả về những gì đã làm với con mèo chết tiệt khác mà hắn đã hiếp!”
14
Khi Ellidi nhìn thấy hai lính canh, hắn trở nên điên tiết. Hắn nhảy qua cái bàn, chạy đến chỗ bốn người đang đứng, hét lớn rồi lao về phía họ. Hắn đổ người lên Erlendur và Sigurdur Óli khiến cả hai ngã vật ra sàn nhà trước khi kịp phản ứng. Hắn húc đầu vào Sigurdur Óli làm anh chảy máu mũi, quả đấm của hắn thoi vào mặt Erlendur. Một trong hai người lính canh liền lấy ra một thiết bị nhỏ màu đen và chích điện vào người hắn. Việc đó khiến hắn bớt hung hãn đi một chút nhưng không thể ngăn hắn lại được. Ellidi lại giơ nắm đấm lên. Cho đến khi người lính canh thứ hai chích điện vào người hắn, hắn mới khuỵu xuống và đổ ập lên người Erlendur và Sigurdur Óli.
Họ bò ra khỏi thân hình gã. Sigurlur Óli lấy khăn tay lau mũi. Ellidi đã bị chích điện lần thứ ba nên đã nằm im bất động. Hai lính canh còng tay hắn lại và nâng hắn dậy một cách khó khăn. Họ chuẩn bị đưa hắn ra ngoài nhưng Erlendur bảo họ chờ một lát. ông đi về phía Ellidi.
“Còn người nào nữa?” ông hỏi.
Ellidi không phản ứng gì.
“Ông ta còn hiếp thêm người nào nữa?” Erlendur nhắc lại câu hỏi.
Ellidi cố nặn ra một nụ cười, nhưng vì bị điện giật nên trên gương mặt hắn chỉ là sự méo mó ghê rợn. Máu chảy từ mũi xuống mồm và loang lổ nơi hàm răng giả. Erlendur cố gắng chế ngự sự háo hức trong giọng nói, như thể ông không thèm quan tâm gì đến điều mà Ellidi biết, ông cố gắng không để mình bị tấn công, cố gắng không thể hiện bất kỳ một cảm xúc nào. Ông biết rằng một sự yếu mềm nhỏ nhất cũng khiến cho trái tim của những kẻ như Ellidi đập mạnh, biến chúng thành những con người thực sự, trao cho chúng một mục đích nhất định trong hàng đống những ảo tưởng đáng thương hại của chúng về cuộc đời. Một sự đánh lạc hướng nhỏ nhất là đủ. Một giọng nói đầy háo hức, một sự chuyển động ở tay, một dấu hiệu mất kiên nhẫn. Ellidi đã cố gắng làm cho ông mất bình tĩnh khi nhắc đến Eva Lind. Erlendur sẽ không để cho hắn có được cảm giác thoả mãn một cách hèn hạ đó nữa.
Họ nhìn thẳng vào mắt nhau.
“Đưa hắn ra ngoài.” Erlendur nói và quay đi. Hai người lính chuẩn bị dẫn tên tù nhân đi nhưng hắn cứng người lên và không nhúc nhích khi họ cố gắng di chuyển hắn. Hắn nhìn Erlendur thật lâu như thể là nghiền ngẫm điều gì, nhưng cuối cùng hắn cũng phải nhượng bộ để người ta dẫn đi. Sigurlur Óli vẫn đang cố gắng cầm máu. Mũi anh sưng phồng lên và chiếc khăn tay thì đẫm máu.
“Thật là một vụ chảy máu cam bẩn thỉu,” Erlendur nói và kiểm tra mũi của Sỉgurlur Óli. “Không bị gì thêm, không có gì nguy hiểm. Mũi anh không có vết rách và không bị gãy.” ông véo nó thật mạnh khiến Sigurlur Óli hét inh lên vì đau.
“Ồ, chắc là nó bị gãy rồi. Tôi không phải là bác sĩ,” Erlendur nói.
“Thằng con hoang khốn nạn,” Sigurlur Óli nói. “Thằng con hoang khốn nạn.”
“Thằng đó chơi khăm chúng ta hay hắn thực sự biết về một người phụ nữ khác?” Erlendur nói khi họ rời khỏi toà nhà. “Nếu còn có thêm một người nữa thì chắc hẳn còn thêm nhiều người nữa bị Holberg hiếp mà không dám trình báo.”
“Không có cách nào để nói chuyện tử tế với tên tù đó cả.” Sigurlur Óli nói. “Hắn làm thế chỉ để mua vui cho hắn mà thôi, làm cho chúng ta rơi vào mớ bòng bong. Hắn chơi chúng ta đấy, ông không thể tin vào bất cứ lời nào hắn nói. Cái thằng ngu ngốc ấy. Cái thằng ngu ngốc chết dẫm ấy!”
Họ đến văn phòng của viên quản lý và tường thuật ngắn gọn về những việc đã xảy ra. Theo ý hai thám tử, nơi duy nhất dành cho Ellidi là một buồng giam có lót đệm và khu điều trị tâm thần. Viên quản lý đồng ý một cách chán nản, nhưng ông ta nói rằng sự trông cậy duy nhất vào các nhà trức trách là giam hắn ở Litla-Hraun. Đây không phải là lần đầu tiên Ellidi bị biệt giam vì bạo lực trong tù và chắc chắn không phải là lần cuối cùng.
Hai người bước ra ngoài. Khi họ vừa mới lái xe ra khỏi nhà tù và chờ cho cánh cổng màu xanh dẫn ra bãi đỗ xe mở ra thì Sigurlur Óli thấy một người lính đang đuổi theo họ, vẫy tay gọi họ dừng lại. Họ chờ cho đến khi anh ta bắt kịp. Erlendur hạ cửa kính xuống. “Hắn muốn nói chuyện với các ông,” người lính canh vừa nói vừa thở hổn hển.
“Ai cơ?” Erlendur hỏi.
“Ellidi muốn nói chuyện với các ông.”
“Chúng tôi vừa nói chuyện với Ellidi,” Erlendur nói. “Bảo hắn quên chuyện đó đi.”
“Hắn nói rằng hắn sẽ cho các ông thông tin mà các ông muốn.”
“Hắn nói dối đấy.”
“Đó là điều hắn nói.”
Erlendur nhìn Sigurlur Óli một thoáng.
“Được rồi, chúng tôi sẽ quay lại,” cuối cùng ông nói.
“Hắn chỉ muốn một mình ông thôi, không phải ông ấy,” người lính nói rồi nhìn vào Sigurlur Óli.
Ellidi không được đưa ra khỏi phòng biệt giam nữa, vì vậy Erlendur phải nói chuyện với hắn qua một cái lỗ nhỏ ở cửa. Người ta mở nó bằng cách trượt một tầm sắt sang bên. Căn phòng rất tối, do đó Erlendur không thể nhìn vào trong được, ông chỉ có thể nghe thứ giọng khàn khàn của Ellidi. Người lính dẫn Erlendur đến cánh cửa và để ông ở đó một mình.
“Thế nào hả? Tên đồng tính!” là câu đầu tiên mà Ellidi hỏi. Thay vì đứng cạnh cái lỗ trên cửa, hắn ẩn vào bên trong. Có thể hắn đang nằm trên giường. Có thể đang dựa vào tường. Erlendur cảm giác như giọng hắn vang lên từ sâu thẳm trong bóng tối. Rõ ràng là hắn đã bình tĩnh lại.
“Đây không phải là một tiệc trà,” Erlendur trả lời. “Ông muốn nói chuyện với tôi.”
“Ông nghĩ rằng ai đã giết Holberg?”
“Chúng tôi không biết về nạn nhân của Holberg thì sao?”
“Tên cô ả là Kolbrún, con gà mái mà hắn đã hiếp ở Keflavík. Hắn thường kể về chuyện đó. Kể cả chuyện hắn ta suýt bị bắt như thế nào khi con mèo đó ngu ngốc đến mức đi kiện. Hắn mô tả tất cả các chi tiết, ông có muốn nghe hắn nói gì không?”
“Không,” Erlendur trả lời. “Mối quan hệ giữa ông và Holberg là như thế nào?”
‘Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau. Tôi bán rượu và mua sách báo khiêu dâm cho hắn hồi còn ở trên tàu. Chúng tôi gặp nhau khi cùng làm việc cho Cơ quan quản lý Bến cảng và Hải đăng. Trước khi hắn chuyển sang lái xe tải. Chúng tôi vào thị trấn cùng nhau, ông không bao giờ lấy lại được một bạn tình đã mất. Đó là điều đầu tiên hắn dậy cho tôi. Hắn biết cách nói chuyện. Rất ấn tượng. Rất giỏi tán tỉnh phụ nữ. Một gã hài hước.”
“Các ông đi đến thị trấn?”
“Đố là lý do tại sao chúng tôi ở Keflavík. Chúng tôi sơn ngọn hải đăng Reykjanes. Những con ma ở đó thật khốn nạn. ông đến đó bao giờ chưa? Chúng kêu gào và tru tréo suốt đêm. Còn tệ hại hơn cái lỗ chó chết này. Holberg chẳng sợ ma tí nào. Hắn chẳng sợ gì cả.”
“Và ông ta nói luôn với ông vụ mình cưỡng hiếp Kolbrún, khi ông ta chỉ mới vừa gặp ông à?”
“Hắn nháy mắt với tôi khi hắn đi theo cô ả ra khỏi bữa tiệc. Tôi hiểu điều đó nghĩa là gì. Hắn ta có thể là một người hấp dẫn. Hắn nghĩ rằng thật là buồn cười khi trốn tránh điều đó. Hắn còn cười ha hả khi thấy tên cớm mà cô ả đến gặp đã huỷ vụ kiện.”
“Họ có biết nhau không, Holberg và tên cảnh sát ấy?”
“Tôi không biết.”
“Hắn có bao giờ nói về đứa con gái mà Kolbrún đã sinh sau vụ hiếp dâm đó không?”
“Con gái ư? Không. Hắn làm cô ta có thai à?”
“Ông còn biết về một vụ hiếp dâm khác nữa.” Erlendur nói mà không trả lời tên tù nhân. “Một phụ nữ khác bị ông ta hiếp. Đó là ai? Tên cô ta là
gì?”
“Tôi không biết.”
“Vậy tại sao ông lại gọi tôi quay lại?”
“Tôi không biết đó là ai nhưng tôi biết chuyện đó xảy ra khi nào và nơi cô ta sống, ít nhiều là như vậy. Điều đó đủ để ông tìm ra cô ta.”
“Khi nào? Và ở đâu?”
“Đúng rồi đấy. Vậy thì tôi được gì nào?”
“Ông ư?”
“Ông có thể làm gì cho tôi?”
“Tôi không thể làm gì giúp ông và tôi cũng không muốn làm điều đó.” “Chắc chắn là ông có thể. Có như vậy tôi mới nói cho ông điều mà tôi
biết.”
Erlendur cân nhắc.
“Tôi không thể hứa trước điều gì,” ông nói.
“Tôi không thể chịu được biệt giam.”
“Đó là lý do tại sao ông gọi tôi lại phải không?”
“Ông không biết điều đó có ý nghĩa thế nào đâu. Tôi hoá điên lên trong gian tù này mất. Họ không bao giờ bật đèn lên. Tôi không biết ngày đêm là gì. ông bị giam ở trong đây như một con vật bị nhốt trong lồng. Người ta đối xử với ông như một con thú.”
“Và sao nào, ông là Bá Tước Monte Cristo chắc!” Erlendur nói một cách châm biếm, “Ông là một kẻ tâm thần, Ellidi ạ. Loại tâm thần tệ hại nhất trên đời. Một thằng điên ngu ngốc lại còn thích bạo lực. Một kẻ ghét đồng tính và phân biệt chủng tộc. Ông là loại chậm phát triển trí tuệ nhất mà tôi từng biết. Tôi không quan tâm việc người ta sẽ nhốt ông ở đây cả đời. Tôi sẽ lên tầng trên để đề nghị điều đó ngay bây giờ.”
“Tôi sẽ nói cho ông biết cô ta sống ở đâu và ông đưa tôi ra khỏi đây.”
“Tôi không thể đưa ông ra khỏi đây, đồ ngu ạ. Tôi không có quyền, mà thậm chí nếu có quyền đi chăng nữa, tôi cũng không làm. Nếu ông muốn án biệt giam của mình ngắn lại thì có lẽ cách tốt nhất là ông thôi đánh người đi.”
“Ông có thể thương lượng được chuyện đó cơ mà. Hãy nói rằng ông làm tôi bị thương. Nói rằng thằng đồng tính kia đã khơi mào mọi chuyện. Tôi đã hợp tác, nhưng hắn ta lại đưa ra những nhận xét thật ngu độn. Và tôi giúp ông bằng cách trả lời những câu hỏi của ông. Họ sẽ nghe ông. Tôi biết ông là ai. Họ sẽ nghe ông.”
“Holberg có nói về ai khác ngoài hai người đó không?”
“Ông sẽ giúp tôi chứ?”
Erlendur suy nghĩ. “Tôi sẽ xem xem mình có thể làm được gì. ông ta có nói về những người khác nữa không?”
“Không, không bao giờ. Tôi chỉ biết về hai ả đó thôi.”
“Ông có nói dối không đấy?”
“Tôi không nói dối. Cô ả còn lại chưa bao giờ khiếu kiện. Đó là vào đầu những năm 1960. Hắn ta không bao giờ quay trở lại nơi đó.”
“Nơi nào?”
“Ông có đưa tôi ra khỏi đây không?”
“Nơi nào?”
“Hứa đi!”
“Tôi không thể hứa điều gì,” Erlendur nói. “Tôi sẽ nói chuyện với họ. Nơi đó là nơi nào?”
“Húsavík.”
“Cô ta bao nhiêu tuổi?”
“Cùng tuổi với cô ả ở Keflavík thôi, chỉ có điều là hung dữ hơn.”
“Hung dữ hơn ư?”
“Ông không muốn nghe chuyện đó à?” Ellidi nói, không che giấu nổi sự phấn khích, “Ông có muốn nghe xem hắn đã làm gì không?”
Ellidi không đợi câu trả lời. Giọng hắn tuồn ra từ cái lỗ trên cánh cửa và Erlendur đứng đó, nghe lời thú tội khàn đặc phát ra từ trong bóng tối.
***
Sigurlur Óli đang chờ ông trong xe. Khi họ lái xe ra khỏi nhà tù, Erlendur thuật lại ngắn gọn cuộc nói chuyện với Ellidi nhưng không nhắc đến đoạn độc thoại của hắn lúc cuối. Họ quyết định sẽ xem xét giấy tờ đăng ký của những người sống sót ở Húsavík trong những năm 1960. Nếu người phụ nữ đó xấp xỉ tuổi Kolbrún, theo như Ellidi đã khai, thì khả năng tìm ra cô ta là khá lớn.
“Thế còn Ellidi thì sao?” Sigurlur Óli hỏi khi họ quay trở về đèo Threngslin trên đường đến Reykjavík.
“Tôi đã đề nghị xem liệu họ có thể giảm án biệt giam cho hắn không nhưng họ từ chối. Tôi chẳng làm được điều gì khác cả.”
“Ít nhất thì ông cũng đã giữ lời hứa,” Sigurlur Óli mỉm cười. “Nếu Holberg cưỡng hiếp hai người đó, chẳng lẽ lại không có thêm ai khác sao?”
“Có thể là có,” Erlendur nói trống rỗng.
“Ông đang nghĩ gì thế?”
“Có hai điều khiến tôi băn khoăn,” Erlendur trả lời. “Tôi muốn biết chính xác nguyên nhân dẫn đến cái chết của cô bé,” ông có thể nghe thấy tiếng thở dài của Sigurlur Óli bên cạnh. “Và tôi muốn biết cô bé có đúng là con của Holberg hay không?”
“Vậy điều gì khiến anh băn khoăn về chuyện đó?”
“Ellidi nói với tôi rằng Holberg có một người em gái.”
“Em gái à?”
“Cô ta chết trẻ. Chúng ta phải tìm ra tiểu sử khám bệnh của cô ta trong bệnh viện. Xem chúng ta sẽ phát hiện điều gì?”
“Vì sao cô ta chết? Em gái Holberg ấy?”
“Có thể là bệnh nào đó giống Audur. Holberg có lần đã đề cập đến đầu óc của cô ta. Hoặc đó là điều mà Ellidi mô tả. Tôi hỏi đó có phải là bệnh u não không, nhưng Ellidi không biết.”
“Vậy điều đó giúp ích như thế nào cho vụ án của chúng ta?” Sigurlur Óli hỏi.
“Tôi nghĩ là có mối liên hệ họ hàng nào đó ở đây,” Erlendur trả lời.
“Quan hệ họ hàng? Sao cơ, vì lời nhắn mà chúng ta tìm thấy à?”
“Đúng thế,” Erlendur nói, “vì lời nhắn. Có thể đây là nghi vấn liên quan đến quan hệ họ hàng và sự di truyền.”
15
Ông bác sĩ sống trong một ngồi nhà hiện đại nằm ở phía Tây vùng ngoại ô Graíarvogur. Đã lâu rồi ông ta không còn hành nghề chữa bệnh. Ông giải thích với Erlendur rằng hiện tại mình đang làm việc không thường xuyên cho các luật sư trong các vụ liên quan đến chấn thương hoặc tàn tật. Khu làm việc được bài trí đơn giản, ngăn nắp với một cái bàn nhỏ và máy đánh chữ. ông bác sĩ thấp và khá gầy. Túi áo sơ mi của ông ta cài hai cây bút. Ông ta là một người sôi nổi. Tên ông ta là Frank.
Erlendur đã gọi điện trước để hẹn ông ta. Buổi chiều đang dần lùi đi, nhường chỗ cho bóng đêm lan tỏa. Lúc quay trở về trụ sở, Sigurdur Óli và Elínborg bèn bắt tay ngay vào nghiên cứu bản sao của một tờ danh sách người dân Húsavík. Danh sách đó đã tồn tại được bốn mươi năm. Hai thám tử nhận được bản fax này từ một chính quyền địa phương ở miền Nam. Viên bác sĩ mời Erlendur ngồi.
“Không phải là có cả tá những kẻ nói dối tìm đến chỗ ông sao?” Erlendur hỏi trong lúc nhìn quanh nơi làm việc.
“Những kẻ nói dối ư?” ông bác sĩ nói. “Tôi không cho là thế. Một vài người trong số họ thôi, chắc chắn là thế. Các vết thương ở cả là nan giải nhất. Thực sự, ông không thể làm gì khác ngoài việc tin những bệnh nhân phàn nàn về các vết thương ở cả sau một vụ tai nạn xe hơi. Đó là những ca khó xử lý nhất. Một vài người cảm thấy đau hơn những người khác nhưng tôi không cho rằng có nhiều người thực sự khốn khổ đến thế.”
“Khi tôi gọi điện, ông nhớ ra trường hợp cô gái ở Ketlavík ngay lập
tức.”
“Những chuyện như thế không dễ gì quên được. Thật khó để quên được người mẹ. Tên cô ấy là Kolbrún phải không nhỉ? Tôi được biết là cô ấy đã tự tử.”
“Đó là một tấn bi kịch não nề từ đầu đến cuối,”Erlendur nhận xét. Ông tự hỏi không biết có nên hỏi viên bác sĩ về cơn nhói đau trong ngực mình vào mỗi buổi sáng không, nhưng sau đó ông lại quyết định là thôi vì không đúng lúc. Chắc chắn rằng ông ta sẽ phát hiện ra mình bị ốm, rồi đưa mình vào bệnh viện và mình sẽ phải ăn không ngồi rồi ở đó cho đến tận cuối tuần. Erlendur cố gắng tránh các tin dữ về bản thân bất cứ khi nào có thể, ông cũng không muốn nghe bất cứ tin tốt lành nào về mình, ông chỉ yên lặng.
“Ông nói rằng chuyện đó liên quan đến vụ giết người ở Nordurmýri,” vị bác sĩ lên tiếng, kéo Erlendur trở về với thực tại.
“Phải. Holberg, nạn nhân của án mạng đó, có thể là cha của đứa trẻ ở Keflavík,” Erlendur nói. “Người mẹ cũng khẳng định điều đó. Holberg không thừa nhận, cũng không phản bác chuyện ấy. Ông ta chỉ thừa nhận rằng mình đã ngủ với Kolbrún chứ không phải hiếp dâm. Thông thường có rất ít chứng cứ được đưa ra trong những vụ đại loại như vậy. Chúng tôi đang điều tra về quá khứ của người đàn ông đó. Cô bé ốm và chết khi mới bốn tuổi. Ông có thể nói cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra được không?”
“Tôi không hiểu chuyện đó thì có liên quan gì đến vụ giết người.”
“Được rồi, chúng ta sẽ xem. ông có thể trả lời câu hỏi của tôi được không?”
Viên bác sĩ nhìn Erlendur một hồi lâu. “Có lẽ tốt nhất là tôi nên nói thẳng với ông, ông Thanh tra ạ,” ông ta nói như thể đang cố tỏ ra cứng rắn hơn. “Ngày đó tôi là một người khác.”
“Một người khác?”
“Và là một kẻ tồi tệ hơn bây giờ. Gần ba mươi năm nay tôi chưa uống một giọt rượu nào. Tôi sẽ trung thực trong vấn đề này, vì vậy ông không cần phải băn khoăn thêm nữa. Giấy phép hành nghề bác sĩ đa khoa của tôi bị treo trong khoảng thời gian từ năm 1969 đến năm 1972.”
“Bởi vì cô bé đó?”
“Không, không, không phải vì cô bé ấy, mặc dù đó là lý do chính dẫn đến mọi chuyện. Đó là vì tôi đã uống rượu và làm việc cẩu thả. Tôi không muốn nhắc đến chuyện đó trừ khi thật sự cần thiết.”
Erlendur muốn dừng vấn đề ở đó, nhưng không thể ngăn cản bản thân mình.
“Vậy là ít nhiều ông đã say xỉn trong suốt những năm đó, ý ông là thế phải không?”
“Gần như vậy.”
“Giấy phép hành nghề bác sĩ đa khoa của ông đã được cấp lại chưa?”
“Rồi.”
“Từ đó đến nay không còn rắc rối nào nữa chứ?”
“Không,” ông bác sĩ lắc đầu trả lời. “Nhưng tôi đã nói rồi đấy, tôi ở trong trạng thái không được tốt khi khám cho con gái của Kolbrún, Audur. Cô bé bị đau và tôi tưởng rằng đó là bệnh đau nửa đầu ở trẻ em. Audur thường nôn vào buổi sáng. Khi các cơn đau dữ dội hơn, tôi cho uống thuốc nặng hơn. Tất cả những việc đó với tôi bây giờ chỉ còn là một vùng ký ức mờ nhạt. Tôi đã quyết định là sẽ cố quên đi chuyện đó từ sau lần ấy. Mọi người đều có thể phạm phải sai lầm, và bác sĩ cũng vậy.”
“Vậy nguyên nhân gây tử vong là gì?”
“Nếu tôi chữa trị kịp thời và đưa cô bé đến bệnh viện thì sự thể cũng không khác đi được,” người đàn ông trầm ngâm nói. “Ít nhất đó là những gì tôi đã cố gắng nói với bản thân mình. Ngày đó không có nhiều bác sĩ khoa nhi và chúng tôi không có máy quét não. Chúng tôi phải làm việc theo cảm tính và kinh nghiệm nhiều hơn. Và, như tôi đã nói, tôi không cảm thấy gì nhiều lắm ngoại trừ nhu cầu được uống rượu trong thời gian đó. Vụ li dị rắc rối cũng không giúp được gì nhiều. Không phải là tôi đang tự bào chữa cho chính mình đâu,” ông nói và nhìn vào Erlendur, dù rõ ràng là ông ta đang biện hộ thật.
Erlendur gật đầu.
“Sau khoảng hai tháng, tôi cho là thế, tôi bắt đầu nghi ngờ là căn bệnh trầm trọng hơn chứng đau nửa đầu ở trẻ em. Cô bé không khá lên chút nào cả. Cơn đau không dừng lại. Audur càng ngày càng bị nặng hơn. Cơ thể cô bé xơ xác, gầy trơ xương. Có rất nhiều khả năng có thể xảy ra. Tôi cho rằng đó có thể là bệnh nhiễm trùng lao ở đầu. Có một thời người ta còn chẩn đoán đó là bệnh nhức đầu sổ mũi khi thực sự không ai có một cơ sở nào. Sau đó một giả thuyết mới được đưa ra là bệnh viêm màng não, nhưng có rất nhiều triệu chứng không xuất hiện, căn bệnh cũng diễn tiến quá nhanh nữa. Cô bé xuất hiện những dấu hiệu mà người ta gọi là café au lait trên da. Cuối cùng, tôi bắt đầu nghĩ đến bệnh ung thư.”
“Café au lait ư?” Erlendur hỏi lại, nhớ rằng mình đã được nghe từ ngày trước đây.
“Nó có thể đi kèm với các bệnh ung thư.”
“Thế rồi ông gửi cô bé đến bệnh viên Keflavík phải không?”
“Cô bé chết ở đó,” viên bác sĩ nói. “Tôi nhớ rằng đó là một mất mát thương tâm đối với người mẹ. Cô ấy như bị mất trí. Chúng tôi phải trấn an cô ấy. Người mẹ thẳng thừng từ chối người ta làm xét nghiệm tử thi trên xác con gái mình. Cô ta còn thét lên với chúng tôi rằng không được làm thế.”
“Nhưng rồi người ta cũng tiến hành giải phẫu đấy thôi.”
Viên bác sĩ ngập ngừng.
“Chuyện đó không trách được. Không còn cách nào khác.”
“Thế kết quả ra sao?”
“Một khối u, như tôi đã nói.”
“Ông nói một khối u là sao?”
“Bệnh u não,” viên bác sĩ trả lời. “Cô bé chết vì bệnh u não.”
“U não loại nào?”
“Tôi không chắc,” ông ta nói. “Tôi không biết người ta có khám xét cẩn thận không nhưng tôi mong là họ đã làm như thế. Hình như người ta có nhắc đến thứ gì đó liên quan đến bệnh gi truyền.”
“Bệnh do di truyền!” Erlendur lên giọng.
“Ngày nay chuyện đó không phải là phổ biến sao? Thế điều này có liên quan gì đến vụ giết Holberg?”
Erlendur ngồi đó, trầm ngâm suy nghĩ.
“Tại sao ông lại hỏi tôi về cô bé ấy?”
“Tôi mơ thấy những chuyện này,” Erlendur trả lời.