Sachvui.Com-vet-bot-mau-ca-phe-sua

16

16

16

Buổi tối hôm đó, khi Erlendur về đến nơi thì Eva Lind không có nhà. Ông có nghe theo lời của con gái, không băn khoăn xem con bé đang ở đâu, nó có vẻ hay không hay đang trong tình trạng nào. Ông đã ghé vào một cửa hàng và mang về một túi gà rán cho bữa tối. Erlendur ném cái túi lên ghế và trong lúc cởi áo khoác, ông ngửi thấy mùi thơm quen thuộc của thức ăn. Đã lâu rồi không được ngửi thứ mùi nấu nướng như thế tỏa ra từ căn bếp của mình.

Gà rán trên ghế là đồ ăn của ông, bánh hamburger, đồ ăn mang về từ các cửa hàng rẻ tiền, thức ăn sẵn trong siêu thị, đầu cừu luộc ướp lạnh, bình sữa đông, những bữa tối vô vị lấy ra từ lò vi sóng. Ông không thể nhớ được lần cuối cùng mình tự nấu một bữa ăn hoàn chỉnh là khi nào. Ông cũng không nhớ lần cuối cùng mình muốn nấu là khi nào nữa.

Erlendur thận trọng bước vào bếp xem có kẻ nào đột nhập ở đó không, và ông phát hiện ra bàn ăn đã được xếp sẵn cho hai người với những cái đĩa xinh đẹp mà ông không nhớ là mình có chúng. Hai cốc rượu được đặt trên những cái chân cao bên cạnh mỗi đĩa. Trên bàn còn có khăn ăn và nến sáng lung linh trong hai chiếc chân nến không vừa vặn - những thứ mà Erlendur chưa từng thấy bao giờ.

Từ từ, ông tiến vào bếp và thấy thứ gì đó đang sôi trong một cái xoong lớn. Nhấc vung lên, Erlendur nhìn xuống món thịt hầm trông rất ngon mắt. Dầu ăn bóng loáng trên những miếng củ cải, khoai tây, thịt và gia vị, tất cả đang tỏa ra một mùi thơm ngào ngạt khiến cho căn hộ của ông tràn ngập hương vị gia đình. Ông cứ giữ cái vung như thế để hít hà hương thơm của thịt hầm với rau củ.

“Con cần thêm ít rau nữa” Eva Lind nói ở cửa bếp. Erlendur không để ý là con bé đã bước vào nhà. Nó mặc chiếc áo trùm đầu của ông, tay ôm một túi cà rốt.

“Con học nấu món thịt hầm này ở đâu vậy?” Erlendur hỏi.

“Ngày trước lúc nào mẹ chẳng nấu món này,” Eva Lind nói. “Một lần khi không nói xấu bố, mẹ nói rằng món thịt hầm của bà là món khoái khẩu của bố. Sau đó mẹ lại nói bố là một kẻ đáng khinh.”

“Cả hai đều đúng cả,” Erlendur nói. Ông quan sát Eva Lind xắt cà rốt thành miếng nhỏ và bỏ chúng vào nồi với các loại rau củ khác. Một suy nghĩ lướt nhanh trong đầu ông rằng mình đang trải qua một cuộc sống gia đình thực sự, và điều đó khiến ông vừa vui lại vừa buồn. Ông không cho phép mình được hy vọng một cách xa xỉ rằng niềm vui này sẽ kéo dài mãi mãi.

“Bố đã bắt được tên giết người chưa?” Eva Lind hỏi.

“Ellidi hỏi thăm con đấy,” Erlendur nói. Các từ cứ buột ra trước khi ông kịp nhận ra rằng một con quái thú như Ellidi không thuộc về một bầu không khí như thế này.

“Ellidi? Hắn đang ở Litla-Hraun mà. Hắn biết con là ai à?”

“Những thằng vô đạo đức mà bố nói chuyện thỉnh thoảng có nhắc đến tên con,” Erlendur nói. “Chúng nghĩ rằng chúng đã ghi được điểm trước bố.” “Vậy chúng có làm được điều đó không?”

“Một vài thôi. Như Ellidi chẳng hạn. Con biết hắn như thế nào?” Erlendur hỏi nghiêm túc.

“Con đã nghe chuyện về hắn. Con gặp hắn một năm trước đây. Hắn đã dùng keo dẻo để gắn những cái răng giả vào hàm. Nhung con không biết về hắn nhiều lắm.”

“Đó là một tên ngu ngốc hết chỗ nói.”

Họ không nói gì thêm về Ellidi buổi tối hôm đó nữa. Khi hai bố con ngồi xuống bàn ăn, Eva Lind rót nước vào các cốc rượu và Erlendur ăn nhiều đến nỗi phải bước loạng choạng vào phòng khách ngay sau đó. Ông ngủ gật ở đó, vẫn mặc nguyên quần áo cũ và ngủ say đến tận sáng hôm sau.

Lần này ông nhớ được phần lớn giấc mơ của mình. Erlendur biết rằng đó là giấc mộng thường đến với mình trong những đêm gần đây nhưng ông không thể nắm bắt được nó mỗi khi tỉnh dậy.

Eve Lind hiện ra trước mặt ông không giống với hỉnh ảnh mà ông thường thấy, con bé bước ra từ một luồng ánh sáng tỏa ra từ đâu đó mà ông không biết, mặc một chiếc váy mùa hè xinh xắn dài đến mắt cá chân và mái tóc đen dài phủ xuống lưng. Hình ảnh ấy được bao phủ bởi hương vị của mùa hè, rồi con bé bước về phía ông, hoặc là nó đang lướt đi vì ông thầm nghĩ rằng chân nó không hề chạm đất. Erlendur không thể nhận ra quang cảnh xung quanh, tất cả những gì ông thấy là thứ ánh sáng chói lòa ấy và Eva Lind ở giữa luồng sáng, tiến về phía ông và mỉm cười rạng rỡ. Erlendur thấy mình mở rộng vòng tay để chào đón con gái và chờ đợi để được ôm con vào lòng. Sau đó ông cảm thấy mất kiên nhẫn vì con bé không bao giờ bước vào vòng tay của mình mà chỉ đưa ra một tấm ảnh. Sau đó luồng ánh sáng biến mất, Eva Lind tan biến đi, còn Erlendur thì cầm bức ảnh trong tay. Ông biết rõ rằng nó được chụp tại một nghĩa trang, sau đó nó hóa thành thực tế, Erlendur thấy mình đang ở trong đó, ngước nhìn lên bầu trời tối mịt và cảm nhận được mưa đang quất vào mặt mình. Rồi khi cúi xuống, ông nhìn thấy tấm bìa vỡ tan, ngôi mộ nứt ra một khoảng tối tăm cho đến khi chiếc quan tài xuất hiện. Khi nó bật nắp, ông nhìn thấy cô bé nằm trong đó bị cắt ở giữa thân mình lên đến tận hai vai. Bất thình lình, cô bé mở hai mắt ra nhìn chằm chằm vào ông. Khi cô mở miệng, ông nghe thấy tiếng khóc thống khổ của cô phát ra từ phần mộ.

Erlendur tỉnh dậy, thở dốc và nhìn chằm chằm vào khoảng không khí trong khi định thần lại. Ông gọi Eva Lind nhưng con bé không trả lời. Ông đi vào phòng con gái nhưng có thể cảm nhận được sự trống trải trong đó trước cả khi mở cửa. Ông biết rằng con bé đã đi rồi.

Sau khi kiểm tra sổ sách dân cư ở Húsavík, Elínborg và Sigurdur Óli đã lọc ra được một danh sách gồm 176 phụ nữ có khả năng là nạn nhân bị Holberg cưỡng hiếp. Tất cả những gì họ dựa vào là lời nói “cùng một loại” của Ellidi. Do đó họ lấy tuổi của Krobrún cộng hoặc trừ mười năm. Trong lần kiểm tra đầu tiên, một điều nổi lên là những người phụ nữ này có thể được tạm chia thành ba nhóm: một phần tư vẫn sống ở Húsavík, một nữa đã rời đến Reykjavík và một phần tư còn lại sống rải rác ở khắp Iceland.

“Đủ để làm cho ông điên đầu đấy!” Thở dài ngao ngán, Elínborg nhìn xuống danh sách rồi đưa nó cho Erlendur. Cô thấy rằng ông có vẻ lôi thôi hơn mọi ngày. Râu ria trên mặt ông đã mấy ngày không được cạo, mái tóc vàng hoe rậm rạp rối bù, bộ quần áo bẩn và nhàu nát của ồng cần phải giặt khô ngay. Elínborg băn khoăn không biết có nên nói thẳng điều này với ông không, nhưng xem ra biểu hiện của Erlendur không mấy mặn nồng với những lời đùa cợt.

“Mấy hôm nay ông ngủ thế nào, Erlendur?” Cô hỏi một cách dè dặt.

“Rất tệ,” Erlendur trả lời.

“Rồi sao nữa?” Sigurdur Óli nói. “Chúng ta có nên đến gặp từng người một và hỏi xem họ có bị cưỡng hiếp bốn mươi năm trước đây không? Đó chẳng phải là... thô thiển lắm sao?”

“Tôi không biết còn cách nào khác ngoài cách đó. Hãy bắt đầu với những người đã chuyển đi khỏi Húsavík trước.” Erlendur nói. “Chúng ta sẽ bắt đầu kiểm tra ở Reykjavík xem liệu có thu thập được thêm thông tin nào về người phụ nữ này trong quá trình điều tra không. Nếu gã Ellidi ngu ngốc không nói dối, Holberg đã nói về cô ta với Kolbrún. Cô ấy có thể nói lại chuyện đó, với chị gái, có thể là với Rúnar. Tôi cần phải quay trở lại Keflavík.”

“Chúng ta có thể thu hẹp danh sách lại một chút,” ông nói sau khi suy nghĩ một hồi.

“Thu hẹp lại ư? Bằng cách nào cơ?” Elínborg hỏi. “Ông đang nghĩ cái gì thế?”

“Tôi chỉ vừa nảy ra một ý tưởng thôi.”

“Sao cơ?” Elínborg đã mất kiên nhẫn. Cô đi làm với một bộ vest mới màu xanh nhạt nhưng dường như không ai thèm chú ý.

“Huyết thống, sự di truyền và bệnh tật,” Erlendur nói.

“Chính xác,” Sigurdur Óli hưởng ứng.

“Cứ giả sử rằng Holberg là kẻ hiếp dâm. Chúng ta không biết có bao nhiêu người phụ nữ đã bị hắn hiếp. Chúng ta mới biết có hai người và thực ra mới chắc chắn được một. Mặc dù hắn phủ nhận điều đó, mọi chứng cứ đều quy về một sự thật là hắn đã hiếp Kolbrún. Hắn là cha của Audur, hoặc, ít ra chúng ta cũng nên làm việc theo giả thuyết đó. Nhưng hắn có thể có một đứa con khác với người phụ nữ ở Húsavík.”

“Một đứa con khác ư?” Elínborg thốt lên.

“Trước cả Audur,” Erlendur trả lời.

“Điều đó không phải là không thể sao?” Sigurdur Óli nói.

Erlendur nhún vai.

“Ông muốn chúng tôi thu hẹp danh sách lại còn những người phụ nữ có con trước, năm nào nhỉ, 1964 ư?”

“Đó là một ý tưởng không tồi đâu.”

“Hắn ta có thể có con khắp nơi,” Elínborg nói.

“Đúng. Hắn cũng không nhất thiết phải phạm tội hiếp dâm hơn một lần nên việc đó chỉ là may rủi,” Erlendur đáp.

“Ông đã tìm ra nguyên nhân khiến em gái Holberg chết chưa?”

“Chưa, tôi vẫn đang điều tra” Sigurdur Óli trả lời. “Tôi đã cố tìm hiểu về gia đình hắn, nhưng vẫn chưa có manh mối nào.”

“Tôi đã điều tra vụ Grétar,” Elínborg nói. “Gã này mất tích đột ngột, giống như là mặt đất đã nứt ra và nuốt chửng gã vậy. Không ai nhớ về Grétar một chút nào. Khi mẹ gã không nghe tin tức gì về con trai mình trong suốt hai tháng trời, cuối cùng bà ta đã gọi cho cảnh sát. Người ta đăng hình Grétar trên báo chí, truyền hình nhung không có kết quả gì. Đó là vào năm 1974, năm có đại lễ kỷ niệm ngày Iceland hòa bình vào mùa hè. Lúc đó các anh có đến lễ hội ở Thingvellir không?”

“Tôi có đến đó,” Erlendur trả lời. ‘Thế còn về Thingvellir thì sao? Cô nghĩ rằng đó là nơi mà Grétar biến mất à?”

“Có lẽ, đó là tất cả những gì mà tôi biết,” Elínborg đáp.

“Theo thủ tục, người ta tiến hành một cuộc điều tra về người bị mất tích và nói chuyện với những người mà mẹ gã cho rằng gã biết, bao gồm cả Holberg và Ellidi. Người ta cũng thẩm vấn ba người khác nữa nhưng chẳng ai biết gì cả. Không ai còn nhớ đến Grétar trừ mẹ và em gái gã. Gã vốn sinh ra ở Reykjavík, không vợ con, không bạn gái, không có gia đình nào khác. Vụ án mở ra được mấy tháng rồi khép lại. Lúc đó gã mới ba mươi tư tuổi.”

“Nếu gã cũng dễ chịu như hai người bạn Ellidi và Holberg của mình thì tôi sẽ không ngạc nhiên khi chẳng ai thèm nhớ đến gã cả,” Sigurdur Óli nói.

“Mười ba người mất tích tại Iceland vào những năm 1970 - thời điểm mà Grétar mất tích,” Elínborg thêm vào.

“Mười hai người trong những năm 1980, không tính những ngư dân mất tích ngoài biển.”

“Mười ba người mất tích,” Sigurdur Óli nói, “Không phải là khá nhiều sao? Không có trường hợp nào được tìm thấy à?”

“Đằng sau những chuyện đó không có dấu hiệu phạm tội nào,” Elínborg trả lời. “Người ta biến mất, muốn biến mất và tự làm cho mình biến mất.”

“Nếu tôi hiểu một cách chính xác,” Erlendur nói, “thì câu chuyện là như thế này: Ellidi, Holberg và Grétar đã tới nhảy ở Hội chữ thập đỏ vào một ngày cuối tuần mùa thu năm 1963.”

Ông nhìn thấy trên khuôn mặt của Sigurdur Óli hiện lên một dấu hỏi khổng lồ.

“Hội chữ thập đỏ trước đây là một trạm y tế quân đội cũ, sau đó được chuyển thành một vũ trường. Hồi xưa người ta thường tổ chức những buổi khiêu vũ dâm ô ở đó.”

“Tôi cho rằng đó là nơi mà ban nhạc Beatles của Iceland bắt đầu chơi nhạc.” Elínborg xen vào.

“Họ gặp một vài cô gái ở sàn nhảy, và lúc sau, một cô trong số đó tổ chức tiệc tại nhà,” Erlendur tiếp tục. “Chúng ta cần phải cố gắng tìm ra những cồ gái này. Holberg đi cùng một cô về đến nhà và cưỡng hiếp cô ấy. Dường như hắn đã từng chơi trò đó trước đây. Hắn thì thầm vào tay cô gái những gì hắn đã làm với một cô gái khác. Cô ta có thể sống ở Húsavík và chắc chắn là chưa bao giờ đi khiếu kiện. Ba ngày sau, Kolbrún đã thu hết can đảm để trình báo vụ việc nhưng lại gặp phải một tay cảnh sát không có lấy một chút thông cảm với những người phụ nữ đã mời đàn ông về nhà sau đêm nhảy lại còn bị kêu là bị cưỡng hiếp. Kolbrún đã sinh được một bé gái. Có thể Holberg biết về đứa bé, chúng ta tìm thấy một bức ảnh chụp ngôi mộ của cô bé trong bàn của hắn. Ai đã chụp nó? Tại sao? Cô bé chết vì bị căn bệnh hiểm nghèo còn người mẹ tự tử ba năm sau đó. Cũng ba năm sau, một trong số những người bạn của Holberg mất tích. Holberg bị giết cách đây vài ngày và một lời nhắn bí hiểm được để lại hiện trường.”

“Tại sao bây giờ Holberg mới bị giết, lúc đã già rồi? Kẻ sát nhân có liên quan gì đến chuyện trước đây không? Và nếu như vậy, tại sao Holberg lại không bị thủ tiêu trước đó? Hay là thủ phạm không liên quan gì đến sự thật kia, nếu đó là sự thật, rằng Holberg là một kẻ hiếp dâm?”

“Vụ giết người không giống với một vụ có kế hoạch từ trước, chúng ta không nên bỏ qua chi tiết đó,” Sigurdur Óli chen ngang. “Như Ellidi đã nói, có thằng ngu nào lại sử dụng một cái gạt tàn chứ? Câu chuyện diễn ra như thể nó không có một gốc rễ lâu đời nào đó. Lời nhắn chỉ là một trò đùa, không thể giải mã được. Kẻ giết Holberg, không liên quan đến vụ cưỡng hiếp nào cả. Có lẽ tốt hơn chúng ta nên tìm ra gã thanh niên nào đó mặc áo khoác quân đội màu xanh lục.”

“Holberg không phải là một thiên thần,” Elínborg nói. “Có thể đây là một vụ giết người báo thù. Có lẽ một ai đó cho rằng hắn ta đáng được như vậy.”

“Người duy nhất căm thù Holberg mà chúng ta biết chắc chắn là chị gái của Kolbrún ở Keflavík,” Erlendur nói. “Tôi không thể tưởng tượng được rằng bà ấy lại giết được ai đó với một cái gạt tàn.”

“Chẳng lẽ bà ta không có ai để giúp ư?” Sigurdur Óli phản đối.

“Ai cơ?” Erlendur hỏi lại.

“Tôi không biết. Dù thế nào đi nữa, tôi vẫn nghĩ rằng có kẻ nào đó đã lảng vảng quanh khu vực Holberg sống và định sẽ đột nhập vào đâu đó, trộm cắp và bới tung cả ngôi nhà lên. Holberg bắt quả tang hắn ta và bị đánh vào đầu bằng một cái gạt tàn. Đó là một tên nghiện không thể phân biệt được đâu là mông, đâu là khuỷu tay của chính mình. Chẳng có gì dính dáng đến quá khứ cả, chỉ có hiện tại thôi. Reykjavík vẫn là chính nó trong hiện tại.”

“Chí ít thì cũng có ai đó cho rằng điều cần làm là phải khử ông ta,” Elínborg nói. “Chúng ta phải nghiên cứu lời nhắn một cách cẩn thận. Đó không phải là một trò đùa đâu.”

Sigurdur Óli nhìn Erlendur. “Khi anh nói về việc muốn biết chính xác tại sao cô bé chết, ý anh có giống với điều tôi nghĩ là anh muốn nói không?”

“Tôi có một cảm giác tồi tệ là như thế đấy,” Erlendur trả lời.

17

Rúnar ra mở cửa và nhìn Erlendur một lúc mà không nhận ra ông là ai. Erlendur đang đứng ở hành lang chung, ướt như chuột lột sau khi chạy từ chiếc xe vào đến tòa nhà. Bên phải ông là một cầu thang dẫn lên căn hộ bên trên. Các bậc cầu thang được trải thảm, và những nơi bị mòn nhiều nhất là những chỗ mà người ta hay đi lại nhất. Trong không khí thoảng mùi ẩm mốc, Erlendur băn khoăn không biết những người yêu thích ngựa có sống trong ngôi nhà đó không. Erlendur hỏi Rúnar rằng ông ta có nhớ ông là ai không, và Rúnar dường như đã nhớ lại, vì ngay lập tức ông ta cố đóng sầm cánh cửa lại, nhưng Erlendur đã nhanh hơn. Ông bước vào trong căn hộ trước khi Rúnar có thể làm gì.

“Thật ấm áp,” Erlendur vừa nói vừa nhìn quanh không gian mờ tối.

“Hãy để tôi yên!” Rúnar cố hét vào mặt Erlendur, nhưng giọng ông ta vỡ ra và trở nên the thé.

“Hãy dè chừng huyết áp của ông đấy. Tôi rất ghét phải hà hơi thổi ngạt nếu ông ngất đột ngột trước mặt tôi. Tôi cần hỏi ông thêm ít thông tin, sau đó tôi sẽ đi ngay, rồi ông có thể quay vào và chết ở đây cũng được. Sẽ không mất nhiều thời gian của ông đâu. Trông ông cũng không giống với siêu sao của năm lắm đâu.”

“Hãy cút đi!” Rúnar quát, tức giận hết mức có thể mà tuổi tác ông ta có thể chịu được, rồi quay vào phòng khách và ngồi trên ghế sofa. Erlendur theo sau ông ta và ngồi xuống một cách nặng nhọc xuống chiếc ghế đối diện, Rúnar không thèm nhìn ông.

“Kolbrún có nói về một vụ hiếp dâm khác khi cô ấy đến khai báo với ông về Holberg không?”

Rúnar không trả lời.

“Càng trả lời sớm, ông càng thoát khỏi tôi nhanh hơn đấy.”

Rúnar ngẩng lên và nhìn xoáy vào Erlendur.

“Cô ta chưa bao giờ nói về một vụ hiếp dâm nào khác. Ông đi được chưa?”

“Chúng tôi có lý do để tin rằng Holberg đã cưỡng hiếp ai đó trước khi hắn gặp Kolbrún. Hắn có thể đã chơi lại trò đó sau khi hiếp dâm cô ấy, chúng ta không biết. Kolbrún là người phụ nữ duy nhất kiện hắn thậm chí ngay cả khi không có gì làm bằng chứng - nhờ có ông đấy.”

“Biến đi!”

“Ông có chắc chắn rằng Kolbrún không nói đến người phụ nữ nào khác không? Có thể là Holberg đã khoe khoang với cô ấy về một vụ hiếp dâm khác chẳng hạn.”

“Cô ta chẳng nói gì đến chuyện đó cả,” Rúnar nói rồi nhìn xuống dưới bàn.

“Holberg đi cùng với hai người bạn vào đêm hôm đó. Một trong hai người là Ellidi, một tên tù già mà có thể ông cũng biết. Hiện hắn đang ở trong tù, chiến đấu với ma quỷ trong một căn phòng biệt giam. Người còn lại là Grétar. Gã biến mất khỏi trái đất vào mùa hè năm lễ hội quốc gia được tổ chức. Ông có biết gì về những người đi cùng Holberg không?”

“Không. Để tôi được yên!”

“Họ làm gì trong thị trấn vào buổi tối mà Kolbrún bị cưỡng hiếp?”

“Tôi không biết.”

“Ông chưa bao giờ nói chuyện với họ à?”

“Chưa.”

“Ai chịu trách nhiệm vụ điều tra ở Reykjavík?”

Rúnar lần đầu tiên ngẩng lên nhìn mặt Erlendur.

“Đó là Marion Briem.”

“Marion Briem!”

“Chính là con mụ ngu ngốc đó.”

Elín không ở nhà khi Erlendur gõ cửa, do vậy ông quay trở về xe, châm một điếu thuốc và cân nhắc xem có nên tiếp tục chuyến đi đến Sandgerdi không. Cơn mưa tầm tã trút xuống chiếc xe và Erlendur - người chưa bao giờ theo dõi chương trình dự báo thời tiết - băn khoăn không biết khi nào tình trạng ẩm thấp này mới kết thúc. Có thể đây là một phiên bản thu nhỏ của trận lụt Noah, ông nghĩ bụng trong làn khói thuốc mỏng màu xanh. Đôi khi, có lẽ tội lỗi của con người cần phải được gột rửa.

Erlendur sợ phải gặp lại Elín và khi biết rằng bà không ở nhà thì ông cảm thấy nhẹ nhõm hẳn. Ông biết rằng bà vẫn chưa tin tưởng mình và ông không hề muốn chọc tức người phụ nữ đó, giống như khi bà gọi ông là “tên cớm khốn kiếp.” Nhưng chuyện đó không thể tránh nổi. Hoặc là bây giờ, hoặc là về sau. Ông trút một tiếng thở dài ngao ngán và rít điếu thuốc cho đến khi cảm thấy hơi nóng lan đến đầu ngón tay. Erlendur vẫn giữ điếu thuốc trong khi dập tắt nó, rồi thở ra nặng nhọc. Một dòng chữ trong một cuộc đấu tranh chống thuốc lá chợt lướt qua tâm trí của ông: Bệnh ung thư có thể bắt đầu từ một tế bào.

Sáng nay ông lại cảm thấy cơn đau trong ngực, nhưng bây giờ thì nó đã biến mất.

Erlendur đang quay xe ra khỏi ngôi nhà thì Elín gõ gõ lên cửa sổ.

“Ông đến để gặp tôi à?” Câu hỏi cất lên từ dưới cái ô trong lúc Erlendur hạ cửa kính xuống.

Erlendur nở một nụ cười bí hiểm và khẽ gật đầu. Người phụ nữ mở cửa cho ông và đột nhiên Erlendur có cảm giác như một kẻ phản bội. Những người khác trong đội đã lên đường đến nghĩa trang.

Ông bỏ mũ và treo nó lên móc, rồi ông cởi áo mưa cùng giày rồi bước vào phòng khách trong bộ quần áo nhăn nhúm. Lúc này Erlendur mặc một chiếc áo len đan không tay màu nâu bên trong áo khoác, nhưng do ông không chỉnh trang cẩn thận nên chẳng có cái lỗ nào để cài cái cúc dưới cùng cả. Ông ngồi vào cái ghế mà lần trước đến ông đã ngồi ở đó. Elín đã đi vào bếp để bật máy pha cà phê và mùi thơm bắt đầu tỏa khắp căn nhà. Khi quay trở lại, ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông.

Erlendur hắng giọng. “Một trong số những người đi cùng Holberg vào thị trấn trong cái đêm hắn hiếp Kolbrún có tên là Ellidi, hiện hắn đang bị tù ở Litla-Hraun. Chúng tôi bắt đầu gọi hắn là “một trong số những nghi phạm thông thường” từ lâu rồi. Người thứ ba tên là Grétar. Gã mất tích vào năm 1974 - năm có đại lễ quốc gia.”

“Hồi đó tôi có đến Thingvellir,” Elín nói. “Tôi có trông thấy các nhà thờ ở đó.”

Erlendur lại hắng giọng lần nữa.

“Vậy ông có nói chuyện với gã Ellidi này không?” Elín tiếp tục.

“Đó thật là một công việc kinh tởm, “Erlendur trả lời.

Elín nói xin lỗi, rồi đứng lên và đi vào bếp. Erlendur nghe thấy tiếng cốc kêu lách cách. Điện thoại của ông reo lên trong túi áo khoác và khi nghe máy, ông phải nín thở. Người gọi là Sigurdur Óli.

“Chúng tôi đã sẵn sàng rồi,” Sigurdur Óli lên tiếng. Erlendur có thể nghe thấy tiếng mưa qua điện thoại.

“Đừng có làm gì cho đến khi tôi về chỗ các anh, “Erlendur nói. Anh có hiểu không? Đừng có manh động gì cho đến khi anh nghe lệnh của tôi, nếu không tôi sẽ đến đấy.”

“Ông đã nói chuyện với bà già nhếch nhác đó chưa?”

Không trả lời, Erlendur tắt máy và bỏ điện thoại vào túi. Elín bước vào, mang theo một chiếc khay, đặt hai chiếc cốc lên bàn trước mặt Erlendur và bắt đầu rót cà phê vào đó. Cả hai cốc đều là cà phê đen. Bà đặt bình cà phê lên bàn và ngồi xuống đối diện với Erlendur. Ông lại bắt đầu nói.

“Ellidi nói rằng Holberg đã cưỡng hiếp một phụ nữ khác trước Kolbrún và có thể hắn đã kể chuyện đó với cô ấy. “Ông quan sát thấy vẻ ngạc nhiên hiện lên trên mặt Elín.

“Neu Kolbrún biết về ai đó khác nữa, em tôi cũng không bao giờ kể cho tôi nghe, “bà đáp và trầm ngâm lắc đầu. “Hắn có nói đúng sự thật không?”

“Chúng tôi đang điều tra giả thuyết đó, “Erlendur nói. “Ellidi quá căng thẳng và mệt mỏi, có thể hắn đã nói dối. Nhưng chúng tôi không có gì trong tay để bác bỏ những lời hắn nói.”

“Chị em tôi không thường xuyên nói về vụ hiếp dâm,” Elín nói. “Tôi nghĩ rằng lý do là vì Audur. Trong số rất nhiều lý do khác nữa. Kolbrún là một cô gái kín đáo, rụt rè và không cởi mở thế nên nó càng trở nên khép kín sau những gì đã xảy ra. Và tất nhiên, việc nói về chuyện kia thật kinh tởm với em tôi khi mà con bé đã có thai, nhất là sau khi đứa trẻ ra đời. Kolbrún làm tất cả mọi điều có thể để quên đi rằng vụ hiếp dâm đã xảy ra. Tất cả mọi thứ để quên đi điều đó.”

“Tôi nghĩ rằng nếu Kolbrún biết về người phụ nữ khác, cô ấy sẽ nói với cảnh sát để củng cố lời khai của mình, nếu cô ấy không còn con đường nào khác. Nhưng Kolbrún không hề đả động gì đến chuyện đó trong bất cứ báo cáo nào mà tôi đã đọc.

“Có thể em tôi không muốn nói đến người phụ nữ đó, “Elín nói.

“Bỏ qua ư?”

“Kolbrún biết cảm giác bị hiếp dâm là như thế nào. Con bé biết cảm giác phải đi trình báo vụ hiếp dâm đó với cảnh sát là như thế nào. Em tôi đã phải lưỡng lự rất lâu và tất cả những gì nó nhận được lại là sự bẽ măt. Nếu cô gái kia không muốn trình báo có thể Kolbrún đã tôn trọng mong muốn của cô ấy. Tôi cho là vậy. Nhưng cũng rất khó nói, tôi không biết là thực ra ông đang nói đến điều gì.”

“Có thể cô ấy không biết một cách cụ thể mà chỉ là một mối hoài nghi mơ hồ. Nếu như Holberg ám chỉ điều gì đó qua những gì hắn nói.”

“Em tôi chưa bao giờ nói với tôi những chuyện đại loại như vậy.”

“Khi hai người nói về vụ cưỡng hiếp, hai người thường nói về những gì?”

“Không hẳn là về cái hành động cưỡng hiếp đó, “Elín trả lời.

Điện thoại trong túi Erlendur lại reo và Elín dừng lại. Erlendur lôi điện thoại ra và thấy người gọi lại là Sigurdur Óli. Erlendur tắt máy vá ném nó ra một chỗ.

“Tôi xin lỗi.”

“Những chiếc điện thoại này chẳng phải là rắc rối lắm sao?”

“Chắc chắn là thế rồi,” Erlendur đáp. Ông đang sắp cạn thời gian. “Xin bà nói tiếp.”

“Em tôi nói về chuyện mình yêu Audur bao nhiêu. Họ có một mối quan hệ đặc biệt, cho dù những chuyện đã xảy ra là vô cùng khủng khiếp. Audur là cả thế giới với Kolbrún. Tôi biết nói ra điều đó thật là tồi tệ, nhung dường như em tôi không muốn bỏ lỡ bất cứ điều gì mà một người mẹ cần làm. Ông hiểu điều đó chứ? Thậm chí tôi còn nghĩ rằng nó coi Audur như một sự đền bù, hoặc một điều gì đó như thế, sau khi bị cưỡng hiếp. Tôi biết chuyện đó thật khó coi, nhưng như thể con bé là quà tặng Chúa trời ban cho em tôi trong tất cả những điều bất hạnh đó vậy. Tôi không thể biết được em mình nghĩ gì, nó cảm nhận ra sao hay nó giữ những cảm xúc nào cho riêng mình. Tôi chỉ biết rất ít về điều đó và tôi không dám mạo muội nói chuyện với nó. Dần dần, em tôi trở nên tôn thờ con gái bé bỏng của mình và chưa bao giờ rời mắt khỏi nó. Chưa bao giờ. Mối quan hệ của họ dính dáng chặt chẽ đến chuyện cũ, tuy nhiên Kolbrún không bao giờ nghĩ về con bé theo khía cạnh liên quan đến con quái vật đã hủy hoại đời mình. Em tôi chỉ thấy Audur là một đứa bé xinh xắn. Em tôi bảo vệ con gái mình một cách quá mức và điều đó vượt lên trên cả cái chết và ngôi mộ, như các chữ khắc đã nói: “Xin hãy gìn giữ mạng sống của con khỏi sợ kẻ thù nghịch.”

“Bà có biết chính xác ý em bà thông qua những chữ đó là gì không?”

“Đó là một lời thỉnh cầu đến Chúa, nếu ông đọc kinh Psalm thì sẽ thấy, vốn dĩ có vài điều liên quan đến cái chết của con bé. Cách nó xảy ra thế nào và bi thảm ra sao. Kolbrún không thể chịu đựng được ý nghĩ rằng Audur sẽ bị xét nghiệm tử thi. Em tôi không thể lường được điều đó.”

Erlendur lúng túng nhìn xuống sàn nhà nhưng Elín không để ý.

“Ông có thể dễ dàng hình dung ra,” Elín nói, “những điều mà Kolbrún phải trải qua thật kinh khủng, vụ hiếp dâm và sau đó là cái chết của con gái đã có ảnh hưởng trầm trọng đến tâm lý của nó. Kolbrún bị suy sụp thần kinh. Khi người ta bắt đầu nói về việc khám nghiệm tử thi, chứng hoang tưởng trong Kolbrún trỗi lên, trong thâm tâm, em tôi muốn bảo vệ Audur và coi bác sĩ như kẻ thù. Con gái của nó phải rơi vào những tình huống kinh khủng như thế và đã ra đi thật nhanh. Kolbrún cho rằng tất cả là ý Chúa. Em gái tôi muốn con bé được yên bình.”

Erlendur đợi một lát rồi mới bắt đầu.

“Tôi nghĩ rằng mình là một trong số những kẻ thù đó.”

Elín nhìn ông, không hiểu ông đang nói gì.

“Tôi cho rằng chúng ta phải đào cái quan tài lên và thực hiện khám nghiệm tử thi kỹ càng hơn nữa, nếu điều đó có thể thực hiện được.”

Erlendur nói ra điều này một cách cẩn trọng hết sức có thể. Elín phải mất một lúc mới hiểu được điều ông đang nói, và khi đã hiểu ra, bà nhìn ông, mắt dại đi.

“Ông đang nói cái gì thế?”

“Chúng ta có thể tìm ra nguyên nhân cô bé chết.”

“Nguyên nhân ư? Đó không phải là u não sao!”

“Đó có thể là...”

“Ông đang nói cái gì vậy? Đào con bé lên ư? Cháu tôi? Thật là không thể tưởng tượng được! Tôi vừa mới nói với ông là... ”

“Chúng tôi có hai lý do.”

“Hai lý do gì?”

“Cho việc khám nghiệm,” Erlendur trả lời.

Elín bật dậy và điên cuồng đi lại trong phòng. Erlendur ngồi yên và lùi sâu hơn vào cái ghế bành êm ái.

“Tôi đã nói chuyện với các bác sĩ ở bệnh viện Keflavík. Họ đã không thể nào tìm ra bất cứ một báo cáo nào liên quan đến trường hợp của Audur trừ một kết quả xét nghiệm tử thi tạm thời được viết bởi các vị bác sĩ thực hiện cuộc khám nghiệm đó. Ông ta chết rồi. Năm Audur mất cũng là năm làm việc cuối cùng của ông ta ở bệnh viện. Ông ta chỉ đề cập đến bệnh u não và quy cái chết của Audur là do nguyên nhân đó. Tôi muốn biết loại bệnh nào đã dẫn đến cái chết của cô bé, liệu đó có phải là một thứ bệnh di truyền không.”

“Bệnh di truyền ư! Tôi không biết gì về một loại bệnh di truyền nào cả.”

“Chúng tôi cũng đang nghiên cứu điều đó với Holberg, “Erlendur nói. “Một nguyên nhân nữa cho vụ khai quật là để chứng minh xem Audur có phải là con của Holberg không. Người ta thực hiện điều đó bằng cách xét nghiệm AND.”

“Ông nghi ngờ điều đó?”

“Không hẳn là như vậy, nhưng điều đó cần phải được kiểm chứng lại.”

“Tại sao?”

“Holberg phủ nhận việc đứa trẻ là con mình. Ông ta nói rằng mình đã ngủ với Kolbrún trong sự chấp thuận của cô ấy nhưng không xác nhận huyết thống. Khi vụ việc bị bỏ qua, người ta không tìm ra bằng chứng nào để chứng minh hoặc bác bỏ điều đó. Em gái của bà thì không bao giờ yêu cầu những chuyện đại loại như vậy. Cô ấy rõ ràng đã chịu đủ rồi và chỉ muốn Holberg biến khỏi cuộc đời mình.”

“Còn ai có thể là cha của Audur nữa?”

“Chúng tôi cần kiểm chứng để điều tra vụ sát hại Holberg. Điều đó có thể giúp chúng tôi phần nào tìm ra câu trả lời.”

“Vụ giết Holberg ư?”

“Phải.”

Elín đứng đó, đối diện Erlendur, nhìn chằm chằm vào ông.

“Con quỷ đó lại sắp sửa đày đọa chúng tôi ngay cả khi hắn đã xuống mồ phải không?

Erlendur định trả lời, nhưng bà đã tiếp tục.

“Ông vẫn nghĩ rằng em gái tôi nói dối, “Elín nói. “Ông không bao giờ tin con bé. Ông cũng chẳng hơn gì cái gã Rúnar ngu xuẩn kia. Không hơn tí nào!”

Bà cúi xuống Erlendur lúc ấy đang ngồi trên ghế.

“Lũ cảnh sát tàn bạo!” Bà rít lên. “Đáng lý ra tôi không bao giờ nên để ông bước chân vào nhà tôi!”

18

Sigurdur Óli nhìn thấy đèn xe cảnh sát đang tiến lại gần và biết rằng đó là Erlendur. Cái máy đào đất kêu ùng ục bên cạnh ngôi mộ, sẵn sàng làm công việc của mình khi nhận được hiệu lệnh. Đó là một máy đào nhỏ, lúc nào cũng kêu bình bịch với những cú xóc mạnh. Những vết xích của nó kéo dài trên lớp bùn. Nó thải ra những cột khói đen mù và làm cho không khí xung quanh ám mùi hôi của dầu mỡ.

Sigurdur Óli và Elínborg đứng cạnh ngôi mộ cùng vói một bác sĩ pháp y, một luật sư đến từ văn phòng Công tố, một mục sư và một ngưòi trông giữ nhà thờ, vài cảnh sát đến từ Keflavík và người đào thuê. Đám người đứng dưói mưa, ghen tị với Elínborg vì cô là người duy nhất có ô che, và Sigurdur Óli - người được đứng một nửa người dưới cái ô đó. Họ thấy Erlendur đi một mình khi ông ra khỏi ngôi nhà và chầm chậm tiến về phía họ. Họ đã có đủ giấy tờ cho phép tiến hành cuộc khai quật, nhưng điều này chỉ diễn ra khi có lệnh của Erlendur.

Erlendur xem xét khu vực, thầm ân hận vì sự mạo phạm, phá hủy và giày xéo này. Bia đá của ngôi mộ đã được dỡ ra và đặt trên con đường gần đó. Cạnh đó là một cái bình màu xanh với một cái chân đế dài có thể chôn xuống đất. Cái bình cắm một bó hoa hồng và Erlendur thầm nghĩ rằng chắc chắn Elín đã đặt nó lên ngôi mộ. Ông dừng lại, đọc lại dòng chữ khác một lần nữa và lắc đầu. Cái cọc bằng gỗ màu trắng nhằm đánh dấu ngôi mộ, trước đây được cằm nhô lên khỏi mặt đất chừng hai mươi phân thì giờ đây đã nằm bên cạnh bia mộ, gẫy nát. Erlendur đã nhìn thấy loại hàng rào bao quanh mộ của trẻ em, và việc chứng kiến cảnh nó bị vùi dập thế này khiến lòng ông nhói đau. Erlendur nhìn lên bầu trời đen mù mịt. Nước mưa chảy từ vành mũ của ông xuống tận vai và ông liếc nhìn trong màn mưa đang sầm sập trút xuống. Ông nhìn nhóm người đang đứng bên cạnh cái máy đào, cuối cùng nhìn sang Sigurdur Óli gật đầu. Sigurdur Óli ra hiệu vói người điều khiển. Cái gầu xúc vươn lên không trung rồi đâm thẳng xuống nền đất xốp.

Erlendur nhìn cái máy đào đang xới tung những nỗi đau kéo dài suốt ba mươi năm qua. Ông nhăn mặt trước mỗi cú xúc đất của cái gầu. Đống đất cứ dần cao lên, cái hố mỗi lúc một sâu hơn trong khi trời mỗi lúc một tối dần. Erlendur đứng cách xa một chút và nhìn cái máy đào sâu hơn vào vết thương ấy. Bất thình lình ông có một cảm giác ngờ ngợ như mình đã từng chứng kiến tất cả những cảnh này trong một giấc mơ và bất thình lình cảnh tượng diễn ra trước mắt ông giống y như không khí trong mơ: các cộng sự của ông đang đứng đó, nhìn vào ngôi mộ, những người đào mộ thuê mặc quần áo màu ca, đang tì người lên xẻng, vị mục sư mặc chiếc áo mưa lớn màu đen, mưa đổ rào rào xuống mộ và quay ngược lại ứ tràn vào chiếc gầu xúc như thể là cái hố đang chảy máu.

Có phải ông đã mơ chính xác như thế này không?

Sau đó cảm giác ấy qua đi, và như thường lệ, khi có chuyện gì đó tương tự xảy ra, ông không thể hiểu được nó đến từ đâu, và tại sao ông lại cảm thấy như mình đang sống lại những sự kiện chưa từng xảy ra trước đây. Erlendur không tin vào linh cảm, điềm báo hay mơ mộng, cũng không tin vào sự đầu thai hay nghiệp chướng, ông không tin vào Chúa cho dù ông thường xuyên đọc Thánh kinh, ông cũng không tin vào cuộc sống vĩnh hằng hoặc là chuyện những việc ông làm trong thế giới này sẽ quyết định xem ông sẽ được lên thiên đàng hay bị đày vào địa ngục. Ông cảm thấy bản thân cuộc sống đã là một hỗn hợp của hai thành tố ấy.

Đôi khi ông trải qua sự ngờ ngợ khó hiểu và siêu nhiên này, trải qua những thòi gian và địa điểm như thể là ông đã chứng kiến tất cả trước đó, như thể ông bước ra khỏi cơ thể mình và trở thành một người chứng kiến cuộc đời của chính mình. Không có cách nào giúp ông giải thích được chuyện đã xảy ra như thế nào hay tại sao trí óc lại lường gạt mình theo kiểu đó.

Erlendur quay trở về thực tế khi chiếc gầu xúc đã chạm tới nắp quan tài và một tiếng “cạch” trống rỗng vang lên từ sâu trong ngôi mộ. Ông tiến gần thêm một bước. Qua làn mưa đang tầm tã trút xuống cái hố, ông lờ mờ nhìn thấy hình dạng chiếc quan tài.

“Cẩn thận!” Erlendur hét lên với người điều khiển máy đào, hai tay vung lên không khí.

Qua khóe mắt, Erlendur nhìn thấy ánh đèn pha ô tô đang tiến lại gần. Tất cả nhìn lên theo hướng ánh đèn và thấy một chiếc xe đang bò đi trong mưa rồi dừng lại ở cổng nghĩa trang. Một bà già mặc áo mưa màu xanh bước ra, họ để ý thấy chiếc xe có gắn biển taxi trên nóc. Chiếc taxi lái đi và người phụ nữ lao đến chỗ ngôi mộ. Ngay khi Erlendur nằm trong tầm nghe, bà ta bắt đầu hét lên và giơ nắm tay về phía ông.

“Đồ cướp mộ!” Elín gào lên. “Lũ cướp mộ! Lũ vồ người!”

“Giữ bà ta lại,” Erlendur điềm tĩnh nói với những người cảnh sát đang tiến về phía Elín để ngăn bà ta lại trong lúc bà ta chỉ còn cách ngôi mộ có vài mét. Người phụ nữ cố gắng chống trả trong cơn giận dữ điên cuồng, nhưng họ đã giữ chặt hai khuỷu tay và khống chế được bà.

Hai công nhân đào thuê leo xuống mộ, mang theo xẻng của mình, đào xung quanh chiếc quan tài và đặt dây thừng bên dưới nó. Chiếc quan tài còn khá nguyên vẹn. Nước mưa tràn lên nắp và rửa trôi đi đất cát dính bên trên.

Erlendur hình dung trước đây chiếc quan tài có màu trắng. Một chiếc quan tài loại tốt màu trắng với tay nắm bằng đồng và một chữ thập trên nắp. Hai người đàn ông thắt chặt sợi dây vào cái gầu của máy đào, sau đó cái máy từ từ nhấc chiếc quan tài lên mặt đất. Nó vẫn còn nguyên một khối nhưng trông có vẻ cực kỳ mỏng manh. Elín đã thôi không còn chống trả và chửi bới ông nữa. Bà bắt đầu khóc khi chiếc quan tài trắng hiện ra và im lìm treo trên sợi dây trên ngôi mộ trước khi được hạ xuống đất.

Vị mục sư tiến lại gần, làm dấu thánh lên trên đó và lầm rầm cầu nguyện. Một chiếc xe tải nhỏ chầm chậm đi lùi và dừng lại. Hai công nhân tháo sợi dây, nâng chiếc quan tài đặt lên xe tải rồi đóng cửa lại. Elínborg ngồi lên ghế trước bên cạnh người lái xe, ông ta khởi động động cơ rồi tiến qua cổng nghĩa trang, chầm chậm đi xuống đường cho đến khi chiếc đèn hậu màu đỏ biến mất trong làn mưa dày đặc.

Vị mục sư đến chỗ Elín và yêu cầu hai cảnh sát để bà ta đi. Họ thực hiện điều đó ngay lập tức. Vị linh mục hỏi xem liệu ông có thể giúp gì cho bà không. Họ biết nhau rất rõ và nói chuyện thầm với nhau. Dường như Elín đã bình tĩnh hơn. Erlendur và Sigurdur Óli nhìn nhau và nhìn xuống ngôi mộ. Nước mưa đã bắt đầu phủ kín đáy mộ.

“Tôi chỉ muốn dừng việc báng bổ ghê gớm này lại,” Erlendur nghe Elín nói với vị mục sư. Ông đã nhẹ nhõm đi một chút khi thấy Elín bình tĩnh lại. Ông đi về phía bà ta Sigurdur Olí theo ngay bên cạnh.

“Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho ông về chuyện này,” Elín nói vói Erlendur. Vị mục sư đang đứng bên cạnh bà. “Không bao giờ!”

“Tôi hiểu,” Erlendur nói, “nhưng vụ điều tra phải được ưu tiên.”

“Vụ điều tra? Chết mẹ nó cái vụ điều tra của ông đi!!!” Elín hét lên. “Các ông mang thi hài con bé đi đâu?”

“Đến Reykjavík.”

“Vậy khi nào các ông mang nó trở lại?”

“Hai ngày nữa.”

“Hãy nhìn xem các ông đã làm gì vói ngôi mộ của con bé.” Elín nói với một giọng nhẫn nhục, như thể bà vẫn chưa hiểu biết được chuyện gì đã diễn ra. Bà đi qua Erlendur đến chỗ bia đá và những gì còn lại của hàng rào, lọ hoa và lồng mộ trống hoác.

Erlendur quyết định nói cho bà ta biết về lời nhắn tìm thấy trong căn hộ của Holberg.

“Một lời nhắn được để lại trong nhà Holberg khi chúng tôi phát hiện ra ông ta,” Erlendur nói, đi theo sau Elín. “Chúng tôi không thể hiểu được gì nhiều về nó cho đến khi tìm thấy bức ảnh ngôi mộ Audur, và chúng tôi nói chuyện với bác sĩ cũ của cô bé. Những kẻ giết người Iceland thường không để lại bất cứ thứ gì ngoại trừ một mớ hỗn độn, nhưng kẻ giết Holberg lại muốn đưa cho chúng tôi một thứ gì đó để hành hạ bộ não chúng tôi. Khi ông bác sĩ ấy nói về khả năng của một bệnh di truyền, lời nhắn bỗng trở nên có một ý nghĩa nào đó. Cũng theo những gì mà Ellidi nói cho tôi biết trong tù, Holberg không có họ hàng thân thích nào còn sống. Ông ta có một người em gái đã chết năm lên chín tuổi. Anh Sigurdur Óli đây,” Erlendur nói và chỉ tay về phía đồng nghiệp của mình, “đã tìm ra những báo cáo y khoa về người em gái đó. Ellidi nói đúng. Cũng giống như Audur, cô ta chết vì bệnh u não. Rất có thể là từ cùng một bệnh.”

“Ông đang nói đến cái gì cơ? Lời nhắn để lại là gì?” Elín hỏi.

Erlendur lưỡng lự. Ông nhìn Sigurdur Óli, anh ta lúc đầu nhìn Elín rồi sau lại nhìn qua Erlendur.

“Tôi là ông ta,” Erlendur nói.

“Ý ông là sao?”

“Đó là nội dung lời nhắn: “Tôi là ông ta” vói từ cuối cùng “HIM” viết hoa.” “Tôi là ông ta,” Elín nhắc lại. “Điều đó có nghĩa là gì?”

“Thực sự rất khó nói nhưng tôi băn khoăn không biết nó có ám chỉ một mối liên hệ nào không,” Erlendur trả lời. “Người viết “Tôi là ông ta” chắc hẳn phải cảm thấy rằng mình có điểm gì đó chung với Holberg. Đó có thể là ý nghĩ kỳ quặc của một vài tên dở hơi nào đó. Hoàn toàn vô nghĩa. Nhưng tôi không nghĩ thế. Tôi nghĩ rằng căn bệnh sẽ giúp chúng ta. Chúng ta phải tìm ra chính xác căn bệnh đó là gì.”

“Loại liên hệ như thế nào?”

“Theo các ghi chép, Holberg không có con cái nào. Audur cũng không được đặt theo tên ông ta. Tên họ của cô bé là Kolbrúnardóttir. Nhưng nếu điều Ellidi nói là sự thật, rằng Holberg đã hiếp nhiều phụ nữ nữa không kể Kolbrún, những người không tố cáo, thì có thể ông ta có những đứa con khác. Rằng Kolbrún không phải là nạn nhân duy nhất có con với ông ta. Chúng tôi đã thu hẹp phạm vi tìm kiếm nạn nhân ở Húsavík vào những người phụ nữ có con trong một khoảng thòi gian nhất định và hy vọng rằng việc này sẽ sớm có kết quả.”

“Ở Húsavík sao?”

“Nạn nhân trước đó của Holberg là ở Húsavík, dường như là vậy.”

“Thế ông nói bệnh di truyền nghĩa là thế nào?” Elín hỏi. “Loại bệnh như thế nào? Đó có phải là chứng bệnh đã giết chết Audur không?”

“Chúng tôi phải xét nghiệm Holberg để khẳng định xem ông ta có phải là cha Audur không và ráp nối các dữ liệu lại. Nhưng nếu giả thuyết này là đúng, đó có thể là một loại bệnh hiếm gặp, di truyền qua gen.”

“Và Audur bị bệnh đó ư?”

“Có thể là cô bé đã chết quá lâu nên kết quả sẽ không được như mong muốn, nhưng đó là điều mà chúng tôi muốn tìm ra.”

Lúc này họ đã đi đến nhà thờ, Elín đi bên cạnh Erlendur còn Sigurdur Óli theo sau họ. Elín dẫn đường. Nhà thờ mở cửa, họ vào trong tránh mưa và đứng ở phòng chờ, nhìn ra một ngày mùa thu ảm đạm.

“Tôi nghĩ rằng Holberg là cha của Audur,” Erlendur nói. “Thực ra tôi không có lý do gì để nghi ngờ lời bà nói cũng như những gì em gái bà nói vói bà. Nhưng chúng ta cần chứng thực. Điều đó là thiết yếu đối với một cuộc điều tra. Nếu căn bệnh đó là do di truyền từ Holberg sang Audur, nó cũng có thể ở đâu đó nữa. Có thể là căn bệnh đó liên quan đến vụ giết Holberg.”

Họ đã không để ý thấy có một chiếc xe từ từ lái ra khỏi nghĩa trang, men theo con đường mòn, đèn của nó đã tắt hết, chỉ có thể thấy trong bóng tối. Khi đến Sandgerdi, nó tăng tốc, đèn trước bật lên và nhanh chóng đuổi kịp chiếc xe tải chở chiếc quan tài. Trên đường Keflavík, người lái xe phải đảm bảo chắc chắn rằng mình đi cách xe tải từ hai đến ba xe. Nhưng trên đường này, hắn bám sát chiếc xe cho đến tận Reykjavík.

Khi chiếc xe tải dừng lại ở trước nhà xác trên đường Barónsstígur, hắn đỗ lại cách xa đó rồi theo dõi chiếc quan tài được đưa vào tòa nhà và cánh cửa đóng sập ngay sau đó. Hắn theo dõi cho đến khi chiếc xe tải lái đi và thấy người phụ nữ áp tải chiếc quan tài đã lên một chiếc taxi rời nhà xác.

Khi mọi thứ đã trở lại yên lặng, hắn lái xe đi.

19

Marion Briem mở cửa cho ông. Erlendur đến mà không báo trước, ông đi thẳng từ Sandgerdi đến đây và quyết định sẽ nói chuyện với Marion trước khi về nhà. Lúc đó đã là sáu giờ chiều, trời tối đen như mực. Marion mời ông vào nhà và xin lỗi vì nhà cửa hơi bừa bộn. Đó là một căn hộ nhỏ gồm một phòng khách, một phòng ngủ, một nhà tắm và một bếp. Nó cho thấy sự cẩu thả của một người khi sống độc thân, trông chẳng khác gì căn hộ của Erlendur. Báo, tạp chí và sách vở vứt lung tung khắp nơi, thảm trải sàn rách rưới và bẩn thỉu, cốc chén bẩn xếp thành chồng trên bồn rửa bát.

Ánh sáng phát ra từ chiếc đèn bàn nỗ lực một cách yếu ớt để thắp sáng căn phòng tối tăm. Marion bảo Erlendur lấy một tờ báo trên ghế trải xuống sàn để lấy chỗ ngồi.

“Bà không nói với tôi rằng bà có liên quan đến vụ việc hồi đó,” Erlendur nói.

“Đó không phải là một trong số những thành tích nổi bật của tôi,” Marion đáp, lấy ra một điếu thuốc rê từ một cái hộp, với những ngón tay thon gầy, một nét mặt bi thương, một cái đầu lớn trên cơ thể mảnh khảnh.

Erlendur từ chối lời mời hút thuốc, ông biết rằng Marion vẫn quan tâm đến những vụ án thú vị, tìm kiếm thông tin từ đồng nghiệp - những người vẫn làm việc cho cảnh sát và thậm chí thi thoảng còn xen vào công việc của họ nữa.

“Anh muốn biết thêm về Holberg,” Marion nói.

“Cả những người bạn của ông ta nữa,” Erlendur nói và ngồi xuống sau khi đã phủi bụi ở chồng báo bên cạnh. “Và cả về Rúnar ở Keflavík nữa.”

“Phải rồi, cả về Rúnar ở Keflavík nữa,” Marion nói. “Có lần ông ta đã định giết tôi.”

“Bây giờ thì ông ta không dám nữa đâu, cái gã tàn phế già nua ấy,” Erlendur nói.

“Vậy là anh đã gặp ông ta,” Marion nói. “Ông ta bị ung thư, anh biết điều đó chứ? Vấn đề được tính bằng tuần chứ không phải tháng đâu.”

“Tôi không biết chuyện đó,” Erlendur trả lời và nhớ lại khuôn mặt gầy trơ xương của Rúnar, giọt mồ hôi rỉ nơi đầu mũi ông ta khi ông ta dọn lá trong vườn.

“Ông ta có những người bạn có thế lực khó tin ở Bộ. Đó là lý do tại sao ông ta vẫn trụ được. Tôi đã đề nghị đuổi việc, nhưng người ta lại chỉ cảnh báo ông ta.”

“Cô có nhớ gì về Kolbrún không?”

“Nạn nhân đáng thương nhất mà tôi từng gặp trong đời,” Marion trả lời.

“Tôi không biết cô ấy rõ lắm, nhưng tôi biết rằng cô ấy không thể nói dối bất cứ điều gì. Cô ấy buộc tội Holberg và kể lại việc bị Rúnar đối xử như thế nào, như ông đã biết đấy. Trong vụ của Rúnar, lời nói của cô ấy chống lại ông ta, những lời đó rất thuyết phục, ông ta đã không nên yêu cầu cô ấy quay về nhà, có quần lót hay không có quần lót. Holberg đã hiếp cô ấy. Điều đó là rõ ràng. Tôi đã để họ đối diện với nhau, Holberg và Kolbrún. Và chẳng còn nghi ngờ gì nữa.”

“Cô bắt họ phải gặp nhau?”

“Đó là một sai lầm. Tôi đã nghĩ rằng điều đó sẽ có ích. Người phụ nữ tội nghiệp ấy.”

“Như thế nào cơ?”

“Tôi dàn xếp vụ đó như một sự tình cờ. Tôi đã không nhận ra... Tôi không nên nói với anh điều này. Tôi đã bế tắc trong công tác điều tra. Cô ấy nói một đằng, Holberg nói một nẻo. Tôi gọi cả hai đến cùng một lúc và phải đảm bảo là họ sẽ gặp nhau.”

“Thế chuyện gì xảy ra?”

“Cô ấy bị kích động và chúng tôi phải gọi bác sĩ. Tôi chưa từng gặp một chuyện nào tương tự như thế trước đó và cả sau này.”

“Thế còn hắn ta?”

“Chỉ đứng đó và cười nhe răng.”

Erlendur yên lặng một lát.

“Cô có nghĩ rằng đó là con hắn ta không?”

Marion nhúc vai. “Kolbrún luôn luôn khẳng định điều đó.”

“Kolbrún có bao giờ nói chuyện với cô về một người phụ nữ khác cũng bị Holberg hiếp không?”

Erlendur nhắc lại những gì mà Ellidi đã kể với mình và nhanh chóng tóm lược toàn bộ quá trình điều tra. Marion Briem ngồi yên lặng hút thuốc và lắng nghe, bà nhìn chăm chăm vào Erlendur với cặp mắt nhỏ, tỉnh táo và sắc sảo. Chúng chưa bao giờ để lỡ điều gì. Chúng thấy một người đàn ông luống tuổi với những nếp nhăn thâm quầng dưới mắt, râu mọc lởm chởm trên má mấy ngày chưa cạo, cặp lông mày chìa ra, mái tóc vàng hoe rậm rạp chĩa ra đủ hướng, hàm răng chắc khỏe đôi lúc lộ ra dưới đôi môi xám xịt, một vẻ ngoài mệt mỏi đã từng chứng kiến tất cả những gì bẩn thỉu nhất của tội ác con người. Cặp mắt của Marion Briem bộc lộ niềm thương cảm rõ rệt và hiểu rằng chúng đang nhìn vào bản sao của chính mình.

Erlendur làm việc dưới sự hướng dẫn của Marion Briem khi ông bắt đầu làm cho Cục điều tra hình sự. Tất cả những gì ông học được trong những năm đầu tiên ấy là từ Marion Briem. Cũng giống như Erlendur, Marion chưa bao giờ là một nhân viên cao cấp và luôn luôn thực hiện các vụ điều tra thông thường nhưng lại có vốn kinh nghiệm khổng lồ. Một trí nhớ siêu phàm không bao giờ bị bào mòn dù chỉ là một chút cùng với thời gian. Tất cả những gì được nhìn và nghe thấy đều được phân loại, ghi lại và lưu trữ trong bộ não Marion, sau đó chúng được bà triệu tập lại mà không mất một chút sức lực nào khi cần thiết. Marion có thể nhớ lại những vụ án cũ với những chi tiết nhỏ nhặt nhất, bà là một nguồn thông thái về mọi khía cạnh của ngành tội phạm học ở Iceland. Những năng lực suy luận sắc bén kết hợp với một cái đầu làm việc logic.

Trong công việc, Marion Briem là một bà già mô phạm, nghiêm khắc và khó chịu quá mức, như đã có lần Erlendur nói với Eva Lind khi câu chuyện phát sinh. Một kẽ nứt sâu đã xuất hiện giữa ông và người hướng dẫn thông thái của mình trong rất nhiều năm đến mức họ hiếm khi nói với nhau một lời nào. Erlendur cảm thấy rằng theo một cách khó hiểu nào đó, ông đã làm Marion thất vọng. Chuyện ấy ngày càng trở nên rõ ràng cho đến khi người hướng dẫn của ông cuối cùng cũng về hưu, và điều này khiến ông cảm thấy thật dễ chịu.

Sau khi Marion nghỉ hưu, mối quan hệ giữa họ dường như trở nên bình thường. Căn thẳng giãn dần và sự kình địch cũng theo đó mà ít nhiều biến mất.

“Đó là lý do tại sao tôi muốn đến gặp cô để hỏi xem cô có còn nhớ gì về Holberg, Ellidi và Grétar không,” Erlendur kết thúc câu chuyện.

“Ông không trông mong việc tìm ra Grétar sau từng ấy năm à?” Marion hỏi với giọng ngạc nhiên.

Erlendur buông một ánh nhìn đầy lo ngại.

“Cô đã điều tra được tới đâu rồi?”

“Tôi chưa bao giờ điều tra đến đâu cả, đó chỉ là một nhiệm vụ bán thời gian,” Marion trả lời. Erlendur thoáng hân hoan khi nhận thấy dấu hiệu của sự hối lỗi nơi bà. “Có thể gã đã biến mất vào khoảng cuối tuần lễ hội quốc gia ở Thingvellir. Tôi đã nói chuyện với mẹ và bạn bè của gã, Ellidi và Holberg, cả những người cùng làm với gã nữa. Grétar làm công nhân bốc vác cho Eimskip. Mọi người nghĩ rằng có thể gã đã rơi xuống biển. Nếu gã ngã xuống đống hàng hóa, người ta nói rằng họ không thể không tìm thấy gã.

“Holberg và Ellidi ở đâu trong khoảng thời gian Grétar mất tích? Cô có nhớ không?

“Họ đều nói rằng mình ở lễ hội và chúng tôi có thể xác minh điều đó.

Nhưng tất nhiên thời gian chính xác mà Grétar mất tích là không rõ ràng. Không ai nhìn thấy gã trong vòng hai tuần khi mẹ gã gặp chúng tôi. Ông đang nghĩ gì vậy? Ông có hướng mới cho vụ Grétar ư?”

“Không,” Erlendur trả lời. “Và tôi không định tìm gã. Miễn là gã không bất thình lình xuất hiện và giết người bạn cũ Holberg của mình ở Nordurmýri thì gã có thể biến mất mãi mãi, tôi chả quan tâm. Tôi đang cố gắng tìm ra loại nhóm của họ, Holberg, Ellidi và Grétar ấy.”

“Bọn chúng là cặn bã thôi. Tất cả bọn chúng. Ellidi thì anh biết rồi. Grétar cũng chẳng khá hơn, có vẻ là một tên hèn nhát. Tôi đã có lần phải giải quyết vụ cướp liên quan đến gã và tôi thấy dường như đó là một khởi đầu cho sự nghiệp trộm cắp lâm ly của gã. Cả ba cùng làm cho Cơ quan quản lý Bến cảng và Hải đăng. Đó là lý do tại sao chúng lại gặp nhau. Ellidi là một kẻ tàn bạo ngu xuẩn, sẵn sàng đánh nhau bất cứ khi nào có cơ hội. Tấn công những người yếu thế hơn. Chẳng có gì thay đổi cả, tôi tin là vậy. Còn Holberg là một loại đầu sỏ. Kẻ ma mãnh nhất. Hắn thoát khỏi vụ Kolbrún một cách nhẹ nhàng. Hồi đó, khi tôi bắt đầu hỏi về hắn, người ta lưỡng lự không nói. Grétar chỉ là một kẻ nhu nhược bám theo hai tên kia, rụt rè, hèn nhát. Nhưng tôi có cảm giác đó chỉ là cái vẻ bề ngoài vậy thôi.”

“Thế Rúnar và Holberg có biết nhau trước đó không?”

“Tôi không nghĩ thế.”

“Chúng tôi vẫn chưa công bố chuyện này,” Erlendur nói, “nhưng chúng tôi tìm ra một lời nhắn trên thi thể Holberg.”

“Một lời nhắn ư?”

“Tên sát nhân viết “Tôi là ông ta” trên một mẩu giấy và để lại nó trên mình Holberg.”

“Tôi là ông ta á?”

“Không phải là nó ám chỉ rằng chúng có liên quan đến nhau sao?”

“Trừ khi đó là một kẻ mang ảo tưởng mình là Đấng cứu thế. Một kẻ cuồng tín.”

“Tôi lại cho đó là mối liên hệ họ hàng.”

““Tôi là ông ta?” Hắn nói thế là có ý gì nhỉ? Ý nghĩa của nó là gì?”

“Giá mà tôi biết được,” Erlendur nói.

Erlendurđứng lên và đội mũ, nói rằng mình phải về nhà. Marion hỏi thăm tình hình của Eva Lind, ông trả lời rằng con bé đang giải quyết việc riêng của mình. Marion tiễn ông ra đến cửa và họ bắt tay nhau. Khi Erlendur đi xuống bật cửa, Marion gọi giật lại.

“Erlendur! Chờ một chút đã, Erlendur!”

Erlendur quay lại và nhìn lên chỗ Marion đang đứng trên thềm cửa, ông nhận ra cái cách mà tuổi tác đã để lại dấu ấn lên sự tôn trọng giữa hai người, cái cách mà những tấm lưng còng xuống có thể làm giảm đi lòng tự kiêu, và cái cách một gương mặt đầy nếp nhăn phải chịu đựng một cuộc đời vất vả... Đã lâu lắm rồi ông không đến căn hộ này và trong khi ngồi đối diện với Marion, ông đã suy nghĩ về sự đối xử của thời gian với con người.

“Đừng để những gì mà anh tìm ra về vụ Holberg ảnh hưởng quá nhiều đến mình,” Marion nói. “Đừng để hắn ta giết chết bất kỳ phần nào đó của anh mà anh không muốn mất. Đừng để hắn ta chiến thắng. Thế thôi.”

Erlendurđứng dưới mưa, không biết lời khuyên này có nghĩa là gì. Marion Briem gật đầu với ông.

“Vụ cướp nào thế?”

“Vụ cướp ư?” Marion hỏi trong lúc mở lại cánh cửa.

“Vụ cướp mà Grétar thực hiện ấy. Hắn đã ăn cắp thứ gì?”

“Một hiệu ảnh. Hắn có dính líu đến ảnh,” Marion Briem trả lời. “Hắn đã chụp ảnh.”

Hai gã đàn ông, cả hai cùng mặc áo khoác da và giầy da đen thắt dây đến bắp chân, gõ cửa nhà Erlendur trong lúc ông đang gật gù trên chiếc ghế bành buổi tối hôm đó. ông đã trở về nhà, gọi Eva Lind nhưng không nhận được câu trả lời, sau đó ngồi xuống ăn phần gà được đặt trên chiếc ghế mà tối hôm trước ông đã ngủ trên đó. Hai gã đàn ông đến tìm Eva Lind. Erlendur chưa từng nhìn thấy chúng trước đây và cũng chưa gặp con gái mình kể từ hôm con bé nấu cho ông món thịt hầm. Trông chúng có vẻ độc ác khi hỏi Erlendur xem có thể gặp Eva Lind ở đâu và cố gắng nhòm vào trong nhà mà không đẩy ông qua một bên. Erlendur hỏi lý do tại sao chúng muốn gặp con gái mình nhưng chúng lại hỏi ông có giấu cô gái trong nhà không, đồ lão già bẩn thỉu. Erlendur hỏi chúng có phải đến để đòi nợ không, chúng bảo ông xéo ra, ông đuổi chúng cút đi. Chúng chửi ông là đồ ăn cứt. Khi ông chuẩn bị đóng cửa, một trong hai kẻ đó chặn đầu gối vào cánh cửa. “Con gái mày là một con điếm khốn nạn!” Hắn hét lên. Hắn mặc quần dài bằng da thuộc.

Erlendur thở dài. Đó quả thật là một ngày dài và tồi tệ.

Ông nghe thấy tiếng đầu gối tên kia kêu răng rắc khi cánh cửa đóng sầm vào nó với một sức mạnh khủng khiếp đến nỗi cái bản lề bên trên khung cửa bị long hẳn ra.

20

Sigurdur Óli đang phân vân không biết nên đặt câu hỏi như thế nào. Anh đang giữ một bản danh sách tên mười người phụ nữ từng sống ở Húsavík trước và sau năm 1960 rồi sau đó lại chuyển về Reykjavík. Hai người trong số đó đã chết. Hai người không có con. Sáu ngư ời còn lại đều làm mẹ trong giai đoạn vụ cưỡng hiếp có khả năng xảy ra. Sigurdur Óli đang trên đường đến gặp người thứ nhất. Bà ta sống ở Barmahlíd, đã li dị và có ba đứa con đã trưởng thành.

Nhưng làm thế nào để anh có thể đặt câu hỏi với những người phụ nữ trung niên này? “Xin lỗi, thưa bà, tôi là cảnh sát và tôi được đề cử đến đây để hỏi xem liệu bà có bị cưỡng hiếp ở Húsavík khi bà sống ở đó không” ư? Anh nói thử điều đó với Elínborg, cô đã có danh sách tên mười người phụ nữ ấy, nhưng cô không hiểu được vấn đề.

Sigurdur Óli coi đó là một việc làm vô ích mà Erlendur đã đề ra. Thậm chí nếu Ellidi đã nói sự thật và cả thời gian lẫn địa điểm đều trùng khớp và cuối cùng họ cùng tìm ra người phụ nữ sau một quá trình điều tra lâu dài, điều gì sẽ đảm bảo là bà ta sẽ nói tiếp về vụ hiếp dâm? Bà ta đã giữ kín chuyện đó suốt cuộc đời mình. Vậy thì sao bà ta phải nói ra chuyện đó lúc này? Tất cả những gì mà bà ta cần nói, khi Sigurdur Óli hay bất cứ thám tử nào mang theo bản danh sách như thế và đến gõ cửa nhà họ, là “không” , và anh sẽ chẳng biết nói gì hơn là “xin lỗi đã làm phiền bà”. Thậm chí nếu họ có tìm ra người phụ nữ, chẳng có gì đảm bảo rằng việc bà ta có một đứa con là kết quả của vụ cưỡng hiếp cả.

“Đó là một câu hỏi cần trả lời, anh nên sử dụng chiến thuật tâm lý,” Erlendur đã nói khi Sigurdur Óli cố gắng làm cho ông nhận ra được vấn đề. “Cố gắng vào nhà họ, ngồi xuống, uống cà phê, trò chuyện và cố gắng nói chuyện tầm phào một lúc.”

“Tâm lý!” Sigurdur Óli khịt mũi khi anh bước ra khỏi xe ở Barmahlíd và nghĩ về cô nàng sống cùng mình, Bergthóra. Anh thậm chí còn không biết cách sử dụng tâm lý như thế nào với cô ta nữa. Họ gặp nhau trong những dịp bất thường cách đây vài năm, khi mà Bergthóra là nhân chứng trong một vụ khó và sau một thời gian lãng mạn, họ quyết định dọn về sống cùng nhau. Dường như họ khá hợp nhau, có những sở thích chung và cả hai đều thích làm cho căn nhà mình đang sống trở nên đẹp đẽ với những bộ đồ nội thất và đồ nghệ thuật độc, những kẻ “yuppie”(1) đích thực. Họ luôn luôn hôn nhau mỗi khi đi làm về. Tặng nhau những món quà nhỏ, thậm chí còn mở cả một chai rượu. Thỉnh thoảng họ lên giường luôn sau khi đi làm về, nhưng gần đây chuyện đó ít xảy ra hơn.

Đó là sau khi cô tặng anh một đôi ủng cao su Fennish rất bình thường nhân dịp sinh nhật. Anh đã cố gắng cười toe toét miệng nhưng vẻ hoài nghi không tin nổi hiện lên trên mặt anh quá lâu và cô biết đã có vấn đề gì đó. Cuối cùng, khi anh mỉm cười, đó là một sai lầm.

“Bởi vì anh chẳng có đôi nào cả,” cô nói.

“Anh chưa có một đôi ủng cao su nào kể từ khi anh... mười tuổi,” anh trả lời.

“Anh không hài lòng ư?”

“Anh nghĩ rằng chúng thật tuyệt,” Sigurdur Óli đáp, biết rằng mình không trả lời vào câu hỏi. Cô cũng biết điều đó. “Không, nói một cách nghiêm túc,” anh bổ sung thêm và có thể cảm nhận được mình đang tự chôn mình vào một nấm mồ lạnh lẽo, “nó thật tuyệt vời.”

“Anh không thích chúng,” cô ủ ê.

“Chắc chắn là có mà,” anh nói, vẫn còn tràn trề thất vọng vì không thể không nghĩ đến cái đồng hồ đeo tay trị giá 30.000 króna mà anh tặng cô hôm sinh nhật. Anh đã mua nó sau một tuần săn tùng trong toàn thị trấn và bàn bạc rất nhiều với những nhà sản xuất đồng hồ về thương hiệu, kỹ thuật mạ vàng, máy móc, dây đeo, độ chống thấm nước, những đồng hồ Thụy Sĩ và đồng hồ đánh chuông. Anh đã áp dụng tất cả những kỹ năng thám tử của mình để tìm ra chiếc đồng hồ xứng đáng, cuối cùng anh cũng tìm ra và cô đã thực sự ngây ngất, niềm vui và hạnh phúc của cô là hoàn toàn thật.

Sau đó anh ngồi trước mặt cô với nụ cười đóng băng trên mặt và cố tỏ ra vui mừng quá mức, nhưng đơn giản là anh không thể làm được chuyện đó suốt cả cuộc đời mình.

“Tâm lý ư?” Sigurdur Óli khịt mũi lần nữa. Anh nhấn chuông khi đến cửa nhà người phụ nữ đầu tiên ở Barmahlíd và hỏi một cách tâm lý nhất có thể, nhưng đã thất bại thảm hại. Trước khi nhận ra điều đó, anh đã bối rối hỏi người phụ nữ xem liệu bà ta có từng bị cưỡng hiếp hay không.

“Ông đang nói cái quái gì thế?” Người phụ nữ nói, mặt đằng đằng sát khí, các ngón tay xiết chặt đầy hung dữ. “Ông là ai? Ông là cái kẻ khốn nạn nào vậy?”

“Không, xin lỗi bà,” Sigurdur Óli nói và quay ra cầu thang trong nửa giây.

Elínborg may mắn hơn, bởi vì cô tập trung tâm trí cho công việc nhiều hơn và không ngại việc nói chuyện phiếm để lấy lòng người khác. Chuyên môn của cô là nấu ăn, cô là một đầu bếp cừ khôi và có năng lực thực sự, và không gặp khó khăn nào trong việc bắt chuyện. Nếu có cơ hội, cô sẽ hỏi về mùi thơm tuyệt diệu đang tỏa ra từ bếp là cái gì và thậm chí những người chỉ sống nhờ bỏng ngô cả tuần trước cũng mời cô vào nhà.

Cô đang ngồi trong phòng khách của một căn hộ dưới tầng hầm ở Breidholt và nhấp một ngụm cà phê do một người phụ nữ đến từ Húsavík mời, bà ta mất chồng đã lâu và giờ là mẹ của hai đứa con đã trưởng thành. Tên bà ta là Siguriaug - người cuối cùng trong danh sách của Elínborg. Việc đặt ra những câu hỏi nhạy cảm khá dễ dàng với cô, và cô còn nhờ những người cô phỏng vấn tiên lạc với mình nếu họ nghe thấy bất kỳ điều gì từ những câu chuyện phiếm ở Húsavík.

“...và đó là lý do tại sao chúng tôi đang tìm một người phụ nữ tầm tuổi bà đến từ Húsavík, người mà có thể biết Holberg vào thời gian đó và thậm chí còn có một vài rắc rối với ông ta.”

“Tôi không nhớ có ai tên là Holberg ở Húsavík cả,” người phụ nữ nói. “Cô đang nói đến loại rắc rối nào cơ?”

“Holberg chỉ ở Húsavík trong một thời gian ngắn,” Elínborg nói. “Do đó bà không cần phải nhớ bất cứ điều gì về ông ta cả. Ông ta chưa bao giờ sống ở đó. Và đó là một sự tấn công về thể chất, ông ta đã tấn công một người phụ nữ trong thị trấn cách đây vài thập kỷ và chúng tôi đang cố gắng tìm ra bà ta.”

“Chắc hẳn là các cô phải có thông tin đó trong hồ sơ chứ?”

“Vụ tấn công đó chưa bao giờ được trình báo cả.”

“Loại tấn công nào cơ?”

“Cưỡng hiếp.”

Người phụ nữ đưa tay lên che miệng theo bản năng và mắt mở to hết cỡ. “Lạy Chúa tôi!” Bà ta thốt lên. “Tôi không biết gì về chuyện đó cả. Cưỡng hiếp! Lạy Chúa! Tôi chưa bao giờ từng nghe những chuyện đại loại như thế.”

“Không, dường như đố là một bí mật được giữ kín hoàn toàn,” Elínborg nói. Cô khéo léo né tránh những câu hỏi tò mò của người phụ nữ và nói về những yêu cầu sơ bộ và những lời đồn. “Tôi đang băn khoăn,” cô nói, “liệu bà có biết ai có thể biết chuyện này không?” Người phụ nữ cho cô tên của hai người phụ nữ bạn mình đến từ Húsavík và nói rằng chưa bao giờ họ để lỡ chuyện gì. Elínborg viết tên họ lại, ngồi một lúc nữa để tránh bất lịch sự, sau đó ra về.

Erlendur bị một vết cắt ở trán, sau đó ông đã dán băng keo lên. Một trong hai tên đồ tể đến nhà ông tối qua đã ra tay sau khi Erlendur đập cửa vào đầu gối hắn khiến hắn rú lên dưới sàn. Tên còn lại nhìn trân trối cho đến khi hắn hiểu ra sự tình và điều tiếp theo mà hắn nhận biết được là Erlendur đứng đối diện với hắn trên cầu thang và đẩy hắn, không một chút nao núng, xuống cầu thang.

Hắn cố gắng túm lấy thành cầu thang để không rơi xuống dưới. Hắn không muốn xử lý Erlendur, người lúc này đang đứng trên cầu thang với cái trán sung phồng, bầm tím. Hắn nhìn sang gã đi cùng mình và thấy gã đang nằm trên sàn gào rú vì đau, sau đó lại nhìn Erlendur và quyết định tránh xa ông. Hắn mới tầm hai mươi tuổi.

Erlendur gọi xe cứu thương và trong khi chờ đợi, ông hỏi xem bọn chúng muốn gì từ Eva Lind. Gã đàn ông lúc đầu hơi do dự, nhưng khi Eriendur đề nghị kiểm tra cái đầu gối của hắn, hắn bỗng trở nên nói nhiều.

Chúng là những người đi thu nợ. Eva Lind nợ tiền và ma túy của cả hai và cả một số người khác nữa mà Erlendur chưa từng nghe thấy tên.

Erlendur không giải thích về miếng cao dán với bất kỳ ai khi ông đi làm ngày hôm sau, và không ai dám hỏi ông về chuyện đó. Cánh cửa gần như đã đo ván ông khi nó đập vào chân tên đòi nợ rồi sau đó trở lại đập vào đầu ông. Trán ông vẫn còn đau, ông vẫn lo lắng về Eva Lind và trằn trọc suốt đêm hôm đó, hy vọng con gái mình sẽ quay trở về trước khi tình hình trở nên không kiểm soát nổi. Ông nán lại ở văn phòng đủ lâu để tìm ra dữ kiện Grétar có một người em gái và mẹ gã vẫn còn sống, bà ta đang ở viện dưỡng lão Grund. Như đã nói với Marion Briem, ông không chú trọng đặc biệt tìm Grétar, cũng giống như cô gái mất tích ở Gardabaer, nhưng ông nghĩ là việc biết thêm thông tin về gã cũng không có hại gì. Grétar đã ở bữa tiệc trong buổi tối mà Kolbrún bị cưỡng hiếp. Có thể hắn có nhớ chút gì về chuyện xảy ra hôm đó, một chi tiết rải rác mà hắn có thể buột miệng. Eriendur không trông mong vào việc tìm ra manh mối mới về việc mất tích của gã, Grétar có thể đã yên nghi, ông không quan tâm, nhưng ông chú ý đến những người mất tích trong một thời gian dài. Đằng sau mỗi người lại là một câu chuyện rùng rợn, nhưng trong tâm trí ông, việc người ta biến mất mà không để lại dấu vết nào hoặc không ai biết tại sao có chút gì đó thật hấp dẫn.

Mẹ của Grétar đã chín mươi tuổi và bị mù. Erlendur nói chuyện nhanh chóng với giám đốc của viện - hình như bà ta khó có thể rời mắt khỏi cái trán của ông. Bà ta nói rằng Theodóra là một trong số những người già nhất và ở đây lâu nhất, một thành viên gương mẫu của cộng đồng trong tất cả mọi mặt, được tất cả nhân viên và những người khác yêu mến thán phục.

Erlendur được dẫn đến phòng của Theodóra và được giới thiệu với bà. Bà ta ngồi trên một chiếc xe lăn, mặc một cái áo dài, bên trên phủ một chiếc chăn len, mái tóc dài màu xám của bà được tết lại và buông xuông lưng ghế. Người bà hơi cúi về đằng trước, bàn tay xương xẩu và khuôn mặt hiền từ nhân hậu. Ở đây có rất ít đồ đạc cá nhân. Một tấm hình của Tổng thống John F. Kennedy treo trên đầu giường. Erlendur ngồi vào một chiếc ghế trước mặt bà, nhìn sâu vào đôi mắt mà giờ đây không còn thấy gì nữa, và nói rằng ông muốn hỏi chuyện về Grétar. Thính giác của bà vẫn còn khá tốt, đầu óc bà vẫn còn minh mẫn. Bà không biểu lộ tí ngạc nhiên nào mà đi thẳng vào vấn đề. Erlendur có thể nhận ra là bà đến từ Skagafjordur. Bà nói với một chất giọng đặc sệt miền Bắc.

“Thằng Grétar nhà tôi không phải là một người tốt,” bà nói. “Nói thật với ông, nó là một kẻ độc ác xấu xa. Tôi không hiểu nó lấy cái tính ấy ở đâu. Một thằng xấu xa rẻ tiền. Nó giao du với những kẻ xấu, những gã lang thang và rất nhiều kẻ đê tiện khác. Các ông đã tìm thấy nó chưa?”

“Chưa,” Erlendur trả lời. “Một trong số những người bạn của anh ta bị sát hại gần đây. Holberg. Có thể bà đã nghe qua tin đó.”

“Tôi không biết, ông nói anh ta bị giết sao?”

Erlendur rất ngạc nhiên và lần đầu tiên sau một thời gian dài, ông thấy mình có lý do để mỉm cười.

“Tại nhà. Họ đã từng làm việc cùng nhau trước đây, Holberg và con trai bà ấy, tại Cơ quan quản lý Bến cảng và Hải đăng.”

“Lần cuối cùng tôi gặp Grétar - khi đó mắt tôi còn sáng - là khi nó về

nhà để gặp tôi vào cái mùa hè có diễn ra lễ hội quốc gia. Nó đã ăn cắp tiền trong ví của tôi cùng với một ít bạc. Tôi không biết chuyện đó cho đến khi nó rời đi và món tiền biến mất. Sau đó Grétar mất tích. Giống như nó cũng bị đánh cắp vậy. ông có biết ai đánh cắp nó không?”

“Không,” Erlendur trả lời. “Bà có biết anh ta đi đâu trước khi mất tích không? Anh ta giao du với ai?”

“Tôi không biết,” người phụ nữ đáp. “Tôi không bao giờ biết Grétar sẽ đi đâu. Tôi cũng đã nói với các ông hồi đó như thế.”

“Bà có biết là anh ta cũng chụp ảnh không?”

“Có. Nó chụp ảnh. Nó luôn luôn chụp ảnh. Tôi không biết tại sao. Có lần nó bảo với tôi rằng ảnh là những tấm gương phản chiếu thời gian, nhưng tôi không hiểu nó đang nói về chuyện gì.”

“Đó không phải là một vẻ trí thức ở Grétar sao?”

“Tôi chưa bao giờ nghe nó nói như vậy.”

“Địa chỉ cuối cùng của anh ta là ở Bergstadastraeti - anh ta thuê một căn phòng ở đó. Bà có biết chuyện gì xảy ra với đồ đạc của anh ta không, máy ảnh, phim, bà có biết không?”

“Có thể Klara biết đấy,” Theodóra trả lời. “Con gái tôi. Con bé dọn phòng thằng Grétar và ném đi tất cả những đồ rác rưởi, tôi nghĩ vậy.”

Erlendur dứng dậy và khuôn mặt bà hướng theo bước ông đi. ông cảm ơn bà vì sự giúp đỡ, nói rằng những lời nói của bà rất có giá trị và ông muốn khen bà vì trông bà vẫn còn khỏe mạnh và minh mẫn, nhưng lại thôi. Ông nhìn lên bức ảnh của Kennedy trên tường chỗ đầu giường bà và không kìm được câu hỏi.

“Tại sao bà lại treo ảnh Kennedy trên đầu giường?” ông hỏi và nhìn vào đôi mắt trống rỗng của bà.

“Ồ,” Theodóra thở dài, “tôi rất ngưỡng mộ ông ấy khi ông ấy còn sống.”

1. Yuppie là từ chỉ một lớp người trẻ tuổi, sống vào khoảng thập niên 1980 ở Mỹ. Họ chủ yếu sống ở thành thị, có nghề nghiệp ổn định và thích tiêu tiền cho bất cứ thứ gì mình thích.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 5

Đang tải bình luận...