Sachvui.Com-vet-bot-mau-ca-phe-sua

21

21

21

Các thi thể nằm bên cạnh nhau trên những tấm kim loại lạnh lẽo trong nhà xác ở Barónsstígur. Erlendur cố gắng không nghĩ đến cái cách ông mang hai cha con họ lại gần nhau ngay cả khi đã chết. Một cuộc khám nghiệm tử thi và các xét nghiệm đã được thực hiện trên cơ thể của Holberg, nhưng người ta còn chờ những nghiên cứu sâu hơn về các bệnh di truyền và kết quả xác minh xem ông ta có liên quan đến Audur không. Erlendur để ý thấy các ngón tay của nạn nhân có màu đen. Các dấu vân tay của ông ta được lấy sau khi ông ta chết. Cơ thể của Audur được quấn trong một tám vải màu trắng, cô bé nằm trên chiếc bàn bên cạnh Holberg.

Cô bé vẫn chưa được động đến.

Erlendur không biết vị bác sĩ pháp y và ít khi nhìn thấy ông ta. Ông ta cao, có đôi bàn tay to đeo đôi găng bằng cao su mỏng, chiếc tạp dề trắng được khoác bên ngoài chiếc áo da màu xanh, buộc lại ở sau lưng cùng chiếc quần màu xanh làm từ cùng chất liệu. Miệng ông đeo khẩu trang và đầu đội một cái mũ nhựa màu xanh, chân đi giày thể thao màu trắng.

Erlendur trước đây đã từng đến nhà xác nhiều lần và lần nào cũng cảm thấy khó chịu như nhau. Mùi chết chóc bao trùm lấy các giác quan của ông và bám chặt vào quần áo, cái thứ mùi tổng hợp của phoóc môn, chất khử trùng và cả cái mùi hôi thối khủng khiếp của những xác chết bị mổ phanh ra. Những bóng đèn huỳnh quang sáng chói được treo trên trần nhà, tỏa ra một thứ ánh sáng trắng quanh căn phòng không cửa sổ. Nền nhà lát đá trắng to và tường cũng được ốp đá một phần, nửa bên trên được sơn màu trắng. Đối diện các bức tường là những chiếc bàn với kính hiển vi và các dụng cụ nghiên cứu khác. Trên tường có rất nhiều tủ ly, một vài cái có cửa kính, để lộ ra bên trong những dụng cụ và bình lọ mà Erlendur không hiểu được. Tuy nhiên, ông hiểu chức năng của dao mổ, cái kẹp và những lưỡi cưa đặt thành một hàng ngăn nắp trên một chiếc bàn dài.

Erlendur chú ý đến một tấm thiệp thơm treo trên một bóng đèn huỳnh quang chiếu sang một trong hai chiếc bàn phẫu thuật. Nó in hình một cô gái mặc bộ bikini màu đỏ đang chạy trên bãi biển đầy cát trắng. Có một cái máy ghi âm trên bàn và vài cái băng cassette bên cạnh. Tiếng nhạc cổ điển du dương cất lên. Mahler, Erlendur nghĩ bụng. Suất ăn trưa của vị bác sĩ nằm trên cái bàn bên cạnh một trong những chiếc kính hiển vi.

“Cô ấy không còn tỏa hương thơm từ lâu rồi, nhưng cô ấy vẫn giữ được vóc dáng khá tốt,” vị bác sĩ pháp y nói và nhìn ra Erlendur - lúc này ông đang đứng bên cửa như thể đang do dự về việc bước vào căn phòng chết chóc sáng lòa.

“Sao cơ?” Erlendur hỏi lại, không thể rời mắt ra khỏi cái đống màu trắng. Có gì như một sự hân hoan trong giọng nói của viên bác sĩ mà ông không hiểu được.

“Ý tôi nói là cô gái mặc bộ bikini ấy,” ông bác sĩ vừa nói vừa gật đầu về phía tấm thiệp thơm. “Tôi phải mua một cái mới thôi. Có thể ông không bao giờ quen được với thứ mùi ở đây. Hãy cứ vào đi. Đừng sợ. Chỉ là thịt thôi mà. Ông ta vẫy cái dao trên cơ thể Holberg. Không có tâm hồn, không có sự sống, chỉ là một khối thịt chết, ông có tin vào ma quỷ không?”

“Sao cơ?” Erlendur hỏi lại.

“Ông có tin là những linh hồn đang theo dõi theo chúng ta không? Ông có cho rằng họ đang bay lơ lửng trong căn phòng này không, hay là họ đã nhập vào một cơ thể khác? Được tái sinh ấy? Ông có tin là có cuộc sống sau khi chết không?”

“Không, tôi không tin,” Erlendur trả lời.

“Người đàn ông này chết sau khi bị đập mạnh làm thủng da đầu, vỡ sọ và tổn thương đến não bộ. Theo tôi, người tấn công phải đối mặt với nạn nhân. Rất có thể họ đã nhìn vào mắt nhau. Hung thủ có thể thuận tay phải, vì vết thương nằm bên trái. Và hắn phải khá cao to, một người đàn ông trẻ hoặc trung tuổi là hợp nhất, khó có thể là phụ nữ trừ khi cô ta lao động chân tay. Cú đập đã giết ông ta chết ngay lập tức. Có thể ông ta đã nhìn thấy đường hầm và những luồng sáng chói lòa.”

“Cũng có thể là ông ta đi theo con đường khác,” Erlendur nói.

“Ừm, ruột nạn nhân gần như trống rỗng, chỉ còn một ít trứng và cà phê, trực tràng đầy. Ông ta phải chịu đựng - nếu đó không phải là một từ quá nặng nề - bệnh táo bón, không hiếm gì ở tuổi của ông ta. Không ai đến nhận xác, tôi hiểu, cho nên chúng tôi đề nghị được sử dụng nó để dạy học. Chuyện đó có ảnh hưởng gì đến ông không?”

“Vậy thì ông ta thà chết đi còn có ích hơn là sống.”

Viên bác sĩ nhìn Erlendur, rồi tiến về phía cái bàn, lấy ra một khối thịt từ một cái khay kim loại và giơ nó lên bằng một tay.

“Chẳng thể biết được là người ta tốt hay xấu,” ông nói. “Cái này có khi cũng giống như quả tim của một vị thánh mà thôi. Những cái gì mà chúng ta cần tìm ra, nếu tôi hiểu đúng ý ông, là liệu nó có bơm loại máu xấu hay không thôi.”

Erlendur nhìn đầy ngạc nhiên khi viên bác sĩ cầm quả tim của Holberg và xem xét nó. Nhìn ông ta cầm quả tim như thể không có gì có thể tự nhiên hơn trên cõi đời này.

“Đây là một trái tim khỏe,” ông ta tiếp tục. “Nó có thể làm việc tốt trong vài năm nữa, có thể giúp cho chủ nhân của nó sống hơn trăm tuổi.” Nói rồi viên bác sĩ đặt quả tim lại vào khay kim loại.

“Có một vài điều khá thú vị về Holberg, mặc dù tôi chưa khám nghiệm ông ta một cách cụ thể. Có thể ông sẽ muốn tôi làm điều đó. ông ta có nhiều triệu chứng nhẹ của một căn bệnh đặc trưng. Tôi đã tìm ra một khối u nhỏ trong não của ông ta, một khối u lành tính - có thể gây rắc rối cho ông ta một chút, và trên da ông ta còn có café au lait nữa, đặc biệt là ở đây, dưới cánh tay.”

"Café au lait ư?”

"Café au lait là thuật ngữ trong y khoa. Trông nó giống như cà phê hòa tan vậy. Ông có biết gì về nó không?”

“Không một chút nào.”

“Chắc chắn tôi sẽ tìm ra nhiều triệu chứng hơn khi xem xét nạn nhân kĩ lưỡng hơn.”

“Người ta nói về café au lait trên cơ thể cô bé. Cô bé bị bệnh u não. Ác tính. Ông có biết bệnh đó là gì không?”

“Tôi vẫn chưa thể nói gì về điều đó cả.”

“Có phải là một bệnh di truyền qua gen không?”

“Tôi không biết nữa.”

Ông bác sĩ đi đến chiếc bàn nơi Audur nằm.

“Ông đã nghe câu chuyện về Einstein chưa?” ông ta hỏi.

“Einstein ư?” Erlendur hỏi.

“Albert Einstein ấy.”

“Chuyện gì?”

“Một câu chuyện khó tin nhưng có thật. Thế còn Thomas Harvey? Chưa nghe đến tên ông ta à? Một bác sĩ pháp y ấy.”

“Chưa.”

“Ông ta tiến hành xét nghiệm khi Einstein chết,” ông bác sĩ tiếp tục. “Thật là một gã tò mò. ông ta tiến hành khám nghiệm tử thi, nhưng bởi vì đó là Einstein nên ông ta đã không kìm được và mở hộp sọ của Einstein ra để xem xét bộ não. Và ông ta còn làm nhiều hơn thế nữa. Ông ta đã ăn cắp não của Einstein.”

Erlendur không nói gì. Ông không hiểu đầu đuôi câu chuyện mà ông bác sĩ đang nói. “Ông ta mang nó về nhà. Đó là một thôi thúc kì lạ nhằm sưu tầm những gì mà chỉ ít người mới có, đặc biệt là khi nó liên quan đến những người nổi tiếng. Harvey mất việc khi vụ đánh cắp bị phát hiện và suốt nhiều năm nó trở thành một câu chuyện bí mật, một truyền thuyết thì đúng hơn. Tất cả các câu chuyện đều xoay quanh ông ta. ông ta luôn giữ bộ não trong nhà. Tôi không biết làm thế nào mà ông ta có thể làm được điều đó. Người nhà của Einstein luôn cố gắng để lấy lại bộ não từ ông ta, nhưng vô ích. Cuối cùng khi đã già rồi, ông ta quyết định trả bộ não về cho họ. Ông ta đặt nó trong cốp xe và lái xe suốt dọc nước Mỹ để về nhà của cháu Einstein ở California.”

“Chuyện đó có thật không?”

“Thật như ban ngày.”

“Tại sao ông lại nói với tôi điều này?” Erlendur hỏi.

Viên bác sĩ nhấc tấm chăn ra khỏi cơ thể của đứa bé và nhìn vào đó.

“Não của cô bé bị mất,” ông ta nói, và vẻ bình thản trên khuôn mặt ông không còn nữa.

“Sao cơ?”

“Bộ não,” ông nói, “không còn ở đúng chỗ của nó nữa.”

22

Erlendur không hiểu ngay những gì ông bác sĩ nói và nhìn ông ta như thể mình chưa nghe thấy gì. Ông không hiểu được ông bác sĩ đang nói đến chuyện gì. Trong một thoáng, ông nhìn xuống cái xác, sau đó nhìn vội lên cho đến khi ông thấy một mẩu xương từ bàn tay bé xíu thò ra bên dưới tấm khăn phủ. Ông không nghĩ là mình có thể hình dung ra hình ảnh của thứ đang nằm dưới đó. Ông không muốn biết những gì còn lại của cô bé trông như thế nào. Không muốn hình ảnh đó lại xuất hiện mỗi khi ông nghĩ về cô.

“Cô bé đã bị mổ ra trước đây,” ông bác sĩ nói.

“Bộ não mất rồi sao?” Erlendur rên rỉ.

“Có một cuộc khám nghiệm tử thi đã diễn ra.”

“Đúng, ở bệnh viện Keflavík.”

“Cô bé chết năm nào?”

“1968,” Erlendur đáp.

“Và, nếu như tôi hiểu đúng, thì Holberg là bố của cô bé, và họ không sống cùng nhau, bố mẹ của cô bé ấy?”

“Cô bé chỉ có mẹ thôi.”

“Người ta cho phép sử dụng các bộ phận của cô ấy cho mục đích nghiên cứu không?” Ông bác sĩ nói tiếp. “Ông có biết gì về chuyện đó không? Người mẹ có đồng ý không?”

“Chắc chắn là không,” Erlendur nói.

“Có thể nó được lấy đi mà không có sự cho phép của bà ta. Ai đã khám nghiệm cho cô bé sau khi cô ấy chết? Bác sĩ của cô bé là ai?”

Erlendur đọc tên Frank. Viên bác sĩ im lặng một lát.

“Tôi có thể nói là tôi hoàn toàn không quen gì với những chuyện đại loại như vậy. Những người thân đôi khi được hỏi xem liệu những bộ phận của người chết có được lấy đi nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu hay không. Tất cả đều là vì khoa học, tất nhiên là như vậy. Chúng tôi cần những thứ đó. Cả để dậy học nữa. Tôi biết có những trường hợp, khi mà, nếu không có người thân thích kế cận, một vài bộ phận sẽ được lấy đi để nghiên cứu trước khi cái xác được chôn. Nhưng tôi không biết nhiều trường hợp các cơ quan bị đánh cắp hoàn toàn trước khi người thân được hỏi ý kiến.”

“Bộ não có thể bị mất tích như thế nào?” Erlendur tiếp tục hỏi.

“Cái đầu đã bị cưa làm hai nửa và một mẩu đã bị lấy ra.”

“Không, ý tôi là ... ”

“Một công việc rất khéo léo và tinh xảo,” ông bác sĩ nói. “Phải là một người rất chuyên nghiệp trong nghề. Ông ta cắt dọc cột sống, qua cổ từ đoạn cuối ở đây và lấy bộ não ra.”

“Tôi được biết là bộ não được nghiên cứu vì có liên quan đến một khối u,” Erlendur nói. “Có phải ý ông là nó không được đặt lại?”

“Đó là một lời giải thích,” viên bác sĩ vừa nói vừa phủ lại thi thể. “Nếu họ lấy bộ não ra để nghiên cứu, họ khó có thể trả lại nó kịp với đám tang. Nó cần phải được cố định lại.”

“Cố định?”

“Để làm cho nó trở nên dễ dàng hơn cho việc nghiên cứu. Nó giống như pho-mát vậy. Não phải mất một thời gian mới cố định lại được.

“Người ta lấy một ít thôi không đủ sao?”

“Tôi không biết,” viên bác sĩ nói. “Tất cả những gì tôi biết là bộ não không còn nữa, điều này làm cho việc xác định nguyên nhân cái chết trở nên khó khăn hơn. Có thể chúng ta kiểm tra ADN trên xương, việc đó có thể nói cho chúng ta biết điều gì đó.”

Trên mặt Frank là một nỗi ngạc nhiên tột độ khi ông ta ra mở cửa và nhìn thấy Erlendur đang đứng trên bậc cửa dưới trời mưa như chút.

“Chúng tôi đã khai quật xác cô bé lên.” Erlendur nói mà không vòng vo.” Và bộ não đã biến mất. Ông có biết gì về chuyện đó không?”

“Đào cô bé lên? Bộ não?” Ông bác sĩ nói và đưa Erlendur đi về phía văn phòng của mình.” Ý ông là gì cơ, bộ não mất tích hả?”

“Như tôi đã nói. Bộ não đã bị lấy đi. Có thể là để nghiên cứu thêm về mối liên hệ của nó với nguyên nhân cái chết, nhưng người ta không trả nó lại. Ông là bác sĩ của cô bé. Ông có biết chuyện gì đã diễn ra không?”

“Tôi là bác sĩ đa khoa của cô bé, và hình như tôi đã nói với ông khi ông đến lần trước: cô bé chịu sự kiểm soát của bệnh viện Keflavík và các bác sĩ ở đó.”

“Người bác sĩ thực hiện ca phẫu thuật đã chết. Chúng tôi nhận được một bản photocopy về báo cáo xét nghiệm tử thi của ông ta, nó rất cụt lủn và chỉ đề cập đến căn bệnh u não. Nếu ông ta làm thêm xét nghiệm về nó, chẳng thấy có ghi chép gì hết. Chẳng lẽ lấy một ít làm mẫu mà cũng không đủ sao? Họ có nhất thiết phải lấy đi toàn bộ não không?”

Ông bác sĩ nhún vai. ‘Tôi không chắc.” Ông ta lưỡng lự một lát. “Các cơ quan khác có bị mất không?” Ông ta hỏi.

“Các cơ quan khác nữa ư?” Erlendur hỏi lại.

“Ngoài bộ não ra, còn gì bị lấy đi không?”

“Ý ông là gì?”

“Không có gì khác bị động chạm vào ấy?”

“Tôi không nghĩ như vậy. Bác sĩ pháp y đó không đề cập đến vấn đề nào. Ông định nói đến điều gì?”

Frank nhìn Erlendur, trầm tư. “Chắc ông chưa từng nghe qua về Jar City, phải không?”

“Jar City nào?”

“Bây giờ nó đóng cửa rồi, tôi tin thế, thực ra là cách đây không lâu. Căn phòng được gọi đến với cái tên đó. Jar City.”

“Căn phòng nào?”

“Trên lầu của Baronsstígur. Nơi mà người ta giữ các bộ phận.”

“Tiếp tục đi.”

“Chúng được bảo quản trong dung dịch phoóc môn trong các bình thủy tinh. Tất cả các bộ phận cơ thể người ở đó được lấy từ các bệnh viện. Nhằm mục đích giảng dạy trong y khoa. Chúng được bảo quản trong một căn phòng mà sinh viên y khoa gọi là Jar City. Những bộ lòng được bảo quản. Những quả tim, gan và chân tay. Cả não nữa.”

“Từ các bệnh viện ư?”

“Những người chết ở các bệnh viện ấy. Họ bị xét nghiệm tử thi. Các bộ phận được kiểm tra. Thường là các bộ phận ấy không được trả lại, một vài trong số đó được giữ lại để phục vụ cho mục đích dậy học. Và một thời chúng được lưu giữ ở Jar City.”

“Ông nói với tôi nhũng điều này để làm gì?”

“Các bộ não không nhất thiết biến mất mãi mãi. Nó có thể ở đâu đó trong Jar City. Các mẫu được bảo quản cho mục đích dậy học đều được ghi chép lại và phân loại, ví dụ như vậy. Nếu ông muốn tìm bộ não của cô bé thì vẫn còn cơ hội đấy.”

“Tôi chưa từng nghe thấy chuyện này trước đây. Các cơ quan bị lấy đi mà không có được phép hay sự đồng ý của người nhà bệnh nhân sao? Sự dàn xếp đó là như thế nào?”

Ông bác sĩ nhún vai. “Nói thật là tôi không biết. Bình thường nó phụ thuộc vào nhiều thứ. Các cơ quan nội tạng là cực kỳ quan trọng đối với việc đào tạo y khoa. Tất cả các bệnh viện của các trường Đại học có những bộ sưu tập nội tạng rất lớn. Thậm chí tôi từng nghe là một vài vị bác sĩ, những người nghiên cứu về y học, còn có những bộ sưu tập riêng của mình cơ, nhưng tôi không thể đảm bảo được điều đó.”

“Những người sưu tập nội tạng à?”

“Họ là những người như thế.”

“Chuyện gì đã xẩy ra với cái ... Jar City này? Nếu nó không còn hoạt động nữa?”

“Tôi không biết.”

“Vậy ông nghĩ rằng đó có thể là nơi cất giữ bộ não sao? Bảo quản trong phoóc môn sao?”

“Có thể lắm chứ. Tại sao ông lại cho khai quật xác cô bé lên?”

“Có thể đó là một sai lầm,” Erlendur thở dài. “Có thể cả cái vụ án này là một sai lầm lớn.”

23

Elínborg đến tìm Klara, em gái của Grétar. Việc cô tìm kiếm nạn nhân khác của Holberg, người phụ nữ Húsavík như Erlendur đã gọi, chẳng đi đến kết quả nào. Tất cả những người phụ nữ mà cô đến tìm đều phản ứng như nhau: ngạc nhiên tột độ, sau đó là tò mò, háo hức muốn biết thêm làm cho Elínborg phải sử dụng tất cả những chiêu học được trong sách để tránh đề cập đến chi tiết cụ thể của vụ án. Cô biết rằng mặc dù cô và các cảnh sát khác - những người điều tra người phụ nữ đó - có nhấn mạnh đến mấy rằng đó là một vụ rất nhạy cảm và không được nói với ai khác, điều đó cũng không thể nào ngăn những câu chuyện ngồi lê đôi mách liên miên khi màn đêm dần buông.

“Vậy bà không biết Holberg sao?” Elínborg hỏi.

“Không.”

“Hoặc là Elidir?”. Cô thêm.

“Elidi là ai?”

“Xin bà đừng bận tâm.”

“Tôi không biết Grétar giao du với ai. Khi anh ta mất tích, có một người nào đó tên là Marion liên lạc với tôi và đưa tôi đến nơi anh ta sống. Đó quả là một cái lỗ bẩn thiu. Một thứ mùi ghê tởm bốc lên trong phòng và sàn nhà thì đầy rác rưởi, có cả những cái đầu cừu đã bị ăn một nửa với cháo củ cải đã mốc meo trong căn phòng đó nữa.”

“Marion ư?” Elínborg hỏi lại. Cô làm việc cho Cục điều tra tội phạm chưa đủ lâu để có thể nhận ra cái tên đó.

“Đúng, là cái tên đó.”

“Bà có nhớ đến một chiếc máy ảnh trong số những đồ đạc của anh mình không?”

“Đó là thứ duy nhất trong căn phòng còn nguyên vẹn. Tôi mang nó về nhưng chưa bao giờ sử dụng nó cả. Cảnh sát cho rằng nó đã bị ăn cắp và tôi không ủng hộ điều đó. Tôi để nó ở nhà kho dưới tầng hầm. Cô có muốn xem qua nó không? Cô đến vì chiếc máy ảnh hả?”

“Tôi có thể xem qua nó được không?” Elínborg nói.

Klara đứng lên. Bà bảo Elínborg đợi một lát và đi vào bếp để lấy một chùm chìa khóa. Họ đi ra hành lang và xuống tầng hầm. Klara mở cửa dẫn vào nhà kho, bà bật đèn rồi tiến đến một cánh cửa và mở nó ra. Trong đó, rác rưởi cũ chồng đống khắp nơi, những cái ghế xếp và túi ngủ, dụng cụ trượt tuyết và đồ đi cắm trại. Elínborg để ý thấy có một thiết bị mat-xa chân màu xanh và một máy pha sô đa.

“Tôi để nó trong một cái hộp ở đây,” Klara nói sau khi lách qua đống rác. Bà cúi xuống nhặt lên một cái hộp bìa cứng nhỏ màu nâu. “Tôi để tất cả đồ của Grétar ở đây. Anh ta chẳng có gì ngoài cái máy ảnh đó.” Bà mở hộp và đang chuẩn bị lấy đồ ra thì Elínborg ngăn bà lại.

“Đừng lấy gì ra khỏi chiếc hộp ấy cả,” cô nói và đưa tay ra đỡ nó. “Bà không biết được những thứ trong đây có thể quan trọng với chúng tôi đến thế nào đâu,” cô nói thêm.

Klara đưa cho cô cái hộp với vẻ mặt hơi khó chịu, còn Elínborg mở nó ra. Nó đựng ba cuốn truyện trinh thám bìa mềm đã rách tả tơi, một con dao nhíp, vài đồng xu và một chiếc máy ảnh - loại máy ảnh Kodak Instamatic bỏ túi mà Elínborg nhớ nó từng là món quà Giáng sinh phổ biến nhiều năm trước đây. Đó không phải là thứ dành cho người có niềm đam mê cháy bỏng với nhiếp ảnh, nhưng chắc chắn là nó dùng được. Cô không thấy cuốn phim nào trong hộp. Erlendur đã yêu cầu cô kiểm tra kỹ xem liệu Grétar có để lại cuốn phim nào không. Cô lấy ra một cái khăn tay, xoay chiếc máy ảnh và nhận thấy bên trong chẳng còn cuốn phim nào. Trong hộp cũng chẳng có bức ảnh nào.

“Còn đây là tất cả nhũng khay và dung dịch,” Klara nói và chỉ tay vào bên trong nhà kho. “Tôi nghĩ là anh ta tự rửa ảnh. Cũng có cả những tấm giấy in ảnh nữa. Chắc hẳn là bây giờ chúng vô dụng rồi, phải không?”

“Tôi cũng muốn lấy cả cái đó nữa,” Elínborg nói và Klara lại ngụp lặn trong đống rác.

“Bà có biết liệu ông ta có giữ các cuốn phim không? Hay bà có thấy chúng ở nơi ở của ông ta không?” Elínborg hỏi.

“Không, chẳng có cái nào cả,” Klara trả lời khi bà cúi xuống để lấy những cái khay.

“Bà có biết ông ta có thể cất chúng ở đâu không?”

“Không.”

“Vậy bà có biết nội dung những bức ảnh đó là gì không?”

“Tôi nghĩ là anh ta thích nó,” Klara nói.

“Ý tôi là: bà có trông thấy bức ảnh nào không?”

“Không, anh ta chẳng bao giờ cho tôi xem gì cả. Như tôi đã nói, chúng tôi không nói chuyện nhiều. Tôi không biết những bức ảnh đó ở đâu. Grétar là một tên lang thang đáng nguyền rủa,” bà nói, không biết liệu mình có lặp lại những lời mình vứa nói hay không, rồi bà nhún vai như thể một điều thú vị thì không nên được nhắc lại một cách quá thường xuyên vậy.

“Tôi muốn mang cái hộp này đi,” Elínborg nói. “Tôi hy vọng bà chấp thuận. Tôi sẽ sớm trả lại.

“Chuyện gì đang xẩy ra thế?” Klara hỏi, lần đầu tiên bà thể hiện sự quan tâm đến yêu cầu của cảnh sát và những câu hỏi liên quan đến anh trai mình. “Cô có biết Grétar ở đâu không?”

“Không,” Elínborg nhấn mạnh, cố gắng xua tan mọi mối nghi ngờ. “Không có gì mới cả. Không có gì.”

Hai người phụ nữ đi cùng với Kolbrún vào cái đêm cô bị Holberg tấn công cũng được lưu tên lại trong hồ sơ điều tra của cảnh sát. Erlendur đã yêu cầu điều tra về họ. Hóa ra cả hai cùng đến từ Keflavík, nhưng không ai còn sống ở đó nữa. Một trong hai người đã kết hôn với một người Mỹ ở căn cứ quân sự NATO không lâu sau khi vụ cưỡng hiếp xảy ra và bây giờ đang sống tại Mỹ. Người còn lại đã chuyển từ Keflavík đến Stykkishólmur năm năm sau. Bà ta vẫn đăng ký sống tại đó. Erlendur băn khoăn liệu ông có nên mất cả ngày trời vào một chuyến đi miền Tây đến Stykkishólmur không, hay chỉ cần gọi điện và hy vọng rằng như thế là đủ.

Tiếng anh của Erlendur hơi kém nên ông nhờ Sigurdur Óli xác định nơi ở của người phụ nữ đang sống ở Mỹ. Anh nói chuyện với người chồng. Bà ta đã chết cách đây mười lăm năm vì bệnh ung thư và được chôn cất ở Mỹ. Erlendur gọi đến Stykkishólmur và dễ dàng liên lạc được với người phụ nữ thứ hai. Đầu tiên ông gọi đến nhà bà ta và được báo là bà ta đang đi làm. Đó là một y tá ở bệnh viện Stykkishólmur.

Người phụ nữ nghe các câu hỏi của Erlendur nhung nói rằng thật không may là bà ta không giúp gì được cho ông. Ngày đó bà đã không giúp ích được gì cho cảnh sát và bây giờ cũng vậy.

“Holberg đã bị giết,” Erlendur nói, “và chúng tôi nghĩ rằng nó liên quan đến vụ việc này.”

“Tôi đã nghe tin tức về vụ đó,” giọng nói trên điện thoại trả lời. Tên của bà ta là Agnes và Erlendur cố gắng hình dung bà ta qua giọng nói. Đầu tiên ông hình dung ra một người phụ nữ kiên định và có năng lực ở độ tuổi sáu mươi, một người béo ú bởi bà ta hay bị hết hơi. Nhưng rồi ông lại nghe thấy bà ho khan vì khói và Agnes hiện ra với một hình ảnh khác trong đầu ông: gầy như que củi, da nhăn nheo vàng vọt. Tiếng ho của bà ta nghe thật khó chịu và rời rạc, cứ chốc chốc lại ho một lần.

“Bà có nhớ cái đêm đó ở Keflavík không?” Erlendur hỏi.

“Tôi về nhà trước họ,” Agnes trả lời.

“Có ba người đàn ông đi cùng các bà.”

“Tôi về cùng với một người đàn ông tên là Grétar. Hồi đó, tôi đã nói với cảnh sát như vậy. Tôi cảm thấy nói về chuyện đó thật khó chịu.”

“Bây giờ tôi mới biết là bà đi về cùng Grétar,” Erlendur nói trong lúc lật nhanh các báo cáo trước mặt.

“Tôi đã nói với họ khi họ hỏi tôi những câu hỏi thế này ngày đó.” Bà ta lại ho nhưng cố gắng chỉ để Erlendur nghe thấy tiếng khàn khàn trong cổ họng. “Xin lỗi. Tôi không thể nào từ bỏ được những điếu thuốc lá chết tiệt này. Ông ta có vẻ như là một kẻ thất bại. Cái gã Grétar ấy. Sau đó tôi không bao giờ gặp ông ta nữa.”

“Bà và Kolbrún quen biết nhau như thế nào?”

“Chúng tôi từng làm việc cùng nhau. Đó là thời gian trước khi tôi học làm y tá. Chúng tôi làm việc trong một cửa hang ở Keflavík, nó đã đóng cửa lâu rồi. Đó là lần đầu tiên và duy nhất chúng tôi đi chơi với nhau. Điều này có thể thông cảm được.”

“Bà có tin Kolbrún khi cô ta nói về vụ hiếp dâm không?”

“Tôi không biết gì về vụ đó cho đến khi bất thình lình cảnh sát đến nhà tôi và bắt đầu tra hỏi về cái đêm đó. Không khi nào cô ấy lại nói dối về một chuyện như vậy. Kolbrún rất đứng đắn, hoàn toàn thành thật về mọi điều mà cô ấy từng làm, mặc dù có lẽ cô ấy hơi nhu nhược. Yếu ớt và mỏng manh. Không có cá tính mạnh mẽ. Đó là một chuyện quá kinh khủng để có thể nói ra nhưng cô ấy không thuộc tuýp người thích đùa, nếu ông hiểu đúng ý tôi. Không có nhiều chuyện xảy ra xung quanh cô ấy lắm.”

Agnes dừng lại và Erlendur chờ bà ta nói tiếp.

“Cô ấy không thích đi chơi và thực tình tôi đã phải phỉnh phờ mãi cô ấy mới chịu đi với tôi và Helga tối hôm đó. Helga đã sang Mỹ nhưng đã chết cách đây nhiều năm, có thể ông biết điều đó. Kolbrún rất dè dặt và cô đơn nên tôi muốn làm điều gì đó cho cô ấy. Cô ấy đồng ý đến vũ trường, sau đó đi cùng chúng tôi đến nhà của Helga, nhưng một lúc sau cô ấy lại muốn về nhà. Tôi về trước cô ấy nên tôi không thực sự biết có chuyện gì đã xảy ra ở đó. Kolbrún không đi làm vào ngày thứ Hai và tôi nhớ là đã gọi điện cho cô ấy, nhưng cô ấy không trả lời. Vài ngày sau cảnh sát đến gặp tôi để hỏi về Kolbrún. Tôi không biết nên nghĩ thế nào nữa. Tôi không thấy điều gì bất thường ở Holberg. Ông ta là một người khá hấp dẫn nếu như tôi nhớ đúng. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy cảnh sát hỏi về vụ cưỡng hiếp.”

“Rõ ràng là ông ta đã tạo được một ấn tượng tốt,” Erlendur nhận xét. “Một người đàn ông của các quý bà, tôi nghĩ là ông ta được miêu tả như vậy.”

“Tôi nhớ là ông ta có đến cửa hàng.”

“Ông ta? Holberg á?”

“Phải, là Holberg. Tôi nghĩ đó là lý do tại sao họ ngồi xuống với chúng tôi buổi tối hôm đó. Ông ta nói rằng mình là một kế toán viên đến từ Reykjavík, nhưng đó là một lời nói dối phải không?”

“Tất cả bọn họ đều làm ở Cơ quan quản lý Bến cảng và Hải đăng. Đó là loại cửa hàng gì?”

“Một cửa hàng chuyên dụng. Chúng tôi bán đồ của phụ nữ. Cả đồ lót nữa.”

“Và ông ta đã đến cửa hàng?”

“Phải. Ngày hôm trước ấy. Ngày thứ Sáu. Hồi đó tôi cứ phải kể đi kể lại chuyện này nên tôi nhớ rất rõ. Ông ta nói rằng mình đang cần tìm một vài thứ đồ gì đó cho vợ mình. Tôi phục vụ ông ta và khi chung tôi gặp nhau tại vũ trường, ông ta cư xử cứ như thể chúng tôi đã quen nhau từ trước ấy.”

“Bà có liên hệ với Kolbrún sau khi sự việc xảy ra không? Bà có nói chuyện với cô ấy về những gì đã xảy ra không?”

“Kolbrún không bao giờ quay trở lại cửa hàng nữa, và như tôi đã nói, tôi khồng biết có chuyện gì xảy ra cho đến khi cảnh sát đến chất vấn tôi. Tôi cũng không hiểu rõ cô ấy lắm. Tôi cố gắng gọi điện đến nhà cô ấy một vài lần khi thấy cô ấy không đi làm nhưng đều không gặp. Tôi không muốn xen vào quá nhiều. Cô ấy luôn như vậy. Bí hiểm. Sau đó chị gái cô ấy đến và nói rằng Kolbrún đã thôi việc. Tôi nghe nói mấy năm sau cô ấy mất. Hồi đó tôi đã chuyển đến Stykkishólmur. Đó là một vụ tự vẫn phải không?”

“Cô ấy đã chết,” Erlendur đáp, và lịch sự cảm ơn bà ta vì đã tiếp chuyện ông.

Erlendur nhớ về một người có tên là Sveinn, ông từng đọc được câu chuyện về ông ta. Người này sống sót sau một cơn bão ở Mosfellsheidi. Cái chết của những người đồng hành cùng Sveinn dường như chẳng có chút ảnh hưởng nào đến ông ta. Ông ta được trang bị tốt nhất trong số những người du lịch và là người duy nhất quay trở về an toàn và khỏe mạnh. Điều đầu tiên ông ta làm sau khi được người ta chăm sóc tại một trang trại gần nhất là đeo ván trượt tuyết lên và làm mọi người ngạc nhiên bằng cách trượt trên một chiếc hồ gần đó.

Trong lúc ấy, những người đi cùng ông ta đang bị đóng băng đến chết.

Kể từ lúc đó, ông không bao giờ gọi Sveinn bằng một cái tên nào khác ngoài “kẻ vô lương tâm.”

24

Việc tìm kiếm người phụ nữ ở Húsavík vẫn chưa đi đến đâu khi buổi tối Sigurdur Óli và Elínborg ngồi tại văn phòng của Erlendur để bàn công chuyện trước khi họ về nhà. Sigurdur Óli nói rằng anh ta không hề ngạc nhiên khi họ sẽ không bao giờ tìm ra người phụ nữ theo kiểu này. Khi Erlendur hỏi một cách cáu kỉnh rằng anh ta có biết phương pháp nào tốt hơn không, anh ta lắc đầu. “Tôi không có cảm giác là chúng ta đang tìm ra kẻ giết Holberg,” Elínborg nói, nhìn chằm chằm vào Erlendur. “Như thể là chúng ta đang tìm thứ gì đó hoàn toàn khác và tôi không biết đó là cái gì. Ông đã cho đào mộ cô bé và tôi không hiểu lý do tại sao. Ông bắt đầu đi tìm người phụ nữ bị mất tích cách đây cả một thế hệ và tôi chẳng thấy điều đó có liên quan gì đến vụ án. Chúng ta không tự đặt ra cho mình một câu hỏi rõ ràng: hung thủ có liên quan đến Holberg hay là một người hoàn toàn xa lạ, một người đã đột nhập vào nhà ông ta nhằm ăn trộm? Cá nhân tôi nghĩ rằng đó là lời giải thích hợp lý nhất. Tôi nghĩ chúng ta nên tiến hành điều tra về kẻ đó. Một vài tên nghiện ma túy, mặc đồ quân đội màu xanh. Chúng ta vẫn chưa làm gì liên quan đến điều đó cả.”

“Có thể đó là một người nào đó mà Holberg phải trả phí dịch vụ,” Sigurdur Óli nói. “Với tất cả những thứ khiêu dâm đó trong máy tính của ông ta, có khả năng lớn là ông ta phải trả tiền cho chúng.”

Erlendur lặng lẽ ngồi nghe những lời chỉ trích và nhìn chằm chằm vào vạt áo. Ông biết rằng hầu hết những gì Elínborg nói là đúng. Có thể phán đoán của ông đã bị bóp méo bởi nỗi lo về Eva Lind, ông không biết con bé đang ở đâu, không biết tình trạng nó bây giờ ra sao, con bé đang bị săn lùng bởi những kẻ muốn hãm hại nó còn ông thì bất lực trong việc bảo vệ nó. Ông không nói với Sigurdur Óli hay Elínborg về những gì ông nghe được từ bác sĩ pháp y.

“Chúng ta có lời nhắn,” ông nói. “Không phải là ngẫu nhiên khi chúng ta tìm thấy nó cùng với tử thi.”

Cánh cửa bất ngờ bật mở và đội trưởng đội pháp y ngó vào.

“Tôi chuẩn bị đi đây,” ông ta nói. “Tôi chỉ muốn ông biết rằng họ vẫn đang kiểm tra cái máy ảnh và họ sẽ gọi ông ngay khi thấy có điều gì đó đáng lưu ý.”

Ông ta đóng cánh cửa mà không nói lời chào tạm biệt.

“Có lẽ chúng ta không thể trồng cây mà đoán rừng,” Erlendur nói. “Có lẽ có một giải pháp cực kỳ đơn giản cho cả mớ bòng bong này. Có thể đó chỉ là một gã dở hơi nào đó. Nhưng cũng có thể, và tôi nghĩ đây là khả năng cao nhất, tên sát nhân có những nguyên nhân sâu xa hơn là chúng ta tưởng. Chẳng có điều gì đơn giản ở đây cả. Có thể lời giải thích nằm ở tính cách của Holberg và những gì hắn đã làm trong quá khứ.”

Erlendur dừng lại.

“Và lời nhắn,” ông tiếp. “ “Tôi là ông ta.” Các anh muốn làm gì với nó?”

“Đó có thể là từ một “người bạn”,” Sigurdur Óli nói, lấy ngón tay ra dấu ngoặc kép. “Hoặc là một người cùng chỗ làm. Chúng ta vẫn chưa đào sâu vào những lĩnh vực ấy. Nói thật là tôi không biết toàn bộ quá trình điều tra người phụ nữ này sẽ dẫn chúng ta đến đâu. Tôi không biết cách nào để hỏi xem liệu họ có bị cưỡng hiếp mà không bị họ lấy trục cán phang vào đầu.”

“Và có phải là Ellidi chưa từng nói dối lần nào trong đời đâu?” Elínborg nói. “Đó không phải chính xác là những gì hắn muốn hay sao, biến chúng ta trở thành lũ ngốc ấy? Ông đã nghĩ đến chuyện đó chưa?”

“Nào, thôi nào,” Erlendur nói như thể ông không muốn nghe thêm lời cằn nhằn nữa. “Quá trình điều tra đã dẫn chúng ta đi theo hướng này. Có thể là chúng ta sẽ sai nếu không điều tra những manh mối mà chúng ta có, bất kể là chúng đến từ đâu. Tôi biết rằng các vụ mưu sát ở Iceland không phức tạp, nhưng có điều gì đó trong vụ này không phải là ngẫu nhiên. Tôi không nghĩ đó là một hành động tàn bạo thiếu lý trí.”

Chiếc điện thoại trên bàn Erlendur đổ chuông, ông nhấc máy, nghe một lát rồi gật đầu và nói cảm ơn trước khi gác máy. Mối nghi ngờ của ông đã được xác thực.

“Là đội pháp y,” ông vừa nói vừa nhìn Sigurdur Óli và Elínborg. “Chiếc máy ảnh của Grétar cũng là chiếc máy chụp bức ảnh ngôi mộ Audur trong nghĩa trang. Chúng tôi đã dùng nó để chụp ảnh và những vết xước tương tự xuất hiện. Do vật giờ chúng ta đã biết ít nhất có một khả năng lớn là Grétar chụp bức ảnh đó. Có thể là ai đó đã sử dụng máy ảnh của gã, nhưng khả năng kia lớn hơn rất nhiều.”

“Vậy điều đó nói lên cái gì?” Sigurdur Óli hỏi trong lúc liếc đồng hồ. Anh đã mời Bergthóra ra ngoài ăn tối và định bụng sẽ làm lành sau sự vụng về của mình hôm sinh nhật.

“Ví dụ như, nó nói với chúng ta rằng Grétar biết Audur là con gái của Holberg. Không có nhiều người biết điều đó đâu. Và nó cũng nói lên rằng Grétar đã có những lý do đặc biệt: 1, để xác định vị trí ngôi mộ; 2, để chụp một bức ảnh về nó. Gã làm thế có phải là vì Holberg yêu cầu không? Hay làm thế để chọc tức Holberg? Liệu sự mất tích của Grétar có liên quan đến bức ảnh không? Nếu đúng thế thì là thế nào? Grétar muốn gì với bức ảnh đó? Tại sao nó lại được giấu trong bàn của Holberg? Loại người nào lại chụp ảnh mộ của trẻ em cơ chứ?”

Elínborg và Sigurdur Óli ngồi nghe Erlendur đặt ra những câu hỏi. Họ để ý thấy ông chuyển sang gần như thì thầm. Dường như ông không còn nói chuyện với họ nữa, mà đã thu vào bản thân mình, lơ đãng và lãnh đạm. Ông đưa tay lên ngực và xoa xoa nó theo bản năng, rõ ràng là ông không nhận thức được mình đang làm gì nữa. Họ nhìn nhau nhưng không ai dám hỏi.

“Loại người nào lại chụp ảnh mộ của trẻ em nhỉ?” Erlendur hỏi lại.

Tối hôm đó Erlendur tìm ra kẻ đã cử hai tên đi đòi nợ Eva Lind, ông nhận được thông tin từ đội phòng chống ma túy, họ có một tập hô sơ khá dày về hắn và phát hiện ra rằng hắn thường đến một quán rượu có tên là Napoleon ở trung tâm thành phố. Erlendur đến đó và ngồi xuống đối diện với hắn. Tên hắn là Eddi, khoảng bốn mươi tuổi, béo và hói. Mấy cái răng còn lại của hắn đã ố vàng.

“Ông đã hy vọng là Eva Lind sẽ được đối đãi đặc biệt vì ông là cớm phải không?” Eddi hỏi khi Erlendur ngồi xuống chỗ hắn. Dường như hắn nhận ra Erlendur là ai ngay mặc dù họ chưa từng gặp mặt trước đây. Erlendur có cảm giác là hắn đang chờ mình.

“Anh đã tìm ra nó chưa?” Erlendur hỏi và nhìn quanh căn phòng tối om, thấy rất nhiều kẻ bất hạnh đang ngồi quanh các bàn và phác ra những cử chỉ thô tục. Bất thình lình cái tên quán rượu chợt trở nên quan trọng trong đầu ông.

“Ông biết rằng tôi là bạn của cô ta,” Eddi nói. “Tôi cho cô ta cái mà cô ta muốn. Thỉnh thoảng cô ta có trả tiền tôi. Đôi khi cô ta làm lơ đi quá lâu. Cái gã với đầu gối đau có lời hỏi thăm ông đấy.”

“Anh ta là tay chân của anh mà.”

“Thật khó để có thể tìm được những người tâm phúc,” Eddi nói và chỉ quanh phòng.

“Nợ bao nhiêu?”

“Eva á? Hai trăm ngàn. Và cô ta không chỉ nợ tôi đâu.”

“Chúng ta thỏa thuận được không?”

“Nếu ông muốn.” Erlendur lấy ra 20.000 cua-ron mà ông vừa rút từ một cây rút tiền trên đường đến đây, rồi đặt nó lên bàn. Eddi lấy món tiền đó, đếm lại cẩn thận và nhét vào túi.

“Tôi có thể để ông trả thêm sau khoảng một tuần nữa.”

“Tuyệt đấy.”

Eddi nhìn Erlendur dò xét.

“Tôi nghĩ rằng ông sắp phải cảm ơn tôi đấy,” Eddi nói.

“Vì cái gì chứ?” Erlendur hỏi.

“Tôi biết con gái ông đang ở đâu,” Eddi nói, “nhưng ông sẽ không bao giờ có thể cứu Eva đâu.”

Erlendur tìm ngôi nhà. ông đã từng vào kiểu nhà như này trong một vụ tương tự. Eva Lind nằm trên một chiếc nệm trong một ngôi nhà nhỏ, xung quanh con bé còn có những người khác nữa. Một vài người ngang tầm tuổi nó, rất nhiều người khác hơn tuổi. Ngôi nhà mở cửa và chướng ngại vật duy nhất là một gã trai chừng hai mươi tuổi. Hắn gặp ông ở cửa và vẫy tay trước mặt ông. Erlendur đẩy hắn vào tường rồi ném ra ngoài. Một bóng đèn trần trụi treo trên trần một trong những căn phòng ở đó. Ông cúi xuống chỗ Eva Lind và cố gắng đánh thức con bé. Hơi thở con bé đều đều và bình thường, nhịp tim hơi nhanh, ông lắc nó dậy rồi tát nhẹ vào má và ngay lập tức Eva Lind mở mắt.

“Bố,” con bé nói, và mắt nó lại nhắm nghiền. Erlendur nhấc con gái lên và đưa nó ra khỏi căn phòng, cố gắng cẩn thận để không dẫm phải những thân thể nằm bất động trên sàn nhà. ông không thể biết được là họ còn thức hay đã ngủ. Eva Lind lại mở mắt ra.

“Cô ấy đang ở đây,” con bé thì thào, nhưng Erlendur không biết con bé đang nói về chuyện gì nên cứ tiếp tục bế nó ra xe. Ông muốn đưa con ra khỏi đây càng sớm càng tốt. Ông đặt con gái xuống đất để mở cửa xe và nó phải dựa vào ông.

“Bố đã tìm ra cô ta chưa?” Eva hỏi.

“Tìm ra ai cơ? Con đang nói về chuyện gì?” ông đặt con nằm trên ghế đầu, thắt dây an toàn, ngồi vào ghế lái và chuẩn bị cho xe chạy.

“Cô ta đi với bố à?” Eva Lind hỏi mà không mở mắt.

“Chết tiệt, ai mới được cơ chứ?” Erlendur quát lên.

“Cô dâu,” Eva Lind đáp, “cái cô nàng ở Gardabaer ấy. Con đã nằm cạnh cô ta.”

25

Cuối cùng Erlendur cũng bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại. Nó cứ dội vào đầu ông cho đến khi ông mở mắt và tìm xung quanh, ông đã ngủ trên ghế bành trong phòng khách. Áo choàng và mũ vứt bừa trên chiếc ghế sô pha. Trong nhà vẫn còn rất tối. Erlendur chậm chạp đứng lên và băn khoăn không biết mình có nên mặc bộ này thêm ngày nữa không. Ông không nhớ lần cuối cùng mình thay quần áo là khi nào nữa. Ông nhìn vào phòng ngủ trước khi nghe điện thoại và thấy hai cô gái nằm trên giường ngủ của ông - nơi mà ông đã đặt chúng vào nằm tối hôm qua. Ông kéo cánh cửa lại.

“Những dấu tay trên chiếc máy ảnh giống với những dấu trên tấm ảnh,” Sigurdur Óli nói khi cuối cùng Erlendur cũng trả lời điện thoại. Anh ta phải nhắc lại câu đó thêm hai lần nữa Erlendur mới hiểu ra anh ta đang nói về cái gì.

“Ý anh là vân tay của Grétar ư?”

“Phải. Grétar.”

“Và dấu vân tay của Holberg cũng ở trên tấm ảnh chứ?” Erlendur hỏi. “Thế là thế quái nào nhỉ?”

“Có Chúa mới biết được,” Sigurdur Óli đáp.

“Sao cơ?”

“Không có gì. Vậy là Grétar chụp bức ảnh đó. Chúng ta có thể khẳng định điều đó. Gã đưa nó cho Holberg hoặc Holberg đã tìm thấy nó. Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục tìm người phụ nữ Húsavík chứ?” Sigurdur Óli hỏi.

“Ông không có chỉ dẫn gì thêm chứ?”

“Phải,” Erlendur đáp. “Và không.”

“Tôi đang trên đường đến Grafarvogur. Chúng tôi đã điều tra gần hết những người phụ nữ ở Reykjavík. Chúng ta sẽ cử ai đó đến Húsavík sau khi xong việc ở đây chứ?”

“Phải,” Erlendur đáp và gác máy.

Eva Lind đang ở trong bếp. Con bé bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại. Nó vẫn mặc quần áo, giống như cô gái đến từ Gardabaer. Erlendur đã quay trở lại ngôi nhà đó, mang cô ta đi và chở cả hai đến nhà mình.

Eva Lind lặng lẽ đi vào nhà vệ sinh và Erlendur nghe thấy con bé nôn thốc nôn tháo, ông đi vào bếp pha một ít cà phê thật đặc, đó là giải pháp duy nhất mà ông biết trong tình cảnh này. Ông ngồi xuống bàn ăn và chờ con gái bước ra. Một lúc sau, ông đổ ra hai cốc. Cuối cùng Eva Lind cũng đi ra. Nó đã rửa mặt. Erlendur nghĩ rằng trông con bé thật khủng khiếp. Thân hình gầy nhằng, chỉ là xương ráp lại với nhau.

“Con biết đôi lúc cô ta đã dùng ma túy,” Eva Lind nói bằng giọng khàn khàn khi ngồi xuống với bố, “nhưng con chỉ tình cờ gặp cô ta thôi.”

“Có chuyện gì xảy ra với con vậy?” Erlendur hỏi.

Cô gái nhìn cha.

“Con đang cố,” con bé nói, “nhưng khó lắm.”

“Có hai gã đến tìm con. Lối ăn nói thật tục tĩu. Bố đã đưa một ít tiền con còn nợ cho một kẻ tên là Eddi. Hắn đã nói cho bố biết ngôi nhà đó ở đâu.”

“Eddi thì được.”

“Con còn cố gắng nữa không?”

“Con có nên từ bỏ nó không?” Eva Lind lại nhìn chăm chăm xuống sàn nhà.

“Bố không biết.”

“Con rất sợ là con đã làm hỏng nó.”

“Có khi con đang cố tình làm thế đấy.”

Eva Lind nhìn lên bố mình.

“Bố thật đáng khinh,” cô nói.

“Bố ư!”

“Phải, bố đấy.”

“Bố nên nghĩ như thế nào? Nói cho bố biết đi!” Erlendur quát lên. “Con có thể thôi tự than thân trách phận đi không? Đôi lúc con chỉ là một kẻ thất bại chết tiệt thôi Eva ạ! Con có cảm thấy thực sự tốt đẹp với cái lũ đó đến nỗi con không còn nghĩ ra được cái gì tốt hơn cho mình không? Con có quyền gì mà đối xử với cuộc đời mình như vậy? Con có thực sự nghĩ rằng mọi thứ với con thật tồi tệ không? Con có thực sự nghĩ rằng không ai trên thế gian này cảm thấy tồi tệ bằng con không? Bố đang điều tra về cái chết của một cô bé chưa đầy năm tuổi. Cô bé ấy bị ốm và đã chết. Có điều gì đó không ai hiểu được đã tàn phá và giết chết cô bé. Quan tài của cô bé ấy chỉ dài có một mét thôi. Con có nghe thấy bố đang nói gì không? Con có quyền gì mà sống? Nói cho bố biết đi!!!”

Erlendur đang quát tháo ầm lên. Ông đứng dậy và nện mạnh xuống bàn ăn đến mức những chiếc cốc đã bắt đầu nảy lên, và khi ông thấy điều đó, ông cầm lấy một cái và ném nó vào bức tường đằng sau Eva Lind. Cơn thịnh nộ của ông bùng lên và trong một thoáng ông trở nên mất kiểm soát, ông lật đổ cái bàn, gạt phăng mọi thứ trên mặt bàn, ly cốc và ấm trà văng vào tường và rơi xuống đất. Eva Lind ngồi yên trên ghế, nhìn bố nổi cáu và mắt ngân ngấn nước.

Cuối cùng cơn giận dữ của Erlendur cũng qua đi, ông quay sang Eva Lind và thấy đôi vai con bé đang rung lên, hai bàn tay bưng lấy mặt. Ông nhìn con gái, tóc tai bẩn thỉu, cánh tay gầy guộc, cả tay còn gầy hơn cả ngón tay, da bọc xương, và người thì run lẩy bẩy. Con bé đi chân trần và cáu ghét bám đầy móng tay móng chân nó. Ông đến bên con và cố gắng kéo tay nó ra khỏi mặt, nhưng nó không để ông làm thế, ông muốn xin lỗi con, muốn ôm con trong vòng tay, nhưng rồi lại thôi.

Thay vào đó ông ngồi xuống sàn nhà bên cạnh con gái. Chuông điện thoại lại reo nhưng ông không nghe. Cô gái trong phòng ngủ củng không thấy có động tĩnh gì. Điện thoại ngừng reo và căn hộ lại chìm trong yên lặng. Âm thanh duy nhất là tiếng Eva Lind đang thổn thức. Erlendur biết rằng mình không phải là một người cha mẫu mực, và những lời ông vừa nói cũng chẳng khác nào hướng vào chính bản thân mình. Có thể ông nói cho mình nghe cũng nhiều và tức giận với bản thân cũng nhiều như với Eva Lind.

Một nhà tâm lý học sẽ nói rằng ông đang trút nỗi tức giận của mình lên con gái. Nhưng có lẽ những lời ông nói đã có chút tác dụng, ông chưa từng thấy Eva Lind khóc bao giờ. Từ khi nó còn là một đứa trẻ. ông bỏ rơi con bé khi nó mới lên hai tuổi.

Cuối cùng con bé cũng bỏ tay ra, sụt sịt và lau nước mắt.

“Đó là bố của cô ta,” cô nói.

“Bố cô ta ư?”

“Hắn là một con quỷ,” Eva Lind nói. “Ông ta là một con quỷ. Tôi đã làm gì thế này?” Kẻ đó là bố cô ta. Lão ta đã bắt đầu sờ mó cô ta khi vú cô ta mới bắt đầu phát triển và cứ lấn tới, lấn tới hơn nữa. Thậm chí lão ta không thể rời tay ra khỏi cô ta ngay cả trong đám cưới. Lão già đưa cô ta ra một chỗ vắng người và nói rằng trông cô ta thật gợi tình trong bộ váy cưới và lão không thể kiềm chế được mình, không thể chịu đựng được việc cô ta sắp rời xa mình. Lão ta bắt đầu xúi giục con gái. Cô ta mê đi.”

“Tên khốn!” Erlendur rên rỉ.

“Con biết là cô ta đã chơi ma túy mấy lần. Cô ta từng nhờ con chích hộ. Cô ta hoàn toàn trắng tay và rồi đến gặp Eddi. Cô ta đã nằm trong cái nơi rác

rưởi ấy từ hồi đó.”

Eva Lind dừng lại. “Con nghĩ là mẹ cô ta biết điều đó,” sau đó cô nói tiếp. “Nhưng cả ngày bà ta chẳng làm gì cả. Ngôi nhà quá hào nhoáng. Có quá nhiều ô tô.”

“Cô ấy không muốn đến gặp cảnh sát à?”

“Ôi chà chà!”

“Sao cơ?”

“Trải qua những chuyện khốn nạn như thế để rồi bị tù ba tháng nếu có ai đó tin cô ta ư? Thôi nào!”

“Cô ấy định sẽ làm gì?”

“Về với anh chàng đó thôi. Anh chồng cô ta ấy. Con nghĩ là cô ta thích hắn.”

“Cô ấy có tự trách mình không?”

“Cô ta không biết nên nghĩ gì nữa.”

“Bởi vì cô ấy đã viết “Tôi đã làm gì thế này?” Có lẽ là cô ấy tự trách mắng mình.”

“Chẳng có gì ngạc nhiên khi cô ta cũng có phần hư hỏng.”

“Dường như những kẻ hư hỏng lại là những kẻ hạnh phúc nhất. Cười vào mặt cả thế giới như thế không gì có thể gặm nhấm lương tâm của chúng

được.”

“Đừng có nói với con như thế một lần nữa,” Eva Lind nói. “Đừng có nói với con cái kiểu đấy một lần nữa!”

“Con có nợ ai khác ngoài Eddi không?” Erlendur hỏi.

“Vài người. Nhưng Eddi là mối lo chính.”

Điện thoại lại reo. Cô gái trong phòng ngủ trở mình và ngồi dậy, cô ta nhìn xung quanh rồi ra khỏi giường. Erlendur băn khoăn xem có nên trả lời không, và có nên đi làm không, hay là ở nhà cả ngày với Eva Lind. Giữ con bé bên mình, có thể đưa nó đến khám chỗ bác sĩ và kiểm tra thai nhi, nếu có thể gọi đó là thai nhi được. Để đảm bảo là mọi thứ vẫn ổn cả. Ở bên con bé.

Nhưng cái điện thoại vẫn không ngừng reo lên. Cô gái đã ra đến hành lang và nhìn quanh bối rối. Cô ta gọi ta xem có ai ở nhà không. Eva Lind đáp lại là họ đang trong bếp. Erlendur đứng lên, gặp cô gái ở lối vào bếp và chào cô ta. Nhưng ông không nhận được câu đáp lại. Họ đều ngủ mà để nguyên quần áo như Erlendur. Cô gái nhìn quanh căn bếp mà Erlendur vừa phá tan hoang và liếc ngang qua ông.

Rốt cuộc Erlendur cũng phải trả lời điện thoại.

“Cái mùi trong căn hộ của Holberg như thế nào?”

Erlendur phải mất một lúc mới nhận ra giọng của Marion Briem.

“Mùi ư?” Erlendur nhắc lại.

“Mùi trong căn hộ của ông ta thế nào?” Marion lặp lại.

“Đó là mùi của một căn hộ bẩn thỉu dưới tầng hầm.” Erlendur nói. “Mùi ẩm mốc. Hôi thối. Tôi không biết. Như mùi ngựa chăng?”

“Không, đó không phải là ngựa,” Marion Briem nói. “Tôi đã đọc báo cáo về Nordurmýri. Tôi đã nói chuyện với một người bạn là thợ sửa ống nước và anh ta giới thiệu cho tôi một người thợ khác. Tôi đã nói chuyện với rất nhiều thợ sửa ống nước.”

“Tại sao lại là thợ sửa ống nước?”

“Rất thú vị, cả câu chuyện này này. Mà anh không nói cho tôi biết về những dấu vân tay trên bức ảnh nhé.” Có dấu hiệu của sự buộc tội trong giọng nói của Marion Briem.

“Không,” Erlendur nói. “Tôi không lảng tránh chuyện đó.”

“Tôi đã nghe chuyện về Grétar và Holberg. Grétar biết rằng cô bé là con gái Holberg. Có thể gã biết điều gì đó khác nữa.”

Erlendur vẫn yên lặng.

“Ý bà là gì?” Rốt cuộc ông nói.

“Ông có biết điều gì hay ho nhất về Nordurmýri không?” Marion Briem hỏi.

“Không,” Erlendur nói, cảm thấy thật là khó để theo kịp dòng suy nghĩ của Marion.

“Rõ ràng là tôi đã để lỡ nó.”

“Cái gì vậy?”

Marion ngừng lại một thoáng như để tăng thêm sức nặng cho lời nói của mình.

“Nordurmýri. Vùng phía Bắc Mire.”

“Thì sao?”

“Những ngôi nhà được xây dựng trên đầm lầy.”

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 6

Đang tải bình luận...