phần dễ dàng. Tuy nhiên, mẹ động viên Lisa rằng phải kiên trì. Vì thế, Lisa đã thử chơi một bài mới, đàn sai, rồi cô bé bắt đầu khóc. Sự căng thẳng hiện diện thật rõ ràng. Lát sau, cha Lisa vào phòng để giải vây cho vợ. Ông bảo cô bé: “Giờ cất đàn đi. Tối mai con có thể tập lại, rồi cha sẽ ngồi với con”. Lisa la lên đầy kích động: “Không, con phải tập liền bây giờ!”. Rồi cô bé cầm đàn lên và bắt đầu tập. Gần như lập tức, cô bé lại đàn sai và rối tung lên. Cha Lisa lấy cây đàn, đặt nó lên kệ phía bên kia phòng. Ông để cô bé bày tỏ sự bực dọc trong vài phút, rồi bắt đầu trò chuyện nhẹ nhàng. Ông muốn biết vì sao Lisa lại tự gây quá nhiều áp lực cho bản thân. “Tại sao con nhất định phải tập trong hôm nay?”, ông hỏi. Dĩ nhiên ông cũng phải dỗ dành và trò chuyện đôi chút trước khi đi vào vấn đề này. Cuối cùng Lisa cũng tiết lộ rằng nếu không tập thì cô bé sẽ không nhận được ngôi sao, và nếu không nhận được ngôi sao này thì các bạn sẽ lấy được báu vật còn Lisa thì không. Cường độ áp lực mà đứa trẻ sáu tuổi này tự đặt ra cho bản thân mình khi giáo viên sử dụng một “sự khích lệ” thật đáng kinh ngạc. Cha Lisa hỏi con “báu vật” đó là gì. Cô bé không biết, nhưng cha bé nói rằng bất kể nó là gì đi nữa, nếu giáo viên dạy đàn không phát cho Lisa thì ông sẽ mua một cái cho cô bé. Lisa sửng sốt hỏi lại: “Ý cha là con không cần phải tập cũng có được báu vật đó ạ?”. “Đúng, con có thể có nó dù có tập hay không?”. Sự căng thẳng đã được trút bỏ rất nhiều và việc luyện tập của cô bé cũng trở nên dễ dàng hơn. Rốt cuộc thì cô bé cũng có thể chơi đàn thật vui. Công c qun tr th i gian,s p x p công vic & l u tr d li u cá nhân tích h p T T-C -TRONG-1 https://www.trello.nguyencongthuc.com
Những người tán thành việc sử dụng phần thưởng để thúc đẩy trẻ em thường kể những chuyện giống như nửa đầu của câu chuyện trên - treo thưởng để giúp bọn trẻ tập đàn, làm việc nhà, hoàn thành bài tập về nhà hay bất cứ điều gì khác. Tôi luôn có chút hoài nghi dù biết không phải phần thưởng nào cũng xấu. Tôi hoài nghi bởi vì rõ ràng các phần thưởng thường mang lại những hệ quả tiêu cực, dù không định trước, mà những người ủng hộ nó thường không sẵn sàng thừa nhận. Phần thưởng có thể đảm bảo cho những hành vi nhất định - như tập đàn thường xuyên hơn - nhưng hành vi mà nó đảm bảo không thật sự là bản thân chúng ta sau này. Trường hợp của Lisa là một minh chứng rõ ràng. Thoạt đầu, việc đưa ra cấu trúc phần thưởng đã giúp ích vì nó cho cô bé thông tin rằng tập bao lâu là đủ. Nhưng chỉ cần thảo luận đôi chút và lên cấu trúc, mà không cần đến phần thưởng, cũng có thể đáp ứng tốt. Nói cách khác, một cuộc thương thảo về thời gian là đủ để đạt được mục đích vượt qua sự kháng cự ban đầu của cô bé - mà không gây ra những tác động tiêu cực như vậy. Việc trao thưởng theo cách không điều khiển người khác đòi hỏi một sự trung thực đến tột cùng, mà thường vượt quá giới hạn của con người. Chẳng hạn, người ta nói rằng họ không cố gắng ép con vào khuôn khổ, rằng họ đơn giản chỉ đang thể hiện sự khen ngợi, dạy dỗ con bằng cách nêu gương, hay đang cho bọn trẻ thứ gì đó mà chúng thật sự muốn hay cần. Nhưng nếu suy nghĩ một cách thấu đáo, ta thường sẽ thấy rằng thật ra, người lớn đang dùng những phần thưởng đó để gây áp lực lên con trẻ, kể cả khi điều mà họ đang ép con làm có thể là những gì tốt nhất cho trẻ. Câu hỏi đích thực mà tất cả những điều này đặt ra là liệu gây áp lực bằng phần thưởng với trẻ em để chúng làm gì đó tốt cho bản thân chúng có phải là cách tốt nhất để đạt được mục đích mong muốn hay không. Tất nhiên, vấn đề về áp lực và sự kiểm soát vượt xa tác dụng của phần thưởng. Một điều quan trọng trong nghiên cứu của Ryan về việc trao thưởng theo hai cách khác nhau - một cách nhấn mạnh áp lực và sự kiểm soát, cách còn lại thì không - là nó cho thấy nhiều sự kiện hay biến cố khác được cho là làm xói mòn Kho sách t ng h p Google Drive VIP 800+ GB, 4000+ ebook & sách nói, 38 ch , c p nh t liên t c https://www.usbsach.nguyencongthuc.com
động lực nội tại có thể đã không lâm vào tình trạng đó nếu chúng ta sử dụng chúng một cách thận trọng hơn. Nghiên cứu về sự cạnh tranh mà tôi cùng các sinh viên tiến hành trước đó đã phần nào gây tranh cãi. Đơn giản vì con người không muốn tin rằng sự cạnh tranh làm suy yếu động lực nội tại. Sau những kết quả đắt giá đúc kết được từ nghiên cứu về phần thưởng của Ryan, tôi cùng một đồng nghiệp, anh Johnmarshall Reeve, quyết định tìm hiểu chính vấn đề đó ở phương diện cạnh tranh. Về căn bản, chúng tôi để cho một đội chiến thắng cuộc thi sau khi bị ép phải thắng - chúng tôi đã dùng “mưu mẹo của Vince Lombardi¹²” khi nói với họ rằng chiến thắng là tất cả - và một đội khác thắng cuộc thi mà không bị gây thêm sức ép. Thú vị là kết quả của chúng tôi cũng giống như của Ryan. Khi chúng tôi hướng các thành viên trong đội đến với cuộc thi bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh bại đối thủ, thì sự cạnh tranh hoàn toàn bất lợi cho động lực nội tại của họ. Nhưng khi chúng tôi không gây thêm áp lực, mà chỉ đơn giản động viên họ nỗ lực hết sức và cố gắng hoàn thành trước, thì sự cạnh tranh đã không gây hại. ¹² Vince Lombardi (1913-1970) là huấn luyện viên bóng bầu dục huyền thoại của Mỹ. Tên ông được ghi trên cúp của giải Super Bowl (Siêu cúp bóng bầu dục). Trong nghiên cứu về sự cạnh tranh này, chúng tôi còn có một đội không bị gây áp lực đã để thua cuộc thi, ở đội này chúng tôi phát hiện mức động lực nội tại cực kỳ thấp. Tuy tất cả những phát hiện này nói chung đều chỉ ra rằng sự cạnh tranh không nhất thiết xói mòn động lực nội tại, nhưng nó là một vấn đề khá nhạy cảm. Việc ép buộc người ta phải thắng, một chuyện dường như quá hiển nhiên trong những tình huống có tính cạnh tranh, có khả năng tạo ra tác động tiêu cực, ngay cả với người chiến thắng. Và dĩ nhiên, đối với người bại trận thì tác động đó còn tồi tệ hơn nhiều. *** Công c qun tr th i gian,s p x p công vic & l u tr d li u cá nhân tích h p T T-C -TRONG-1 https://www.trello.nguyencongthuc.com
Với việc chấp nhận lập trường chung không công nhận việc phụ thuộc vào phần thưởng, sự đòi hỏi, đe dọa, giám sát, cạnh tranh và đánh giá khắt khe là những con đường tạo ra động lực cho hành vi của con người, tôi không ủng hộ - dưới bất kỳ hình thức nào - sự dễ dãi. Việc thiết lập giới hạn, các cấu trúc và mục tiêu thường được coi trọng ở trường học, tổ chức, cũng như trong các nền văn hóa, dù không thể mong chờ người ta thích chúng. Chẳng hạn như, việc cho phép trẻ em ném sơn màu vào nhau (người hoang dã cao quý¹³ thì không tính) hoặc để cho nhân viên nhàn tản làm việc bất cứ khi nào họ thích thì quả thật không hợp lý. Vậy, câu hỏi thật sự quan trọng là: Làm sao chúng ta có thể tránh được sự dễ dãi, mà không gây tắc nghẽn? Làm sao để vừa có thể ủng hộ sự tự chủ vừa đặt ra giới hạn? Các tiêu chuẩn và giới hạn có thể sử dụng như thế nào để một người trong tình thế bất lợi có thể sống trong những giới hạn mà vẫn giữ được cảm giác tự khởi xướng, và nhờ vậy, họ không đánh mất động lực nội tại? ¹³ Nguyên văn: noble savage. Đây là một hình tượng được dùng nhiều trong văn chương - một con người thoát khỏi những ảnh hưởng của nền văn minh, và do đó tượng trưng cho lòng tốt bẩm sinh của con người. Ủng hộ sự tự chủ, thứ hoàn toàn đối lập với sự kiểm soát, có nghĩa là ta có thể đứng ở góc nhìn của một người khác và nỗ lực từ góc nhìn đó. Nó có nghĩa là tích cực khuyến khích tự khởi xướng, thử nghiệm và trách nhiệm, nhưng nó cũng có thể đòi hỏi phải đặt ra những giới hạn. Nhưng việc ủng hộ sự tự chủ nên được thể hiện bằng cách động viên chứ không phải gây áp lực. Đưa ra lời động viên mà không rơi vào tình trạng kiểm soát có vẻ khả dĩ, nhưng không hề dễ dàng. Chúng ta đều biết rằng ủng hộ sự tự chủ có thể khó khăn hơn là ép buộc, vì nó cần nhiều nỗ lực và kỹ năng. Dựa vào những gì đúc kết được từ nghiên cứu các phong cách trao thưởng khác nhau, Ryan quyết định khám phá câu hỏi rằng liệu các giới hạn và sự tự chủ có thể tồn tại đồng thời hay không. Anh đã hợp tác với Richard Koestner (hiện là giáo sư tại Đại học McGill ở Montreal) và xác định một môi trường kinh điển đòi hỏi cả giới hạn và sự tự chủ sáng tạo: mỹ thuật ở trẻ em. Ý tưởng nghiên cứu được đề ra là cho những đứa trẻ (năm và sáu tuổi) tham gia một nhiệm vụ sáng tạo, nhưng tiềm tàng sự hỗn loạn, là cùng vẽ một bức tranh. Những giới hạn liên quan đến sự ngăn nắp được đưa ra theo hai cách khác nhau - một cách mang tính Kho sách t ng h p Google Drive VIP 800+ GB, 4000+ ebook & sách nói, 38 ch , c p nh t liên t c https://www.usbsach.nguyencongthuc.com
kiểm soát như truyền thống, cách còn lại khuyến khích tự chủ và không kiểm soát. Cách kiểm soát khá đơn giản: sử dụng ngôn từ ép buộc (“Hãy là một đứa trẻ ngoan và giữ cho dụng cụ gọn gàng vào nhé” hay “Làm việc cần làm thôi và đừng có trộn lẫn lộn màu với nhau”). Cách khuyến khích tự chủ, bao gồm giảm thiểu áp lực bằng cách tránh những ngôn từ mang tính kiểm soát và cho phép lựa chọn càng nhiều càng tốt, đòi hỏi phải tinh tế hơn. Khi thiết lập những giới hạn, luôn có khả năng xảy ra xung đột bởi vì bạn đang yêu cầu người khác làm điều mà họ có thể không muốn làm. Đó là vấn đề quan trọng duy nhất đối với các giới hạn. Koestner và Ryan cho rằng sẽ có ích nếu nhận ra sự xung đột này, vì nó cho thấy người lớn coi trọng quan điểm của trẻ, nhờ đó bọn trẻ sẽ bớt cảm thấy bị điều khiển từ bên ngoài. Đối với nhóm có những giới hạn và khuyến khích tự chủ, họ nói rằng: “Chú biết rằng đôi khi đổ màu vẽ ra lung tung cũng vui đấy, nhưng chúng ta cần giữ cho số dụng cụ và căn phòng này gọn gàng để các bạn nhỏ khác còn sử dụng nữa”. Thật đáng khích lệ, từ quan điểm tích lũy các nghiên cứu của chúng tôi, kết quả thu được rất ấn tượng. Chỉ cần vài thay đổi đơn giản trong cách hướng dẫn cũng đủ để tạo ra sự khác biệt. Tình huống khuyến khích sự tự chủ dường như có tác động tích cực tới bọn trẻ, trong khi tình huống kiểm soát lại gây suy yếu động lực nội tại. Bọn trẻ cảm thấy người lớn ít nhất cũng hiểu chúng đã tỏ ra nhiệt tình và có nhiều động lực nội tại hơn những đứa trẻ bị kiểm soát trong giới hạn. Cứ như người ta có thể nhìn thấy ngay tại đây cả uy lực và những hiểm họa của việc đặt ra giới hạn trong mọi tình huống cuộc sống, khi mà một người nào đó ở vị thế có uy quyền có thể tối ưu hóa trải nghiệm của cá nhân hoặc khiến họ bị cụt hứng - tùy vào phong cách liên cá nhân của mình. Việc đặt ra giới hạn là cực kỳ quan trọng để thúc đẩy trách nhiệm, và những phát hiện của nghiên cứu này là nhân tố chính cho cách thực hiện điều đó. Khi đặt ra giới hạn theo hướng khuyến khích sự tự chủ - hay nói cách khác, khi xem bản thân bạn ngang hàng với người bị giới hạn, công nhận rằng người đó là một đối tượng chủ động, thay vì một mục tiêu để thao túng hay kiểm soát - ta sẽ có thể khuyến khích tinh thần trách nhiệm mà không hủy hoại chân nguyên của người Công c qun tr th i gian,s p x p công vic & l u tr d li u cá nhân tích h p T T-C -TRONG-1 https://www.trello.nguyencongthuc.com
đó. Kho sách t ng h p Google Drive VIP 800+ GB, 4000+ ebook & sách nói, 38 ch , c p nh t liên t c https://www.usbsach.nguyencongthuc.com