Chương 5 Kho sách t ng h p Google Drive VIP 800+ GB, 4000+ ebook & sách nói, 38 ch , c p nh t liên t c https://www.usbsach.nguyencongthuc.com
Gắn kết thế giới bằng ý thức về năng lực Tôi từng nhiều lần đảm nhận vai trò cố vấn cho Hội đồng Bộ trưởng ở đất nước Bungary nghèo khó và kiệt quệ, trước khi Đế chế Liên Xô sụp đổ vào năm 1989. Tình trạng thiếu động lực của toàn thể công dân ở đó thật khác thường. Cả xã hội đều bị đình trệ. Người ta chỉ làm những gì phải làm để không gặp rắc rối, nhưng hầu hết đều chẳng màng đến việc tham gia xây dựng hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước. Trong khi ở Hoa Kỳ, các phương tiện (hay sự kết nối) giữa hành vi con người với kết quả mà họ khao khát được xây dựng thành hệ thống và sử dụng rộng rãi để thúc đẩy thành tựu, thì ở Bungary, những hệ thống ấy lại hiếm hoi lạ thường. Nói một cách đơn giản, chẳng có gì được mất bất kể người ta có làm việc hiệu quả hay không, nên họ chỉ chủ động tuân thủ mục tiêu sản xuất ở mức tối thiểu. Tôi nhớ có lần tôi đến một công ty sản xuất nhà nước. Tôi đi cùng với phiên dịch viên của mình, Julian Usunov (hiện giờ là một cố vấn quản lý dưới hệ thống mới), và được tổng giám đốc dẫn đi tham quan công ty. Lúc đó là khoảng giữa buổi chiều, chúng tôi đi vào một căn phòng rất lớn với vài tá trạm làm việc. Mỗi trạm có một chiếc máy để xử lý kim loại, máy tiện, máy khoan, máy ép,… Vừa bước vào, chúng tôi nhìn thấy vài đám người nhàn rỗi, người đứng người ngồi tán chuyện phiếm. Một căn phòng đầy những thợ sửa chữa Maytag (công ty thiết bị gia dụng của Mỹ). Khi những người công nhân nhìn thấy chúng tôi (thật ra là thấy sếp lớn), vài người trong số họ thong thả quay về chỗ làm việc, những người khác thậm chí còn chẳng thèm quan tâm. Đối với các công nhân này, và những người khác trong hệ thống ở Bungary, những kết quả như niềm vui trong công việc, mức lương đáng hài lòng và giữ được chỗ làm, không phụ thuộc vào thái độ làm việc của họ, do vậy họ cũng không có một sự khích lệ nào để làm việc. Chắc chắn họ đã không hề thấy vui vẻ gì khi làm việc trong căn phòng lạnh lẽo, dơ bẩn ấy, điều khiển những cỗ máy, sản xuất ra những mảnh kim loại mà có lẽ cũng chẳng để làm gì (nhà kho đầy Công c qun tr th i gian,s p x p công vic & l u tr d li u cá nhân tích h p T T-C -TRONG-1 https://www.trello.nguyencongthuc.com
những thứ không biết sẽ đi về đâu như vậy), nên hẳn họ không có được phần thưởng nội tại vì đã làm việc tốt. Hơn nữa, những phần thưởng ngoại tại xoàng xĩnh mà họ nhận được không thể đóng vai trò như nhân tố thúc đẩy, bởi vì chúng không phụ thuộc vào số lượng hay chất lượng của công việc. Và cũng không có bất kỳ mối đe dọa về hình phạt nào nếu không làm việc hiệu quả (dù tất nhiên chỉ riêng việc phải ở đó thôi đã là một hình phạt rồi). Tại sao họ không bị sa thải? Bởi vì dưới chế độ Bungary khi đó, nguyên tắc chính là tất cả mọi người đều có quyền làm việc. Tiền công thật thê thảm, nhưng ít nhiều gì nó cũng được đảm bảo. Người Bungary thường nói đùa rằng: “Họ giả vờ trả tiền cho chúng tôi, còn chúng tôi giả vờ làm việc”. Mấy năm trước, Ryan đã đến Trung Quốc. Trong thời gian ở đó, anh được một người quản lý dẫn đi tham quan nhà máy, và anh đã chứng kiến những hành vi giống như những gì tôi đã thấy ở Bungary. Có lúc anh quan sát một nhóm tám người làm việc trong một kho chứa hàng cung ứng, họ sắp xếp, lưu trữ và phân loại từng bộ phận. Anh quan sát quá trình hoạt động trong vài phút và nói với người dẫn đường rằng: “Tôi cho rằng họ có thể hoàn thành cùng một lượng công việc như vậy chỉ với ba người. Dường như họ chỉ đang cản trở công việc của nhau thôi”. Với một giọng điệu gần như khinh miệt, người quản lý đáp lại: “Vâng, nhưng rồi chuyện gì sẽ xảy ra với những người khác?”. Những đất nước theo hệ thống chuyên chế và kế hoạch hóa tập trung đều thật sự kém hiệu quả trong việc tạo ra động lực cho người lao động - trong việc khiến người lao động làm việc có hiệu quả và năng suất cao hơn. Quả thật, phương pháp thúc đẩy hành vi làm việc của họ còn lâu mới thành công như phương pháp được xây dựng trong hệ thống Mỹ. Vấn đề là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thiếu một yếu tố cơ bản cần thiết cho việc tạo ra động lực; họ thiếu những tiên lượng có ý nghĩa - tức là thiếu sự gắn kết giữa hành vi-kết quả. Động lực thúc đẩy đòi hỏi con người phải nhìn thấy mối quan hệ giữa hành vi của họ với kết quả mà họ khao khát, và phương tiện là sự gắn kết cho phép con người nhìn thấy những mối quan hệ hành vi-kết quả đó. Phương tiện có thể được tạo ra ở cấp độ hệ thống kinh tế, ở cấp độ một tổ chức và ở cấp độ tương tác giữa Kho sách t ng h p Google Drive VIP 800+ GB, 4000+ ebook & sách nói, 38 ch , c p nh t liên t c https://www.usbsach.nguyencongthuc.com
hai cá nhân như cha mẹ với con cái. Nếu con người không tin rằng hành vi của họ sẽ dẫn đến thứ gì đó mà họ mong cầu - dù sự thiếu hụt phương tiện là lỗi của hệ thống, tổ chức, hay cá nhân ở địa vị cao hơn - thì họ sẽ không có động lực. Những kết quả mà họ mong cầu có thể là sự thỏa mãn từ bên trong, hoặc có thể là phần thưởng từ bên ngoài, nhưng con người phải tin rằng hành vi của họ sẽ sinh ra những kết quả nào đó, nếu không họ sẽ không có động lực để thực hiện. Nói chung, đó là những gì Bungary bị thiếu. Người ta không tin rằng làm việc hiệu quả sẽ dẫn đến những kết quả có ý nghĩa, vậy nên họ đã thể hiện rất ít những hành vi hiệu quả. Một loạt phương tiện đã gắn liền với hệ thống sở hữu tư nhân và lực lượng thị trường của chúng ta. Tính hiệu quả là quan trọng nhất và những phần thưởng từ bên ngoài được trao để khiến con người làm việc hiệu quả. Sự liên kết giữa hành vi và những phần thưởng từ bên ngoài là một phần hợp nhất của hệ thống và nó cư ngụ trong tâm trí của hầu hết các cá nhân trong hệ thống. Hệ thống có những chỗ thiếu hiệu quả và con người đã phải dùng đến cách thao túng hệ thống như chúng ta đã thấy ở chương trước, nhưng các phương tiện vẫn ở đó, và theo như nhà kinh tế học Hồng Kông Henry Woo¹ thì chúng đã dẫn đến việc sử dụng vốn con người đặc biệt hiệu quả khi so với tình trạng tương đối thiếu hụt phương tiện trong những nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở Đông Âu. ¹ Henry Woo là nhà phương pháp luận kinh tế người Hồng Kông. Ông là người sáng lập Mạng lưới Phương pháp luận Kinh tế Quốc tế, đồng thời còn sáng lập Viện Khoa học Kinh tế Hồng Kông. Những điểm thú vị khi so sánh giữa Bungary với Mỹ là: Đầu tiên, không có những phương tiện thích hợp thì sẽ không có hoạt động có năng suất và được thúc đẩy; nhưng thứ hai, các phương tiện là một con dao hai lưỡi - chúng là cơ sở để việc thúc đẩy được thuận lợi hơn, nhưng cũng khiến cho sự kiểm soát có thể gây nên những tác động vô cùng tiêu cực. Sự kiểm soát, vốn liên quan đến việc sử dụng các phương tiện để tạo áp lực buộc con người phải cư xử theo những cách cụ thể nào đó, là một dạng thức của động Công c qun tr th i gian,s p x p công vic & l u tr d li u cá nhân tích h p T T-C -TRONG-1 https://www.trello.nguyencongthuc.com
lực, và những tiên lượng như phần thưởng ngoại tại sẽ cho phép sự kiểm soát trở thành một chiến lược thúc đẩy hiệu suất tương đối thành công. Nhưng vấn đề là sự kiểm soát về căn bản gây nhiều hệ quả tiêu cực cho con người. Một trong những nghịch lý của lịch sử là việc nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ban đầu được ra đời để bổ trợ cho sự tha hóa, nhưng cuối cùng lại dẫn đến những kết quả tệ hại hơn cả hệ thống sở hữu tư nhân, bởi vì nó đã sử dụng phương pháp kiểm soát không hiệu quả, dẫn đến tình trạng thờ ơ và thiếu mục đích lan rộng khắp nơi. Một trong những điểm quan trọng nhất mà các cuộc thí nghiệm của chúng tôi làm sáng tỏ, và cũng là cơ sở để hy vọng, chính là dù các phương tiện đều được sử dụng quá dễ dãi nên khó có thể kiểm soát, nhưng chúng không nhất thiết phải được kiểm soát. Các bậc phụ huynh có năng lực nhất sẽ sử dụng những tiên lượng về phần thưởng theo cách không kiểm soát con cái và kết quả thu được khá tích cực. Điều này cũng đúng với các nhà quản lý, giáo viên, huấn luyện viên. Chẳng hạn, ở các công ty sớm nhận thức được vấn đề này, nhà quản lý hiểu rõ tầm quan trọng của động lực nội tại, do đó, họ thiết kế ra nhiều công việc thú vị hơn và trao cho nhân viên cơ hội tham gia vào việc quyết định - tức là, họ sẽ cho nhân viên lựa chọn - để hoạt động có hiệu quả có thể trở thành sự thỏa mãn từ bên trong. Đồng thời, họ không phụ thuộc vào sự tiên lượng về phần thưởng ngoại tại để thúc đẩy hành vi, mà sử dụng phần thưởng đơn thuần như một phương tiện để công nhận thành quả. Sự tiên lượng về phần thưởng bên ngoài tồn tại trong những công ty như vậy theo nghĩa con người phải thể hiện bản thân một cách hiệu quả mới giữ được công việc và thăng tiến, nhưng sự tiên lượng đó không được nhấn mạnh như là phương tiện kiểm soát. Điều này cũng cực kỳ quan trọng ở cấp độ hoạch định chính sách. Khi những người đưa ra quyết định hiểu rằng con người có thể được thúc đẩy bằng cách tự chủ hay bị kiểm soát, và rằng các hệ thống, tổ chức và cá nhân có thể thúc đẩy động lực theo những cách khuyến khích tự chủ hay kiểm soát, thì họ mới có thể tạo ra những chính sách hướng đến khuyến khích sự tự chủ hơn là kiểm soát hành vi. Vô số quyết định đã được đưa ra, ở cấp chính quyền liên bang, bang và Kho sách t ng h p Google Drive VIP 800+ GB, 4000+ ebook & sách nói, 38 ch , c p nh t liên t c https://www.usbsach.nguyencongthuc.com
địa phương, cũng như ở các doanh nghiệp tư nhân hay nhà nước, ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của con người. Nếu suy nghĩ về các vấn đề này từ góc nhìn cổ vũ sự tự chủ thay vì kiểm soát, thì quyết định sẽ khác, và những tác động đến cuộc sống con người cũng sẽ khác. *** Con người trong dòng chảy văn hóa Mỹ biết rằng họ cần phải làm ra tiền, phải có được tấm bằng đại học, được cấp trên phê chuẩn thì mới cảm thấy thành công và nắm bắt được nhiều cơ hội cho bản thân và gia đình. Nhưng dù hệ thống Mỹ đã đáp ứng việc tạo ra động lực cho rất nhiều người, vẫn có những người “rơi ra khỏi hệ thống”, không được nó thúc đẩy một cách tích cực, bởi vì họ không tiếp cận được với những tiên lượng phần thưởng là trung tâm của hệ thống. Một số học sinh của đất nước phải chịu chế độ giáo dục tồi tệ, một số công dân bị phân biệt đối xử, và người ta hình thành một thái độ thờ ơ mang tính phòng thủ để phản ứng lại những tác động như vậy, đó là những thứ góp