phần việc đầu thừa đuôi thẹo. Chúng tôi luôn lạc lối trong những lời nói mập mờ và cuối cùng lại làm những việc mà người khác đã làm rồi. Đôi khi cũng khá mệt.” “Chúc anh may mắn,” Bishop nói. “Cảm ơn thám tử.” Pittman lại bước vào trong bóng tối. Khi họ đã yên vị trong chiếc xe tuần tra, Gillette nói, “Tôi quả thật không hề muốn quay lại San Ho.” “Chà, tôi sẽ quay lại CCU để kiểm tra bằng chứng và tranh thủ chợp mắt một chút. Mà tôi lại không thấy ở đó có phòng tạm giam.” Gillette nói, “Tôi sẽ không trốn nữa.”
Bishop không đáp. “Tôi thực sự không muốn quay lại nhà tù.” Viên thám tử vẫn im lặng còn tay hacker tiếp tục cố nài thêm, “Cứ còng tay tôi vào ghế nếu ông không tin tôi.” Bishop nói, “Thắt đai an toàn vào.”
Chương HAI HAI Trường Junipero Serra trông thật bình dị trong sương sớm. Ngôi trường tư dành riêng cho giới nhà giàu, tọa lạc tại một khu đất rộng tám héc ta, nằm giữa Trung tâm nghiên cứu Xerox’s Palo Alto và một trong nhiều cơ sở của Hewlett-Packard gần Đại học Stanford. Nó trở nên nổi tiếng và gắn liền với danh tiếng tuyệt vời vì đã đào tạo nên hầu hết những học sinh đủ tiêu chuẩn vào các trường trung học mà (bố mẹ) họ chọn lựa. Khuôn viên trường tuyệt đẹp và nhân viên thì được trả lương hậu hĩnh. Tuy nhiên, lúc này cô tiếp tân có thâm niên làm việc vài năm ở đây lại không muốn tận hưởng những lợi ích từ môi trường làm việc của mình. Đôi mắt cô nhòa lệ và cô phải cố hết sức để kiểm soát cơn run rẩy trong giọng nói. “Ôi Chúa ơi, Chúa ơi,” cô thì thào. “Joyce vừa ở đây nửa tiếng trước. Tôi có nhìn thấy chị ấy. Chị ấy vẫn ổn. Ý tôi là, mới chỉ nửa tiếng trước thôi mà.” Đứng trước mặt cô ta là một người đàn ông trẻ tuổi, tóc hung đỏ và có ria mép, vận một bộ vét đắt tiền. Mắt anh ta đỏ hoe, như thể anh ta cũng đang khóc, hai bàn tay siết chặt vào nhau, dường như đang rất đau buồn. “Chị ấy và Don đang lái xe đến Napa, tới vườn nho. Họ dự định ăn trưa với một đối tác đầu tư của Don.” “Đã xảy ra chuyện gì?” Cô ta nghẹn lời hỏi. “Một chiếc xe buýt chở công nhân nhập cư… nó bất ngờ ngoặt tay lái và đâm thẳng vào họ.”
“Ôi, Chúa ơi,” cô lại lẩm bẩm. Một người phụ nữ khác đi ngang qua và người lễ tân nói, “Amy, lại đây.” Người phụ nữ này, mặc một bộ vét màu đỏ, trên tay mang một mảnh giấy có tiêu đề ‘Giáo án’, bước tới chiếc bàn. Người lễ tân thì thầm, “Joyce và Don Wingate gặp tai nạn.” “Không!” “Thật tệ.” Cô lễ tân gật đầu. “Đây là em trai Don, Irv.” Họ gật đầu chào nhau rồi cô Amy rầu rĩ nói, “Họ thế nào?” Người em trai nuốt khan nơi cổ họng đang nghẹn lên vì xúc động. “Họ sẽ qua khỏi. Ít nhất đó là điều bác sỹ nói lúc này. Nhưng cả hai vẫn còn đang hôn mê. Anh trai tôi bị thương ở lưng.” Anh ta cố kìm nén những giọt nước mắt. Người lễ tân cũng lau nước mắt. “Joyce rất tích cực trong hội phụ huynh. Ai cũng yêu mến chị ấy. Chúng tôi có thể giúp gì không?” “Tôi cũng chưa biết,” Irv nói, lắc đầu. “Tôi chưa thể nghĩ thông suốt được.” “Không, không, tất nhiên là không.” Amy nói, “Nhưng mọi người ở trường sẵn sàng giúp đỡ anh, dù anh cần gì.” Amy gọi đến một người phụ nữ dáng người đậm khoảng gần sáu mươi. “Ồ, bà Nagler!” Người phụ nữ vận bộ vét màu xám tiến đến và nhìn Irv, người đang gật đầu chào bà. “Bà Nagler,” anh ta nói. “Bà là giám đốc ở đây đúng không?”
“Đúng vậy.” “Tôi là Irv Wingate, chú của Samantha. Tôi đã gặp bà ở Hội bình thơ xuân năm ngoái.” Bà ta gật đầu và bắt tay anh. Wingate tóm tắt vụ tai nạn. “Ôi, Chúa ơi, không,” bà Nagler thảng thốt. “Tôi rất tiếc.” Irv nói, “Kathy - vợ tôi, đang tới đó. Tôi đến để đón Sammie.” “Tất nhiên rồi.” Nhưng dù rất đồng cảm, bà Nagler vẫn giữ nguyên tắc và không đời nào bỏ qua những quy định. Bà cúi xuống rồi gõ lên bàn phím bằng những ngón tay được cắt móng vuông vức và không sơn bóng. Bà nhìn màn hình rồi nói, “Anh có trong danh sách người thân được ủy quyền để đón Samantha.” Bà nhấn một phím khác và một bức ảnh hiện lên - ảnh bằng lái của Irving Wingate. Bà ngước lên nhìn anh ta. Trùng khớp. Rồi bà nói, “Nhưng tôi e rằng vẫn còn hai việc nữa mà anh phải xác nhận. Đầu tiên, vui lòng cho tôi xem bằng lái của anh?” “Chắc chắn rồi.” Anh ta đưa tấm thẻ ra. Nó trùng khớp với vẻ ngoài của anh ta và bức ảnh trên máy tính. “Thêm một việc nữa thôi. Tôi xin lỗi. Anh trai anh là người rất quan tâm đến an ninh, anh biết mà.” “Ồ, chắc chắn rồi,” Wingate nói. “Mật khẩu.” Anh ta nói nhỏ với bà, “Là S-H-E-P.” Bà Nagler gật đầu xác nhận. Irv đưa mắt ra ngoài
cửa sổ nhìn những tia nắng mặt trời trong trẻo rơi trên hàng rào bằng gỗ hoàng dương. “Đó là con chó giống Airedale đầu tiên của Donald, Shep. Chúng tôi nhận nuôi nó khi anh ấy mười hai tuổi. Nó là một con chó tuyệt vời. Anh ấy vẫn nuôi giống chó ấy, bà biết đấy.” Bà Nagler buồn rầu nói, “Tôi biết. Thi thoảng chúng tôi email cho nhau ảnh những chú chó của mình. Tôi nuôi hai con weimaraner.” Giọng bà nhỏ dần và cố gắng gạt nỗi đau buồn sang một bên. Bà nhấc máy gọi cho giáo viên của Sammie rồi đề nghị đưa cô bé đến khu vực lễ tân. Irv nói, “Xin đừng nói gì với Sammie. Tôi sẽ nói với con bé khi lên xe.” “Tất nhiên rồi.” “Chúng tôi sẽ dừng xe ăn sáng trên đường đi. Bánh kẹp trứng McMuffin’s là món ưa thích của con bé.” Cô Amy vận bộ vét đỏ nghẹn lại vì mẩu chuyện nhỏ ấy. “Đó cũng là món con bé ăn trong chuyến đi của lớp đến Yosemite… Cô nhắm mắt và thầm khóc. Một người phụ nữ châu Á, có vẻ là giáo viên của Sammie, dẫn một bé gái mảnh khảnh có mái tóc hung đỏ vào văn phòng. Bà Nagler mỉm cười và nói, “Chú Irving của con đây.” “Irv,” anh ta chữa. “Con bé gọi tôi là chú Irv. Chào Sammie.” “Wow, râu chú mọc lại nhanh thật đấy.” Wingate bật cười. “Cô Kathy của cháu nói nhìn chú lúc trước trông tao nhã hơn.” Anh ta cúi xuống. “Nghe này, bố mẹ cháu quyết
định cho cháu nghỉ học một ngày. Chúng ta sẽ dành ngày hôm nay cùng với họ ở Napa.” “Bố mẹ đến vườn nho ạ?” “Đúng thế.” Một thoáng lưỡng lự xuất hiện trên khuôn mặt lấm tấm tàn nhang của con bé. “Bố nói bố mẹ không đi được cho đến tuần sau. Bởi vì những thợ săn.” “Họ đã đổi ý. Và cháu sẽ đến đó cùng với chú.” “Tuyệt vời!” Người giáo viên nói, “Em quay về lớp lấy cặp sách nhé?” Cô bé chạy vội đi và bà Nagler bắt đầu kể với cô giáo mọi chuyện. “Ôi, không,” cô khẽ thốt lên khi nghe về thảm kịch đó. Vài phút sau, Samantha quay lại, chiếc cặp sách nặng trĩu trên vai. Cô bé và chú Irv bước ra cửa. Người lễ tân thì thầm với bà Nagler, “Cảm ơn Chúa, con bé sẽ được bao bọc.” Irv Wingate chắc hẳn đã nghe thấy điều này vì anh ta quay lại và gật đầu. Tuy vậy, người lễ tân thoáng khựng lại, nụ cười của anh ta dường như không thân thiện, mà giống như một sự hả hê đầy ma mãnh. Nhưng cô quả quyết rằng mình đã nhầm và cảm thông với nỗi đau buồn tột độ mà người đàn ông tội nghiệp này đang phải chịu đựng. - _ - _ -
“Dậy thôi,” một giọng nói mạnh mẽ cất lên. Gillette mở mắt và nhìn lên thấy Frank Bishop, đã cạo râu và tắm táp xong, đang tiện tay nhét gấu áo xấu tính của mình vào cạp quần. “Tám giờ ba mươi rồi,” Bishop nói. “Trong tù họ cho cậu dậy muộn à?” “Hôm qua tôi thức đến tận bốn giờ,” tay hacker càu nhàu. “Tôi không thể cảm thấy thoải mái. Nhưng cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, đúng không?” Gillette hất đầu về phía chiếc ghế sắt lớn mà Bishop đã còng tay hắn vào. “Là ý tưởng của cậu đấy chứ, còng tay và chiếc ghế.” “Tôi không nghĩ ông lại hiểu theo nghĩa đen.” “Hiểu nghĩa đen cái gì?” Bishop hỏi. “Hoặc cậu còng tay ai đó vào ghế hoặc là không.” Viên thám tử mở khóa cho Gillette, tay hacker khó nhọc đứng dậy, xoa cổ tay. Hắn đi vào bếp để pha cà phê và lấy một chiếc bánh vòng để từ hôm trước. “Mà này, ở đây các ông có Pop-Tarts không? Gillette nói, quay trở lại gian chính của CCU. “Tôi không biết,” Bishop đáp. “Đây không phải là văn phòng của tôi, nhớ chứ? Dù sao thì, tôi không ưa đồ ngọt. Mọi người chỉ nên ăn sáng bằng thịt xông khói và trứng. Cậu biết đấy, mấy đồ tốt cho tim.” Ông nhấp một ngụm cà phê. “Tôi đã quan sát cậu - khi cậu ngủ.”
Gillette không biết phải nói gì cả. Hắn nhướng một bên lông mày. “Cậu đã đánh máy trong khi ngủ.” “Giờ người ta gọi là gõ bàn phím, không phải là đánh máy.” “Cậu có biết mình làm thế không?” Tay hacker gật đầu. “Ellie thường nói tôi luôn làm thế. Đôi khi tôi cũng mơ thấy mã.” “Cậu mơ gì?” “Tôi mơ thấy các tập lệnh - ông biết đấy, những dạng mã nguồn