phần mặt anh ta nữa. Và khoảng nửa cân thịt của Boyle. Hắn gói xác Pembry vào tấm vỏ đệm không thấm nước và vải trải giường trong phòng giam để máu không nhỏ ra rồi nhét nó lên trần thang máy. Hắn mặc đồng phục, sửa soạn, nằm xuống sàn và bắn lên trần để đánh động. Tôi không biết hắn ta giấu súng ở đâu, có lẽ là ở đũng quần. Xe cứu thương đến, cảnh sát thì ở khắp mọi nơi với khẩu súng lăm lăm trên tay. Nhân viên xe cứu thương vào rất nhanh và làm những gì họ được đào tạo để làm dưới làn đạn — họ đưa ống thở vào, băng bó những ai bị thương nặng nhất để cầm máu rồi đưa người ra khỏi chỗ đó. Họ đã làm việc của mình. Xe cứu thương không đến được bệnh viện. Cảnh sát vẫn đang tìm nó. Tôi cảm thấy lo lắng cho những nhân viên cứu thương kia. Copley nói họ đã chạy lại băng ghi âm
của nhân viên điều động. Xe cứu thương được gọi vài lần. Họ nghĩ Lecter tự gọi xe cứu thương trước khi nổ súng, để không phải nằm quá lâu. Bác sĩ Lecter hiếu động mà.” Trước đây Starling chưa bao giờ nghe thấy vị cay đắng như vậy trong giọng nói của Crawford. Và bởi vì cô gắn vị cay đắng với sự yếu đuối, cô cảm thấy hoảng sợ. “Vụ đào tẩu này không có nghĩa là bác sĩ Lecter nói dối,” Starling nói. “Chắc chắn là hắn nói dối bên nào đó — hoặc là chúng ta hoặc là thượng nghị sĩ Martin — nhưng có thể hắn không nói dối cả hai bên. Hắn nói với thượng nghị sĩ Martin đó là Billy Rubin và khẳng định đó là tất cả những gì hắn biết. Hắn nói với tôi đó là một kẻ bị ảo tưởng mình là người chuyển giới. Và điều cuối cùng mà hắn nói với tôi là ‘Sao lại không hoàn thành cái cổng vòm?’ Hắn nói về một lý thuyết chuyển giới…” “Tôi biết, tôi đã đọc bản tóm tắt của cô. Chuyện đó sẽ không đi đến đâu nếu các cơ sở chuyển giới không cung cấp tên cho chúng ta. Alan Bloom đã đích thân đến gặp các trưởng khoa. Họ nói họ đang tìm. Tôi phải tin thôi.” “Ông Crawford, ông đang gặp rắc rối à?” “Tôi được đề nghị nghỉ phép vì chuyện gia đình,” Crawford nói. “Có một đội đặc nhiệm mới từ FBI và DEA, thêm một thành phần bổ sung từ văn phòng Chưởng lý — có nghĩa là Krendler.” “Ai là sếp vậy?” “Chính thức là trợ lý Giám đốc FBI John Golby. Hãy cứ coi như ông ta và tôi cộng tác chặt chẽ với nhau. John là người tốt. Còn cô thì sao, cô có vấn đề gì không?”
“Krendler bảo tôi trả thẻ và súng rồi quay lại trường.” “Đấy là trước khi cô tới tìm Lecter. Starling, chiều nay ông ta đã ném một quả tên lửa vào Văn phòng Trách nhiệm Nghiệp vụ. ông ta đưa ra yêu cầu một cách khách quan rằng Học viện cần đình chỉ công tác của cô để chờ đánh giá lại xem cô có thích hợp với công việc không. Đấy là một cú hèn hạ. Giảng viên bắn súng chính, John Brigham mới biết chuyện này trong cuộc họp khoa ở Quantico. Anh ta tranh cãi với họ rồi kể lại cho tôi.” “Tệ đến thế kia à?” “Cô được quyền điều trần. Tôi sẽ ủng hộ cô và như thế là đủ. Nhưng nếu cô tiếp tục nghỉ học thì chắc chắn cô sẽ bị đuổi, bất kể kết quả điều trần như thế nào. Cô biết chuyện gì xảy ra nếu cô bị đuổi chứ?” “Người ta sẽ trả tôi về văn phòng địa phương nơi tôi được tuyển. Tôi phải sắp xếp báo cáo và pha cà phê cho tới khi có được một chỗ khác trong trường.” “Tôi có thể hứa cho cô một chỗ khác, nhưng tôi không thể can thiệp để họ không đuổi cô nếu cô trượt lần này.” “Vậy tôi phải quay lại trường và không theo vụ này nữa?” “Phải.” “Ông muốn tôi làm gì?” “Việc của cô là Lecter. Cô đã làm rồi. Tôi không yêu cầu cô chấp nhận bị đuổi. Nó có thể làm cô mất thêm khoảng nửa năm nữa, có thể hơn.” “Còn Catherine Martin thì sao?”
“Cô ấy bị bắt gần 48 giờ rồi — tròn 48 giờ nếu tới nửa đêm nay. Nếu ta không bắt được hắn thì có thể ngày mai hắn sẽ giết cô ta hoặc ngày hôm sau nữa, nếu giống như lần trước.” “Lecter không phải là tất cả những gì ta có.” “Tới giờ thì họ tìm được sáu William Rubin, tất cả đều có tiền án không kiểu này thì kiểu nọ. Nhưng không ai trong số họ giống cho lắm. Không có Billy Rubin nào trong danh sách đăng ký tạp chí côn trùng hàng tháng. Hiệp hội Thợ làm dao chỉ biết đến năm trường hợp bị bệnh than ngà voi trong vòng mười năm vừa qua. Chúng ta chỉ còn lại vài người chưa được kiểm tra. Còn gì nữa? Vẫn chưa xác định được danh tính của Klaus. Interpol thông báo có một lệnh truy nã còn tồn lại ở Marseille, truy nã một thủy thủ tàu buôn Na Uy đào tẩu, một tay Klaus Bjetland nào đó. Na Uy đang tìm hồ sơ nha khoa của hắn để gửi cho ta. Nếu chúng tôi có được gì đó từ bệnh viện, và nếu cô có thời gian thì cô có thể giúp việc này. Starling?” “Vâng, thưa ông Crawford?” “Về trường đi.” “Nếu ông không muốn tôi truy tìm hắn thì ông không nên đưa tôi đến cái nhà tang lễ ấy, thưa ông Crawford.” “Ừ,” Crawford nói. “Đúng là tôi không nên thật. Nhưng nếu vậy thì chúng ta sẽ không có con côn trùng. Cô đừng trả lại súng. Quantico đủ an toàn, nhưng cô phải có vũ khí bên mình mỗi khi ra khỏi Quantico tới chừng nào Lecter bị bắt hay chết.” “Còn ông thì sao? Hắn căm thù ông. Ý tôi là hắn đã nghĩ tới chuyện trả thù ông.” “Nhiều người đã nghĩ tới chuyện đó. Starling ạ, trong nhiều nhà
tù. Một ngày nào đó hắn sẽ tính đến chuyện ấy, nhưng bây giờ thì hắn quá bận. Được ra ngoài thật sung sướng và hắn sẽ không lãng phí cơ hội như thế đâu. Và nơi này thì an toàn hơn là cô tưởng đấy.” Điện thoại trong túi Crawford reo. Cái điện thoại trên bàn cũng đổ chuông và nhấp nháy. Ông nghe một hồi, chỉ nói “Được,” rồi bỏ máy. “Họ đã tìm thấy chiếc xe cứu thương trong ga - ra ngầm ở sân bay Memphis.” Ông lắc đầu. “Điều tồi tệ nhất. Nhân viên ở sau xe. Cả hai đều đã chết.” Crawford bỏ kính, lục tìm cái khăn mùi soa để lau kính. “Starling, một anh chàng ở Smithsonian gọi điện cho Burroughs tìm cô. Anh chàng tên là Pilcher. Họ đã gần như giải quyết xong vụ con bọ. Tôi muốn cô điền mẫu 302 về vụ này và nộp vào hồ sơ lưu. Cô tìm thấy con bọ, cô theo nó và tôi muốn báo cáo nói đúng như vậy. Cô làm được chứ?” Starling cảm thấy mệt mỏi vô cùng. “Vâng,” cô nói. “Để xe cô lại ga - ra, Jeff sẽ đưa cô về Quantico khi cô xong việc.” Trên cầu thang, cô quay lại nhìn những cánh cửa sổ che rèm có đèn sáng nơi người y tá đang trực, sau đó quay lại nhìn Crawford. “Tôi luôn nghĩ đến hai người, ông Crawford.” “Cảm ơn Starling,” ông nói.
“S 40 ĩ quan Starling, tiến sĩ Pilcher nói ông ấy sẽ gặp cô trong Vườn Côn trùng. Tôi sẽ đưa cô đến đấy,” người bảo vệ nói. Để tới được Vườn Côn trùng từ phía Đại lộ Constitution của bảo tàng, người ta phải đi thang máy lên một tầng bên trên con voi nhồi khổng lồ và đi qua một tầng rộng mênh mông dành riêng cho khoa học nghiên cứu con người — mở đầu là những lớp sọ người, lên cao và mở rộng, đại diện cho sự bùng nổ dân số từ khi Chúa giáng sinh. Starling và người bảo vệ đi qua một khu tiểu cảnh mờ tối với những hình nhân mình họa sự xuất hiện và biến đổi của loài người. Ở đây cũng trưng bày những nghi lễ — hình xăm, bó chân, mài răng, phẫu thuật sọ Peru và ướp xác. “Cô đã nhìn thấy Wilhem von Ellenbogen bao giờ chưa?” người bảo vệ hỏi, chiếu đèn pin vào một cái lồng. “Tôi không nghĩ là tôi đã từng thấy qua.” Starling nói mà không hề bước chậm lại. “Cô nên quay lại lúc nào có đèn sáng để chiêm ngưỡng anh ta. Được chôn cất ở Philadelphia vào thế kỷ 18. Biến luôn thành xà phòng khi bị nước ngầm chảy vào người.”
Vườn Côn trùng là một căn phòng lớn đang mờ tối và rộn ràng tiếng xào xạc. Trong phòng chất đầy lồng nhốt côn trùng sống. Bọn trẻ đặc biệt thích khu này và lũ lượt kéo tới đây cả ngày. Vào ban đêm, còn lại một mình, bọn côn trùng thật bận bịu. Một vài cái lồng được chiếu ánh sáng đỏ và ký hiệu lối thoát hiểm tỏa ánh sáng đỏ rực trong căn phòng mờ tối. “Tiến sĩ Pilcher?” người bảo vệ gọi từ cửa. “Đây rồi,” Pilcher nói, giơ cây bút chì lên ra hiệu. “Anh sẽ tự đưa quý cô đây ra chứ?” “Vâng, cảm ơn anh.” Starling lấy trong ví ra cây đèn pin nhỏ và thấy rằng đèn đã bật còn pin thì đã hết. Cơn giận dữ thoáng qua mà cô cảm thấy nhắc nhở cô rằng cô đang mệt và cần phải kiềm chế. “Xin chào, sĩ quan Starling.” “Tiến sĩ Pilcher.” “Giáo sư Pilcher thì sao nhỉ?” “Anh là giáo sư rồi à?” “Chưa, nhưng tôi cũng chưa phải là tiến sĩ. Tôi chỉ thấy vui khi gặp cô thôi. Cô có muốn xem vài con bọ không?” “Chắc rồi. Tiến sĩ Roden đâu?” “Cậu ấy đã thu hoạch được nhiều thứ khi thức trắng hai đêm trước để nghiên cứu phân loại lông nhưng rồi cuối cùng thì cậu ấy cũng phải đi ngủ. Cô đã nhìn thấy con bọ trước khi chúng tôi xem xét nó chưa?”
“Chưa.” “Thật là một mớ bòng bong không biết đường nào mà lần.” “Nhưng các anh tìm ra rồi phải không?” “Phải. Vừa mới đây.” Anh ta dừng lại ở một cái lồng lưới. “Trước hết để tôi cho cô xem một con bướm đêm giống con mà cô đem đến hôm thứ Hai. Con này không giống hệt như con của cô, nhưng cùng họ, một con cú con.” Luồng sáng của chiếc đèn pin gặp một con bướm đêm lớn màu xanh dương rực rỡ đang đậu trên một nhánh cây nhỏ, đôi cánh của nó đang gập lại. Pilcher thổi vào nó và ngay tức khắc khuôn mặt dữ tợn của một con cú xuất hiện khi con bướm đêm chưng mặt dưới của đôi cánh ra phía họ, những đốm màu hình con mắt trên đôi cánh mở trừng trừng như cảnh tượng cuối cùng mà một con chuột nhìn thấy. “Con này là Caligo beltrao — tương đối phổ biến. Nhung với loài của Klaus, chúng ta đang nói đến những con bướm đêm thật lớn. Đi nào.” Ở cuối phòng là một cái lồng đặt trong một cái ngách có một thanh chắn phía trước. Cái lồng được đặt ngoài tầm với của trẻ em và phủ vải. Một cái máy tạo ẩm chạy ro ro bên cạnh nó. “Chúng tôi để nó sau kính để người ta không chạm vào — nó có thể đánh lại đấy. Nó cũng thích ẩm ướt và kính giúp giữ hơi ẩm bên trong.” Pilcher thận trọng cầm quai nhấc cái lồng lên và đưa nó ra phía trước cái ngách. Anh ta mở nắp và bật ngọn đèn nhỏ bên trên cái lồng. “Đây là con bướm đêm đầu Tử thần,” anh ta nói. “Nó đang đậu trên cây cà — chúng tôi hy vọng nó sẽ đẻ trứng.”
Con bướm đêm trông tuyệt vời và đáng sợ, đôi cánh nâu đen của nó dựng lên như một cái áo choàng và trên tấm lưng đen lông lá, một dấu hiệu riêng biệt làm người ta kinh sợ khi tình cờ gặp phải nó trong khu vườn hạnh phúc của mình. Một hình sọ người, một cái sọ người vừa là sọ vừa là khuôn mặt, với đôi mắt đang chăm chăm nhìn ra, đôi gò má nổi rõ lên dưới đôi mắt. “Acherontia Styx,” Pilcher nói. “Nó được đặt tên theo tên hai con sông dưới địa ngục. Anh chàng của cô, hắn lúc nào cũng vứt xác xuống sông — có phải tôi đọc được như vậy không?” “Đúng,” Starling nói. “Nó có hiếm không?” “Ở vùng này của thế giới thì đúng như vậy. Không có con nào sống ngoài tự nhiên.” “Nó sống ở đâu?” Starling cúi mặt xuống gần nóc lưới của cái lồng. Hơi thở của cô làm lông trên lưng con bướm đêm lay động. Cô giật người lại khi nó rít lên và hung dữ đập cánh. Cô có thể cảm thấy làn gió thoảng từ đôi cánh vỗ. “Malaysia. Cũng có một loài ở châu Âu, được gọi là atropos, nhưng con này và con tìm thấy trong cổ họng Klaus là loài ở Malaysia.” “Vậy đã có ai đó nuôi nó.” Pilcher gật đầu, “Phải,” anh ta nói khi cô không nhìn anh ta. “Chắc nó được chuyển đến từ Malaysia dưới dạng trứng nhưng có lẽ là dạng nhộng. Chưa có ai làm cho nó đẻ trứng được khi bị nuôi nhốt. Chúng ghép đôi, nhưng không đẻ trứng. Khó nhất là làm thế nào để tìm được ấu trùng trong rừng. Sau đó thì nuôi chúng không khó.”
“Anh nói nó có thể đánh lại?” “Cái vòi của nó vừa cứng vừa sắc, chúng sẽ đâm vào tay cô nếu cô đùa dại với chúng. Đấy là một thứ vũ khí khác thường và không bị ảnh hưởng ở những mẫu vật được ngâm trong cồn. Điều đó đã giúp chúng tôi thu hẹp phạm vi tìm kiếm nên chúng tôi đã có thể nhận dạng nó rất nhanh.” Có vẻ như Pilcher bất ngờ cảm thấy ngượng ngùng, như thể anh ta đã ba hoa. “Chúng cũng rất hung hăng,” anh ta vội nói. “Chúng vào tổ ong cướp mật. Một lần chúng tôi đi sưu tầm ở Sabah, Borneo, và chúng bay đến tìm ánh đèn đằng sau nhà khách thanh niên. Nghe tiếng chúng thật kỳ quặc, chúng tôi…” “Con này từ đâu đến vậy?” “Đổi chác với chính phủ Malaysia đấy. Tôi không biết chúng ta lấy gì để đổi. Buồn cười là chúng tôi đứng đây trong bóng tối, chờ đợi với một cái xô đựng chất độc xyanua này, rồi thì…” “Cần thủ tục khai hải quan gì để nhập con này? Anh có hồ sơ hải quan không? Chúng có cần làm thủ tục xuất khẩu ở Malaysia không? Ai có thể có hồ sơ đó?” “Cô vội gì chứ. Xem này, tôi đã viết ra tất cả những gì chúng tôi có và cả những nơi để đặt quảng cáo nếu cô muốn làm thế. Nào, tôi sẽ tiễn cô ra.” Họ im lặng đi qua tầng nhà mênh mông. Dưới ánh đèn thang máy, Starling thấy Pilcher cũng mệt mỏi như cô. “Anh đã thức cả đêm làm việc này,” cô nói. “Anh thật tốt quá. Lúc trước tôi không có ý thô lỗ, tôi chỉ…” “Tôi hy vọng người ta bắt được hắn. Tôi hy vọng cô kết thúc sớm
được vụ này,” anh ta nói. “Tôi đã viết ra một số hóa chất có thể hắn sẽ mua nếu hắn muốn có những mẫu vật mềm… Sĩ quan Starling, tôi muốn được tìm hiểu cô.” “Có lẽ tôi sẽ liên lạc với anh, khi mọi chuyện qua đi.” “Chắc chắn là cô nên gọi cho tôi, chắc chắn thế. Tôi rất mong điện thoại của cô,” Pilcher nói. Thang máy đóng lại, Pilcher và Starling đi xuống. Tầng gác dành riêng cho loài người tĩnh lặng và không một hình người nào cử động. Người bị xăm, người bị ướp xác, những đôi chân bị trói không nhúc nhích. Ánh đèn sáng đỏ trong Vườn Côn trùng, phản chiếu trong hàng ngàn con mắt của những con vật dòng giống lâu đời hơn. Cái máy làm ẩm hết kêu rì rì lại rít lên. Bên dưới cái nắp, trong cái lồng tối đen, con bướm đêm đầu Tử thần trên cây cà leo xuống. Nó đi trên sàn lồng, đôi cánh của nó kéo lê như cái áo choàng, và nó tìm thấy một mẩu sáp ong trong cái đĩa. Quắp lấy miếng sáp ong trong đôi chân trước khỏe mạnh, nó duỗi vòi nhọn chọc qua lớp màng của một ô sáp ong. Bây giờ nó ngồi xuống hút mật trong khi quanh nó, trong bóng tối, những tiếng ro ro lại nổi lên, và cùng với chúng là những hành động đào bới và giết chóc.
C 41 atherine Baker Martin rơi vào vùng bóng tối đáng căm ghét. Bóng tối tụ lại sau mi mắt cô và trong những giây phút thiếp ngủ chập chờn cô mơ thấy bóng tối tràn lên người cô. Bóng tối đến âm thầm quỷ quyệt, lên mũi và vào tai cô, những ngón tay ẩm ướt thò vào các khe hở trên người. Cô lấy tay che mũi và miệng, bàn tay kia che âm hộ, siết chặt hậu môn, nghiêng một tai xuống thảm và hy sinh tai kia cho bóng tối chui vào. Đến cùng với bóng tối là âm thanh, và cô bật dậy. Một âm thanh bận rộn quen thuộc, một cái máy may. Tốc độ thay đổi. Chậm, rồi nhanh. Đèn đang sáng bên trên tầng hầm — cô có thể nhìn thấy một hình đĩa vàng mờ nhạt phía trên cô nơi cái nắp giếng nhỏ đang mở. Con chó xù sủa mấy lần và giọng nói ghê rợn kia đang nói với nó, nghèn nghẹt. May. May đồ dưới này thật không thích hợp. May thì phải may ở chỗ sáng. Phòng khâu vá đầy nắng trong tuổi thơ của Catherine thoáng qua thật đẹp trong trí nhớ của cô… người quản gia, Bea Love thân yêu, bên cái máy khâu… con mèo nhỏ của cô chơi đùa với cuộn len cạnh chiếc rèm tung bay. Giọng nói kia đã phá vỡ tất cả khi nó nựng nịu con chó con. “Bảo bối ơi, bỏ xuống đi con. Không kim nó đâm cho giờ? Ta gần
xong rồi. Phải rồi. Con yêu ạ. Con sẽ có thứ măm măăăăm khi chúng ta xoooong, con sẽ có cái măm măm ăm ăm ăm.” Catherine không biết cô đã bị bắt bao lâu. Cô biết mình được tắm hai lần — lần cuối cô đứng ra chỗ sáng, muốn hắn nhìn thấy thân thể cô, không chắc chắn lắm là hắn có nhìn xuống từ phía sau luồng sáng chói lòa hay không. Catherine Baker Martin rất đẹp lúc khỏa thân, nữ tính từ mọi phương diện, va cô biết điều đó. Cô muốn hắn nhìn. Cô muốn thoát khỏi cái hố. Đủ gần để chơi cùng là đủ gần để ra đòn — cô nhủ đi nhủ lại trong khi tắm. Cô càng lúc càng có ít đồ ăn nên cô biết mình phải làm chuyện đó khi còn sức. Cô biết cô sẽ chiến đấu với hắn. Cô biết cô có thể chiến đấu. Có lẽ tốt hơn là làm tình với hắn, làm tình với hắn tới lúc hắn kiệt sức chăng? Cô biết nếu cô có thể quấn chân quanh cổ hắn thì cô có thể đưa hắn về với Chúa sau một giây rưỡi. Mày có thể làm việc đó được không? Chắc chắn là mày làm được chứ. Bi và mắt, bi và mắt, bivàmắt. Nhưng không có tiếng động nào đến từ bên trên khi cô tắm xong và mặc vào bộ áo liền quần sạch sẽ. Không có phản ứng nào với sự mời gọi của cô khi cái xô nước tắm được kéo lên bằng sợi dây mỏng mảnh sau đó được thay bằng cái xô đi vệ sinh. Mấy tiếng sau đó, cô đang chờ đợi, lắng nghe tiếng máy khâu. Cô không la lên gọi hắn. Cuối cùng — chắc phải sau một ngàn hơi thở — cô nghe thấy tiếng hắn đi lên cầu thang, nói chuyện với con chó, nói gì đó như kiểu “… bữa sáng khi tao quay về.” Hắn để đèn trong tầng hầm. Đôi khi hắn làm như vậy. Tiếng móng chân và bước chân trên tầng bếp bên trên. Tiếng con chó rên rỉ. Cô tin rằng kẻ bắt cô đã bỏ đi. Đôi khi hắn đi rất lâu.
Những hơi thở đi qua. Con chó đi lại trong căn bếp bên trên, rên rỉ, cào cấu thứ gì đó trên sàn, quăng quật thứ gì đó trên sàn, có thể là cái bát của nó. Cào cấu, cào cấu gì đó bên trên. Rồi lại sủa ăng ẳng ăng ẳng, nhưng lần này không rõ ràng như những âm thanh khi con chó ở ngay bên trên cô trong bếp. Vì con chó xù không ở trong bếp. Nó đã dùng mõm mở cửa để đi xuống hầm đuổi chuột, như nó từng làm khi hắn ta đi vắng. Trong bóng tối, Catherine Martin sờ soạng cái thảm bên dưới cô. Cô tìm thấy một miếng xương gà và ngửi ngửi. Thật khó cưỡng lại việc ăn mẩu thịt và sụn còn lại trên đó. Cô ngậm nó vào mồm để làm nó ấm lên. Giờ thì cô đứng dậy, đung đưa nhẹ nhàng trong cái bóng tối làm người ta chóng mặt. Cùng với cô trong cái hố này chẳng có gì ngoài tấm thảm, bộ áo liền quần cô đang mặc, cái xô vệ sinh nhựa và sợi dây cotton mỏng manh nối từ sàn lên vùng ánh sáng vàng nhạt. Cô luôn nghĩ đến chuyện này bất kỳ lúc nào cô có thể suy nghĩ. Catherine với cao hết cỡ và tóm lấy sợi dây. Giật mạnh hay kéo từ từ? Cô đã nghĩ chuyện đó qua hàng ngàn hơi thở. Tốt hơn là kéo đều. Sọi dây cotton dai hơn cô tưởng. Cô với một lần nữa cao hết mức và kéo, tay đưa từ bên này sang bên kia, hy vọng sợi dây sẽ mòn ở chỗ chạm vào nắp gỗ đậy miệng hố trên đầu cô. Cô mài tới khi vai đau mỏi. Cô kéo, sợi dây căng ra, rồi lại chùng. Làm ơn đứt phía trên cao một chút. Phựt, và nó rơi xuống mặt cô. Cô ngồi xổm trên sàn, sợi dây vắt qua đầu và vai, không có đủ ánh sáng chiếu xuống từ cái lỗ bên trên nên cô không biết mình có được bao nhiêu. Không được làm rối. Cô cẩn thận cuộn sợi dây lên
sàn, đo bằng cánh tay. Cô đếm được 14 lần. Sợi dây bị đứt ở miệng giếng. Cô buộc chắc miếng xương gà với những mẩu thịt còn lại vào sợi dây, chỗ nó buộc vào quai xô. Giờ mới là phần khó khăn. Phải làm cẩn thận. Cô đang trong tâm trạng của kẻ ở trên chiếc thuyền nhỏ chông chênh đối mặt với gió bão nên không thể khinh suất. Cô buộc đầu bị đứt vào cổ tay, dùng răng siết nút thật chặt. Cô đứng cách sợi dây xa nhất có thể. Cầm quai xô, cô quay tròn và ném nó thẳng vào cái đĩa sáng nhàn nhạt trên đầu mình. Cái xô bay không trúng đích, đập vào thành giếng rơi xuống, đập trúng mặt và đầu cô. Con chó xù sủa lên to hơn. Cô từ từ sắp xếp lại cuộn dây rồi tiếp tục ném cái xô. Đến lần ném thứ ba, cái xô rơi xuống trúng ngón tay gãy của cô khiến cô phải dựa vào bức tường nghiêng vào bên trong mà thở cho tới khi hết cơn buồn nôn. Lần ném thứ tư, cái xô rơi trúng cô nhưng lần thứ năm thì không. Nó đã lọt ra ngoài. Cái xô nằm đâu đó trên cái nắp giếng gỗ bên cạnh miệng giếng đang mở. Nó nằm cách miệng giếng bao xa? Bình tĩnh nào. Cô kéo nhẹ nhàng. Cô giật nhẹ sợi dây để nghe thấy tiếng cái quai xô cọ vào gỗ phía trên cô. Con chó xù sủa to hơn. Cô không được kéo cái xô qua miệng giếng, nhưng cô phải kéo nó lại gần. Cô kéo nó lại gần. Con chó xù đang ở giữa những cái gương va hình nộm trong
một phòng gần đó. Nó đánh hơi những sợi chỉ và mảnh vụn dưới chân máy khâu. Đánh hơi quanh cái tủ đứng lớn màu đen. Nhìn ra cuối tầng hầm chỗ phát ra âm thanh. Lao tới chỗ tối tăm ấy sủa nhặng lên rồi lại lao về chỗ cũ. Lúc này một giọng nói, mơ hồ vọng khắp tầng hầm. “Bảo bôôôôối. Con chó xù sủa và nhảy chồm chồm. Thân thể bé nhỏ béo tròn của nó rung rinh theo tiếng sủa. Giờ thì là tiếng của một cái hôn ẩm ướt. Con chó nhìn lên tầng bếp phía bên, nhưng đó không phải là nơi tiếng nói phát ra. Tiếng chóp chép như đang ăn. “Nào, Bảo bối. Lại đây nào con yêu.” Rón rén, tai vểnh lên, con chó bước vào chỗ tối. Con chó xù có thể ngửi thấy mùi cái xương gà buộc ở quai xô. Nó cào vào thành giếng và rít lên. Chậc chậc chậc… Con chó nhỏ nhảy lên cái nắp giếng gỗ. Mùi thơm phát ra từ đây, giữa cái xô và cái hố. Con chó xù sủa vào cái xô, rên rỉ không biết nên làm gì. Cái xương gà giật nhẹ. Con chó xù nằm xuống, mõm giữa hai chân trước, mông chổng lên trời ngoáy điên cuồng. Nó sủa lên hai tiếng và nhảy chồm lên đớp cái xương gà. Có vẻ như cái xô đang kéo con chó ra khỏi miếng thịt gà. Con chó xù gầm gừ với cái xô và cố giữ chặt, chân chặn quai xô, hai hàm răng kẹp chặt khúc xương. Bất ngờ cái xô hất ngã con chó, kéo nó. Nó cố gắng đứng dậy, lại bị vấp, nó đánh vật với cái xô,
một chân sau trượt vào miệng giếng, móng vuốt nó điên cuồng cào vào gỗ. Cái xô trượt qua miệng giếng, kẹp thân sau con chó vào hố và con chó xù buông ra. Cái xô trượt qua miệng giếng và rơi xuống, rơi tự do cùng khúc xương gà. Con chó xù giận dữ sủa xuống dưới giếng, tiếng sủa âm vang xuống đáy giếng. Rồi nó ngừng sủa và nghiêng đầu nghe tiếng động nào đó mà chỉ có nó nghe thấy. Nó nhảy khỏi miệng giếng chạy lên cầu thang và rên ư ử vui sướng khi có tiếng đập cửa đâu đó trên cầu thang. Những giọt nước mắt nóng bỏng của Catherine Baker Martin tràn ra má, rơi xuống thấm qua bộ áo liền quần của cô, ấm ấm trên ngực cô. Cô tin rằng chắc chắn mình sẽ chết.
C 42 rawford đứng một mình giữa phòng làm việc, hai tay đút túi. Ông đứng đó từ 12 giờ 30 đến 12 giờ 33 phút sáng, để tìm một ý tưởng. Sau đó ông gửi điện tín đến Cục Quản lý Phương tiện Cơ giới California yêu cầu tung tích của ngôi nhà lưu động mà bác sĩ Lecter nói Raspail đã mua ở California, ngôi nhà Raspail dùng trong cuộc tình với Klaus. Crawford yêu cầu Cục Quản lý Phương tiện kiểm tra những tấm vé phạt đã phát hành cho bất cứ tài xế nào không phải Benjamin Raspail. Ông lấy một bảng kẹp giấy ngồi xuống sofa soạn một mẩu quảng cáo tìm bạn tình để đăng trên những tờ báo lớn: Một bông hoa mũm mĩm, nồng nàn, 21 tuổi, tìm kiếm người đàn ông biết trân trọng cả chất lượng và số lượng. Người mẫu quảng cáo mỹ phẩm, như anh đã thấy trong các quảng cáo trên báo, giờ em muốn thấy anh. Xin gửi ảnh trước khi gửi thư. Crawford suy nghĩ một lúc, xóa từ mũm mĩm, thay bằng từ đẫy đà. Đầu ông gục xuống và thiếp đi. Màn hình xanh của máy tính phản chiếu thành một hình vuông nhỏ xíu trên đôi mắt kính của ông. Trên màn hình có chuyển động, những dòng chữ dịch dần lên trên,
chuyển động trên cặp mắt kính của Crawford. Trong giấc ngủ, ông lắc đầu tựa hồ như muốn rũ bỏ hình ảnh đó. Mẩu tin như sau: Memphis POX đã tìm thấy hai thứ khi khám xét phòng giam Lecter: — Một chìa khóa còng tự chế làm từ ống mực bút bi. Cắt bằng cách mài. Baltimore yêu cầu kiểm tra phòng giam bệnh viện để tìm dấu vết nhà sản xuất, Copley, đặc vụ toàn quyền Memphis — Một mẩu giấy do kẻ đào tẩu để lại trôi trong bồn cầu. Bản chính được gửi tới phòng thí nghiệm/bộ phận tài liệu WX. Hình trên giấy như dưới đáy. Hình đã được gửi tới Langley, người nhận: Benson — bộ phận mã hóa. Bức hình xuất hiện, trồi lên từ cạnh dưới màn hình: Tiếng bíp đúp nhẹ của màn hình máy tính không đánh thức được Crawford, nhưng ba phút sau điện thoại đã làm chuyện đó. Đó là Jerry Burroughs từ đường dây nóng của Trung tâm Thông tin Tội phạm Quốc gia. “Xem màn hình đi Jack.” “Chờ một giây,” Crawford nói. “Được rồi, tốt.” “Phòng thí nghiệm tìm ra rồi Jack. Hình vẽ Lecter để lại trong phòng giam. Những con số nằm giữa những chữ cái tên Chilton, liên quan tới sinh hóa — C33H36N4O6 — là công thức hóa học của một sắc tố trong mật người có tên là bilirubin. Phòng thí nghiệm nói rằng đó là chất tạo màu chính cho phân người.” “Mẹ kiếp.”
“Ông đã đúng về Lecter, Jack ạ. Hắn ta chỉ đùa cợt với họ thôi. Quá tệ cho thượng nghị sĩ Martin. Phòng thí nghiệm nói màu bilirubin giống y đúc màu tóc của Chilton. Hài hước kiểu nhà thương điên. Ông có nhìn thấy Chilton trong bản tin 6 giờ không?” “Không. “Marilyn Sutter có xem trên gác. Chilton ba hoa về Săn lùng Billy Rubin. Sau đó ông ta đi ăn tối với một phóng viên truyền hình. Ông ta ở đấy khi Lecter đào tẩu. Đúng là đồ khốn siêu cấp.” “Lecter nói Starling cần ghi nhớ rằng Chilton không có bằng y khoa,” Crawford nói. “Có, tôi có đọc trong phần tóm tắt. Tôi nghĩ Chilton cố chơi Starling nhưng bị cô này làm cho mất mặt. Hắn ta có thể ngu nhưng không mù. Cô bé ấy thế nào?” “Ổn, tôi nghĩ thế. Kiệt sức.” “Ông có nghĩ Lecter cũng đùa cợt với cô ấy không?” “Có thể. Nhưng ta vẫn nên theo đuổi chuyện đó. Tôi không biết các bệnh viện làm ăn thế nào. Tôi nghĩ tôi phải lấy chỗ bệnh án đó qua tòa án. Tôi ghét bị phụ thuộc vào họ. Giữa buổi sáng, nếu không có gì mới, ta sẽ xin lệnh của tòa.” “Này Jack… đám người ngoài đó biết Lecter trông thế nào chứ, đúng không?” “Chắc chắn rồi.” “Hắn đang cười nhạo ở đâu đó ngoài kia.” “Không lâu nữa đâu,” Crawford nói.
B 43 ác sĩ Hannibal Lecter đứng trước bàn tiếp tân của khách sạn Marcus sang trọng ở St. Louis. Hắn đội chiếc mũ nâu và mặc áo choàng đi mưa cài khuy lên tận cổ. Lớp băng giải phẫu gọn gàng che kín mũi và gò má. Hắn ký vào sổ đăng ký là Lloyd Wyman, chữ ký hắn đã luyện trong xe của Wyman. “Ông sẽ trả tiền bằng cách nào, thưa ông Wyman?” người tiếp tân hỏi. “Thẻ American Express,” bác sĩ Lecter đưa cho anh ta thẻ tín dụng của Lloyd Wyman. Tiếng dương cầm nhẹ nhàng vang đến từ sảnh. Bác sĩ Lecter có thể nhìn thấy hai người cũng quấn băng ngang mũi trong quầy bar. Một cặp trung niên đi ra thang máy, ngâm nga một điệu nhạc của Cole Porter. Một người phụ nữ dán miếng gạc lên một bên mắt. Người nhân viên đã xong với cái thẻ tín dụng. “Ông xong rồi đấy, ông Wyman, ông có quyền sử dụng nhà để xe của bệnh viện.” “Tôi biết, cảm ơn anh,” bác sĩ Lecter nói. Hắn đã đỗ xe của Wyman trong nhà xe, với Wyman trong cốp. Người phục vụ xách đồ đạc của Wyman lên phòng được boa
bằng một trong những tờ năm đô của Wyman. Bác sĩ Lecter đặt một cái bánh kẹp và đồ uống rồi thư giãn thật lâu dưới vòi sen. Căn phòng có vẻ thật lớn với hắn nếu so với thời gian ở tù. Hắn thích thú đi đi lại lại trong phòng. Từ cửa sổ phòng mình hắn có thể nhìn thấy tòa nhà Myron và Sadie Fleischer của bệnh viện thành phố St. Louis, nơi đặt một trong những trung tâm tiên tiến nhất trên thế giới về phẫu thuật sọ và mặt. Ở đây người ta đã quá nhẵn mặt bác sĩ Lecter nên hắn không thể làm phẫu thuật thẩm mỹ được, nhưng đây là nơi duy nhất trên thế giới mà hắn có thể đi lại với khuôn mặt băng bó mà không thu hút quá nhiều sự chú ý. Nhiều năm trước, hắn đã ở đây một lần, khi hắn đang nghiên cứu Tâm thần học tại thư viện Tưởng niệm Robert J. Brockman hoành tráng. Phòng có cửa sổ, nhiều cửa sổ, thật tuyệt. Hắn đứng bên những ô cửa sổ trong bóng tối, ngắm nhìn ánh đèn xe hơi chuyển động trên cầu MacArthur và thưởng thức ly rượu. Hắn thấy người uể oải dễ chịu sau năm tiếng lái xe từ Memphis. Việc duy nhất phải xử lý thực sự vội vàng tối nay là trong nhà xe ngầm ở sân bay quốc tế Memphis. Dọn dẹp bằng bông băng, cồn và nước cất đằng sau chiếc xe cứu thương là việc không hề thoải mái. Nhưng khi hắn đã khoác bộ đồ trắng của nhân viên xe cứu thương thì việc còn lại chỉ là bắt được một người lữ hành đơn độc trên một lối đi không người của khu đỗ xe dài hạn trong nhà xe khổng lồ ấy. Người đàn ông thật hay lại đang cúi xuống cốp xe lấy cái va – li đựng hàng mẫu, không bao giờ thấy được bác sĩ Lecter xuất hiện đằng
sau. Bác sĩ Lecter tự hỏi không biết cảnh sát có tin rằng hắn ngu ngốc đến mức sẽ bay từ sân bay. Vấn đề duy nhất khi lái xe đến St. Louis là tìm ra cách bật đèn, điều chỉnh đèn và gạt nước trong chiếc xe lạ vì bác sĩ Lecter không quen với các nút điều khiển bên cạnh vô – lăng. Ngày mai hắn sẽ đi mua những thứ cần thiết: thuốc nhuộm tóc, đồ cắt tóc, một cái đèn cực tím và những thứ khác hắn cần để thay hình đổi dạng ngay tức khắc. Khi nào thuận tiện hắn mới cao chạy xa bay. Không việc gì phải vội vàng.
A 44 rdelia Mapp đang ở trong tư thế quen thuộc, chống khuỷu tay nằm trên giường với một cuốn sách. Cô đang nghe tin trên đài. Cô tắt đài khi thấy Starling vào. Nhìn khuôn mặt mệt mỏi của Starling, cô biết ý không hỏi han gì thêm ngoài, “Muốn uống ly trà không?” Khi học bài, Mapp uống loại đồ uống cô tự nấu lấy từ những thảo mộc bà cô gửi cho, thứ cô gọi là Trà của những người thông minh. Trong hai người thông minh nhất mà Starling biết thì một là người điềm đạm nhất còn người kia là kẻ đáng sợ nhất. Starling hy vọng điều đó sẽ cho cô một sự cân bằng nào đó trong mối quan hệ của mình. “May mà hôm nay cậu nghỉ học đấy,” Mapp nói. “Cái anh chàng Kim Won khốn kiếp kia cho cả bọn ngã xuống đất luôn. Tớ không thèm nói điêu. Tớ nghĩ là ở Hàn Quốc trọng lực lớn hơn ở đây. Thế nên tới đây họ nhẹ cân đi, thấy không, lại được dạy môn thể dục vì với họ chuyện ấy chả tốn tí công sức nào… John Brigham đến đấy.” “Khi nào?” “Tối nay, vừa lúc nãy. Muốn biết cậu về chưa. Anh ta còn chải tóc gọn gàng. Cứ lóng ngóng như sinh viên mới nhập học ngồi ngoài
sảnh vậy. Chúng tớ có nói chuyện một chút. Anh ta nói nếu cậu bị tụt hậu và chúng mình cần nhồi sách vở vào đầu thay vì bắn súng vào giờ tập bắn trong vài ngày tới thì cuối tuần anh ta sẽ tới trường bắn dạy bù cho bọn mình. Tớ nói tớ sẽ cho anh ta biết sau. Một anh chàng được đấy chứ.” “Phải, đúng thế.” “Cậu có biết là anh ta muốn cậu bắn thi với bên Phòng chống Ma túy và Hải quan trong giải liên ngành chứ?” “Không.” “Không phải giải Nữ. Giải mở rộng. Câu hỏi tiếp theo. Cậu học Tu chính án thứ tư để thứ Sáu thi chưa?” “Tớ cũng học tương đối.” “Được, thế vụ Chimel kiện California là gì?” “Khám xét trong các trường cấp hai.” “Sao lại khám xét như thế?” “Tớ không biết.” “Đấy là khái niệm Vùng tiếp xúc trực tiếp. Schneckloth là ai?” “Chết tiệt, tớ chịu.” “Vụ Schneckloth kiện Bustamonte.” “Có phải là kỳ vọng hợp lý về quyền riêng tư?” “Sai bét. Kỳ vọng về quyền riêng tư là nguyên tắc Katz. Schneckloth là sự chấp thuận khám xét. Thế này thì cậu phải nhồi nhét thêm rồi, cô bé ơi. Tớ có vở ghi đây.”
“Không phải tối nay.” “Ừ. Mai ngủ dậy đầu cậu mới tỉnh táo và trống trơn, khi đó chúng ta sẽ bắt đầu gieo cấy để thứ Sáu thu hoạch. Starling, Brigham nói — anh ta đáng ra là không được nói, tớ đã hứa giữ bí mật với anh ta — cậu sẽ qua được vụ điều trần. Anh ta nghĩ rằng cái tên khốn huênh hoang Krendler kia sẽ không nhớ tới cậu sau hai ngày nữa đâu. Điểm của cậu tốt, cậu sẽ qua được vụ này dễ thôi.” Mapp dò đoán khuôn mặt mệt mỏi của Starling. “Cậu đã làm việc tốt nhất có thể làm được cho mảnh đời tội nghiệp kia rồi, Starling. Cậu đã giơ đầu ra vì cô ta để rồi bị đá đít vì cô ta, nhưng cậu đã giúp vụ án tiến triển. Giờ thì cậu xứng đáng có cơ hội cho mình. Sao cậu không ngủ đi? Tớ cũng sẽ im đây.” “Cảm ơn, Ardelia.” Đèn tắt. “Starling?” “Gì thế?” “Theo cậu ai đẹp giai hơn, Brigham hay Hot Bobby Lowrance?” “Hỏi khó thế?” “Brigham có hình xăm trên vai, tớ nhìn thấy qua áo anh ta. Hình gì thế?” “Tớ chịu.” “Cậu nói cho tớ biết ngay nếu cậu biết chứ?” “Chưa chắc.” “Tớ đã kể với cậu về cái quần bơi da rắn của Hot Bobby rồi mà.”
“Cậu chỉ nhìn thấy chúng qua cửa sổ khi anh ta tập tạ thôi.” “Có phải Gracie nói với cậu không? Mồm miệng con bé này thật là…” Starling đã ngủ.
G 45 ần 3 giờ sáng, Crawford đang thiếp đi bên cạnh vợ chợt tỉnh giấc. Có gì đó trong hơi thở của Bella và bà trở mình trên giường. Ông ngồi dậy cầm tay bà. “Bella?” Bà hít vào một hơi sâu rồi thở ra. Lần đầu tiên sau nhiều ngày bà mở mắt. Crawford cúi xuống gần gương mặt vợ nhưng không nghĩ bà có thể nhìn thấy ông. “Bella, anh yêu em, em yêu ạ,” ông nói, biết đâu bà có thể nghe được. Nỗi sợ hãi lướt qua thành ngực ông, xoay vòng bên trong ông như một con dơi trong nhà. Sau đó ông kiểm soát được nó. Ông muốn lấy gì đó cho bà, bất cứ thứ gì, nhung ông không muốn bà cảm thấy ông buông tay bà. Ông áp tai lên ngực bà. Ông nghe thấy một tiếng đập nhẹ như một tiếng vẫy cánh và sau đó trái tim bà ngừng lại. Không còn gì để nghe, chỉ có tiếng ong ong vừa lạnh lẽo vừa lạ lùng. Ông không biết đó là thanh âm trong ngực bà hay chỉ là trong tai ông. “Chúa phù hộ em và giữ em bên Người… và với những người thân yêu của em,” Crawford nói những lời mà ông muốn là sự thật.
Ông nâng vợ dậy, ngồi dựa lưng vào thành giường và ôm vợ vào ngực trong khi não bà chết dần. Cằm ông đẩy cái khăn che chỗ tóc còn lại của bà ra. Ông không khóc. Ông đã xong với những giọt nước mắt từ lâu rồi. Crawford thay cho vợ chiếc váy ngủ bà ưa thích, chiếc váy đẹp nhất của bà, và ngồi một lát bên chiếc giường cao, áp tay bà lên ngực mình. Đó là một bàn tay rắn chắc, khéo léo, mang dấu vết một đời làm vườn, lúc này hằn lên dấu những mũi kim truyền thuốc. Khi bà từ vườn về, bàn tay bà có mùi húng tây. “Cứ coi đấy là lòng trắng trứng trên ngón tay,” các cô gái ở trường tư vấn cho Bella về tình dục. Bà và Crawford đã đùa cợt về chuyện đó trên giường, nhiều năm trước, mấy năm gần đây, năm ngoái. Đừng nghĩ đến chuyện đó, hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp, những điều tinh khôi. Đó là một điều tinh khôi. Lần đầu gặp gỡ trong thang máy, bà đội chiếc mũ tròn và đi găng trắng, còn ông huýt sáo bài Begin the Beguine của Cole Porter. Trong phòng ngủ bà trêu ông hoài rằng túi ông có linh tinh đủ thứ như túi trẻ con. Crawford cố đi sang phòng bên cạnh — ông vẫn có thể quay lại khi ông muốn nhìn thấy bà qua cánh cửa mở, tĩnh tại trong ánh sáng ấm áp của ngọn đèn cạnh giường. Ông chờ đến lúc cơ thể bà trở thành một