Sự Im Lặng Của Bầy Cừu

hồi còn học trung học. Sau

hồi còn học trung học. Sau

hồi còn học trung học. Sau đó Pam và tôi đến hiệu Richards để xem có thể vào làm ở đó không, quần áo ở đó phải nói là đẹp thực sự, rồi họ thuê tôi, sau đó là Pam nên Pam bảo Fredrica đến vì họ cần thêm một cô nữa và rồi cô ấy đến, nhưng bà Burdine — người quản lý bán hàng thì phải? — bà ta nói ‘Thế này, Fredrica, chúng tôi cần một người, cô biết đấy, người mà người ta muốn bắt chước, người mà khi họ vào cửa hàng và nói tôi muốn được như cô ấy, và rồi cô có thể tư vấn cho họ là họ mặc bộ này bộ kia sẽ trông như thế nào. Nếu cô có thể thư thả mà giảm cân đi đôi chút thì tôi muốn cô quay lại đây gặp tôi ngay. Nhưng nếu giờ cô muốn làm việc sửa chữa quần áo, tôi sẽ để cô thử, tôi sẽ nói chuyện với bà Lippman.’ Bà Burdine nói thi ngon ngọt thế đấy nhưng thực ra bà ta rất tệ, lúc đầu tôi cũng không nhận ra điều đó.” “Vậy là Fredrica chỉnh sửa quần áo cho hiệu Richards, cùng chỗ với cô?” “Chuyện ấy làm cô ấy thấy tổn thương, chắc chắn rồi. Bà già Lippman sửa quần áo cho tất cả mọi người. Bà ấy có công ty và bà

ấy có nhiều việc hơn là bà ấy có thể làm và Fredrica làm việc cho bà ấy. Bà Lippmann may quần áo cho tất cả mọi người. Sau khi bà Lippmann nghỉ, con bà ấy hay gì đó không muốn làm nữa nên Fredrica nhận hết việc và may đồ cho tất cả mọi người. Cô ấy chỉ làm việc ấy thôi. Cô ấy hay gặp tôi và Pam, chúng tôi đến nhà Pam vào bữa trưa và xem The Young and the Restless. Cô ấy thường đem đồ đến và khâu khâu vá vá không lúc nào ngừng tay.” “Fredrica có làm việc ở cửa hàng, có đo cho khách không? Cô ấy có gặp khách hàng hay những người bỏ mối không?” “Đôi khi, nhưng không nhiều. Tôi cũng đâu có làm việc hằng ngày.” “Nhưng bà Burdine thì ngày nào cũng làm việc, bà ấy có biết không?” “Có, tôi nghĩ vậy.” “Fredrica có bao giờ nhắc đến việc may cho một công ty tên là Mr. Hide ở Chicago hay thành phố Calumet không, có thể may lớp lót cho đồ da?” “Tôi không biết, không chừng bà Lippman biết.” “Cô đã bao giờ thấy thương hiệu Mr. Hide chưa? Hiệu Richards có bao giờ bán thương hiệu ấy không, hay một tiệm thời trang?” “Không.” “Cô có biết bà Lippman ở đâu không? Tôi muốn nói chuyện với bà ấy.” “Bà ấy chết rồi. Bà ấy đến Florida để nghỉ hưu rồi chết ở đấy, Fredrica nói thế. Tôi không biết bà ấy, tôi và Skip chỉ thỉnh thoảng

đến đón Fredrica ớ đó khi cô ấy phải ôm đồm quá nhiều quần áo. Cô thử nói chuyện với gia đình bà ấy xem. Tôi sẽ viết địa chỉ cho cô.” Thật là quá chán ngán, khi mà điều Starling muốn là tin mới từ thành phố Calumet. Đã hết 40 phút. Nhóm giải cứu con tin chắc đã hạ cánh. Cô xê dịch để khỏi phải nhìn đồng hồ rồi lại tiếp tục. “Stacy Fredrica mua quần áo ở đâu, cô ấy mua mấy bộ thể thao Juno ngoại cỡ ấy ở chỗ nào, rồi những cái áo len chui đầu nữa?” “Hầu hết cô ấy tự may. Tôi nghĩ cô ấy có mấy cái áo chui ở hiệu Richards, cô biết đấy, khi mà mọi người bắt đầu mặc áo rộng trùm xuống quần bó. Khi đó có nhiều hiệu bán đồ như thế. Cô ấy được giảm giá ở Richards vì cô ấy may cho họ.” “Cô ấy có bao giờ đi mua đồ ở cửa hàng bán đồ ngoại cỡ không?” “Chúng tôi đi khắp nơi ngắm nghía, cô biết kiểu ấy rồi đấy. Chúng tôi đến Personality Plus và cô ấy tìm kiếm ý tưởng, cô biết đấy, làm mẫu bắt mắt cho đồ ngoại cỡ.” “Có ai đến quấy rầy các cô ở cửa hàng ngoại cỡ không, hay là Fredrica có bao giờ cảm thấy có ai đó để ý đến cô ấy không?” Stacy nhìn một giây lên trần nhà và lắc đầu. “Stacy, những người chuyển giới có bao giờ đến tiệm Richards, hay có người đàn ông nào mua đồ ngoại cỡ không, cô có bao giờ gặp chuyện đó không?” “Không. Một lần tôi và Skip có nhìn thấy vài người trong một quán rượu ở Columbus.”

“Fredrica có đi cùng không?” “Không. Cuối tuần chúng tôi chỉ đi với nhau.” “Cô có thể viết ra tên những hiệu bán đồ ngoại cỡ mà cô đến cùng với Fredrica không, cô có nhớ hết được không?” “Chỉ ở đây, hay là cả ở đây và Columbus nữa?” “Cả ở đây và Columbus. Và cả Richards nữa, tôi muốn nói chuyện với bà Burdine.” “Được rồi. Làm đặc vụ FBI là một công việc tốt đấy chứ?” “Tôi nghĩ vậy.” “Cô thường được đi công tác các nơi không? Ý tôi là đến những nơi hay hơn ở đây.” “Thỉnh thoảng.” “Ngày nào cũng phải mặc đẹp, đúng không?” “Ờ, cũng đúng. Ta phải ăn mặc cho phù hợp với công việc.” “Cô làm thế nào để thành đặc vụ FBI vậy?” “Phải vào đại học trước đã, Stacy ạ.” “Thế thì tốn kém nhỉ.” “Phải. Nhưng đôi khi người ta cũng cấp học bổng. Cô có muốn tôi gửi cho cô vài thứ không?” “Vâng. Tôi cũng đang nghĩ Fredrica đã rất mừng cho tôi khi tôi có công việc này. Cô ấy đã thực sự vui mừng — cô ấy chưa bao giờ có một công việc văn phòng cho ra hồn — cô ấy nghĩ đấy là một thành công. Công việc này — hồ sơ bìa cứng và Barry Manilow quát tháo

trên loa phóng thanh suốt ngày — cô ấy nghĩ là thứ hay ho lắm. Đúng là ngốc thật.” Lệ dâng trên mắt Stacy Hubka. Cô ta mở to mắt và ngửa đầu ra để khỏi phải trang điểm lại. “Danh sách của tôi thì sao?” “Tôi phải về chỗ tôi mới có máy gõ Word, và còn cần cả sổ điện thoại nữa.” Cô ta bỏ đi, đầu vẫn ngửa ra sau, định hướng dựa vào trần nhà. Điện thoại mới là thứ làm khổ Starling. Lúc Stacy Hubka vừa ra khỏi. Starling gọi điện về Washington để lấy tin.

C 55 ùng lúc đó ở phía Nam hồ Michigan, một chiếc máy bay phản lực 24 chỗ mang ký hiệu dân sự kết thúc chuyến bay tốc lực tối đa và vẽ thành một vòng cung dài xuống thành phố Calumet, bang Illinois. Mười hai người trong Đội giải cứu con tin cảm thấy dạ dày cuộn lên. Dọc theo lối đi, có vài cái ngáp dài để cố tình làm ra vẻ bình thản. Trưởng nhóm Joel Randall ngồi đầu khoang hành khách tháo tai nghe và nhìn qua tờ giấy chi chép trước khi đứng lên nói. Anh ta tin rằng mình có nhóm SWAT được đào tạo tốt nhất trên thế giới, và có thể anh ta đúng. Vài người trong số họ chưa từng bị dính đạn, nhưng theo như kết quả kiểm tra, họ là những người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất. Randall đứng ở lối đi máy bay đã nhiều, anh ta dễ dàng giữ thăng bằng khi máy bay tròng trành hạ cánh. “Thưa các vị, phương tiện di chuyển trên mặt đất của chúng ta do bên DEA cung cấp và đã được ngụy trang. Họ có một xe bán hoa và một xe thợ sửa ống nước. Vậy Vemon, Eddie mặc đồ chống đạn và thường phục vào. Nếu chúng ta dùng lựu đạn sốc tấn công, nhớ là các anh không đeo mặt nạ chống chói đâu đấy.”

Vemon lẩm bẩm với Eddie, “Nhớ phải che má lại.” “Anh ta nói đừng chìa mông ra à? Tớ nghĩ anh ta nói đừng chường mặt ra chứ nhỉ?” Eddie lẩm bẩm lại. Vemon và Eddie — những người đầu tiên tiếp cận cửa — phải mặc bộ áo giáp chống đạn mỏng bên trong thường phục. Những người khác có thể mặc áo giáp cứng, chống được đạn súng trường. “Bobby, cậu nhớ cho mỗi xe một máy liên lạc để quân ta đỡ bị nhiễu loạn với những anh chàng DEA kia,” Randall nói. Cục Phòng chống Ma túy dùng bộ đàm tần số UHF còn FBI dung VHF. Trước đây hai bên từng có sự cố. Họ được trang bị cho hầu hết mọi điều kiện, ngày cũng như đêm: họ có thiết bị trèo tường, thiết bị nghe trộm Wolf’s Ear và VanSleek Farfoon, thiết bị nhìn đêm. Lồng phồng trong túi vũ khí có ống ngắm ban đêm trông giống như những thứ nhạc cụ của một ban nhạc. Vụ này phải làm chính xác như phẫu thuật và các thứ vũ khí đã phản ánh chuyện đó — không có loại nào dùng khóa nòng mở. Ai nấy đeo thắt lưng quân trang trong lúc máy bay dần hạ cánh. Randall nhận được tin từ Calumet trong tai nghe. Anh ta che ống nói và nói tiếp với nhóm. “Các cậu, họ đã rút lại còn hai địa chỉ. Ta sẽ lấy địa chỉ khả dĩ nhất, nhóm SWAT của Chicago sẽ đảm nhiệm địa chỉ kia.” Nơi đến là sân bay Lansing Municipal, gần Calumet nhất từ phía Đông Nam Chicago. Máy bay được phép hạ cánh lập tức. Người phi công phanh nó lại bên cạnh hai chiếc xe hơi đang đỗ cuối đường băng xa nhà ga nhất.

Mọi người chào hỏi nhau rất nhanh bên ngoài chiếc xe bán hoa. Viên chỉ huy DEA đưa cho Randall thứ giống như một lẵng hoa. Đấy là một cây búa phá cửa nặng 6kg, đầu cây búa được bọc trong giấy màu trông như một chậu hoa, cán búa gắn hoa trang trí. “Các anh có thể giao thứ này,” anh ta nói. “Chào mừng đến Chicago.”

N 56 gài Gumb sẽ xử lý nó cuối giờ chiều nay. Hắn xem lại cuốn băng nhiều lần, những giọt lệ rưng rưng trên khóe mắt chực trào ra. Trên màn ảnh nhỏ, mẹ leo lên cầu trượt nước rồi trượt xuống bể, trượt xuống bể. Nước mắt làm mờ mắt Gumb, như thể chính hắn cũng đang trong bể bơi. Trên bụng hắn, một chai nước nóng kêu òng ọc như dạ dày con chó nhỏ òng ọc khi nó nằm trên bụng hắn. Hắn không thể chịu đựng được thêm nữa — thứ hắn có dưới tầng hầm đang giữ Bảo bối làm con tin, đe dọa nó. Bảo bối đang đau đớn, hắn biết nó đang đau. Hắn không chắc hắn có thể giết chết nó trước khi nó làm Bảo bối trọng thương, nhưng ít nhất hắn cũng phải thử. Ngay bây giờ. Hắn cởi quần áo rồi mặc áo choàng tắm — hắn luôn luôn trần truồng và đẫm máu như trẻ sơ sinh khi thu hoạch da. Hắn lấy trong tủ thuốc to đùng ra lọ thuốc mà hắn vẫn bôi cho Bảo bối khi nó bị mèo cào. Hắn lấy ra mấy miếng băng cứu thương Bandaid cùng hộp tăm bông và một cái đỡ cổ bằng nhựa mà bác sĩ thú y đã đưa cho hắn để giữ cho Bảo bối không tự nhay chỗ đau của nó. Hắn có sẵn mấy miếng đè lưỡi dưới tầng hầm để nẹp cho cái

chân gãy nhỏ bé của nó và một ống thuốc giảm đau để thoa cho con chó nếu cái đồ ngu xuẩn kia cào phải nó lúc giãy chết. Một phát cẩn thận nhắm vào đầu và hắn chỉ phải hy sinh mái tóc. Bảo bối với hắn quý hơn mái tóc. Mái tóc là sự hy sinh, là món đồ hiến tế vì sự an toàn của con chó. Im lặng đi xuống cầu thang, vào bếp. Bỏ đôi dép đi trong nhà ra rồi xuống những bậc cầu thang tăm tối của hầm ngầm, đi sát tường để cầu thang không bị cọt kẹt. Hắn không bật đèn. Dưới chân cầu thang hắn rẽ phải vào phòng làm việc, sờ soạng tìm lối trong bóng tối quen thuộc, cảm thấy dưới chân hắn nền nhà thay đổi. Tay áo hắn lướt qua cái lồng và hắn nghe thấy tiếng rít nhẹ giận dữ của một con bướm đêm đang ấp. Cái tủ đây rồi. Hắn tìm thấy cây đèn hồng ngoại và đeo cặp kính lên đầu. Giờ thì cả thế giới có màu xanh lá. Hắn đứng một chút trong tiếng lục bục êm tai của những cái bể, trong tiếng xì xì ấm áp của những đường ống hơi nước. Ông chủ của bóng tối, bà hoàng của bóng tối. Những con bướm đêm bay tự do trong không trung để lại những vạch huỳnh quang màu xanh lá trong tầm nhìn của hắn, những làn khí mong manh trên mặt hắn khi những đôi cánh phủ lông tơ vuốt lên bóng tối. Hắn kiểm tra lại khẩu Colt Python. Nó đã được nạp loại đạn chì đầu bằng .38 Special. Chúng sẽ xuyên vào sọ rồi nổ để giết chết đối tượng ngay tức khắc. Nếu nó đứng lên khi hắn bắn, nếu hắn bắn thẳng xuống đỉnh đầu, viên đạn sẽ ít có khả năng thoát ra dưới hàm dưới và xé rách ngực hơn đạn Magnum.

Hắn đi rón rén, im lặng, âm thầm, khom khom người, những ngón chân sơn vẽ bám chặt vào ván sàn cũ kỹ. Im lặng đi trên nền cát của phòng hầm ngầm. Im lặng nhưng không quá chậm chạp. Hắn không muốn mùi người từ hắn có đủ thời gian bay tới chỗ con chó nhỏ dưới đáy giếng. Thành giếng tỏa ánh sáng xanh, đá và vữa phân cách rõ ràng, những vân gỗ trên cái nắp nhìn rất rõ nét. Giữ cây đèn và cúi nhìn xuống. Chúng kia rồi. Nó đang nằm nghiêng như một con tôm khổng lồ. Có thể là đang ngủ. Bảo bối đang cuộn tròn áp vào người nó, chắc chắn là đang ngủ, ôi, xin đừng chết. Cái đầu đang lộ ra. Một phát đạn vào cổ cũng được đấy — giữ được mái tóc. Nhưng nhiều rủi ro quá. Ngài Gumb cúi nhìn xuống hố, đôi mắt lồi ra của cặp kính nhìn đêm hướng xuồng dưới. Khẩu Python nằng nặng phía đầu và rất sướng tay, nhắm bắn tuyệt vời. Cần phải giữ nó trong luồng sáng của cây đèn hồng ngoại. Hắn nhắm vào bên cạnh đầu nó, đúng vào chỗ mớ tóc ẩm ướt dính vào thái dương. Do tiếng động hay mùi, hắn không biết — nhưng Bảo bối thức dậy và rít lên, nhảy phốc lên trong bóng tối. Catherine Baker Martin gập người ôm con chó nhỏ và kéo thảm lên che kín cả hai. Chỉ còn thấy một đống chuyển động dưới tấm thảm, hắn không biết được đâu là con chó và đâu là Catherine. Nhìn xuống dưới dưới ánh sáng hồng ngoại, khả năng phân biệt của hắn bị ảnh hưởng. Hắn không biết chỗ gồ lên nào là Catherine. Nhưng hắn đã nhìn thấy Bảo bối nhảy lên. Hắn biết chân nó ổn, và ngay lập tức hắn biết một chuyện nữa: Catherine Baker Martin sẽ không làm đau con chó, cũng như hắn. Ôi, thật nhẹ cả người. Vì mối

tình cảm chung đó hắn có thể bắn vào đôi chân khốn kiếp của con bé và khi nó ôm chân hắn sẽ bắn vỡ sọ nó. Không cần lo lắng gì. Hắn bật đèn, tất cả mọi bóng đèn khốn kiếp dưới tầng hầm và lấy đèn chiếu từ phòng kho sang. Hắn đã kiểm soát được bản thân, hắn suy nghĩ rành mạch — trên lối đi qua phòng làm việc hắn còn nhớ mở nước vào mấy chiếc bồn rửa để không có gì kẹt trong ống. Lúc hắn xách đèn chiếu xăm xăm đi qua cầu thang và sẵn sàng ra tay thì chuông cửa réo. Tiếng chuông cửa rít lên kèn kẹt làm cho hắn phải dừng lại nghĩ xem đó là cái thứ gì. Nhiều năm rồi hắn không nghe tiếng chuông cửa, thậm chí không biết là chuông cửa vẫn hoạt động. Được gắn ở cầu thang để cả tầng dưới và tầng trên đều nghe được, nó đang kêu lanh lảnh, cái nắp chuông kim loại đen phủ đầy bụi. Khi hắn nhìn nó, nó lại réo lên, réo làm bụi bay tứ tán. Có ai đó ngoài cửa đã bấm cái nút có dòng chữ QUẢN LÝ. Chúng sẽ đi thôi. Hắn sắp đặt cái đèn pha. Chúng không chịu đi. Dưới giếng nó nói cái gì đó mà hắn chẳng chú ý. Cái chuông vẫn lanh lảnh kêu rách cả tai, chắc đứa nào tì vào cái nút rồi. Tốt nhất là lên nhà nhìn ra xem ai. Khẩu Python nòng dài không đút vừa túi áo choàng tắm. Hắn đặt nó lên quầy trong phòng làm việc. Hắn leo được nửa cầu thang thì chuông ngừng réo. Hắn dừng lại đợi một lúc. Im lặng. Hắn quyết định cứ ngó xem. Khi đi qua bếp,

tiếng gõ nặng nề vào cửa sau làm hắn giật bắn mình. Trong kho gần cửa sau có một khẩu súng nạp đạn kiểu bom. Hắn biết nó đã nạp đạn. Cửa cầu thang xuống tầng hầm đóng thì nó có gào rách họng cũng không ai nghe được, hắn chắc chắn thế. Lại đập cửa. Hắn hé cửa nhưng vẫn để khóa xích. “Tôi gõ cửa trước, nhưng không có ai ra mở,” Clarice Starling nói. “Tôi tìm gia đình bà Lippman, anh làm ơn giúp tôi được không?” “Họ không còn ở đây nữa,” ngài Gumb nói rồi đóng cửa. Hắn dợm đi xuống cầu thang thì lại có tiếng đập cửa. Lần này còn to hơn. Hắn hé cánh cửa vẫn khóa xích. Người phụ nữ trẻ giơ một tấm thẻ sát vào khe hở. Trên đó đề Cục điều tra Liên bang. “Xin lỗi, tôi cần nói chuyện với anh. Tôi muốn tìm gia đình bà Lippman. Tôi biết bà ấy từng sống ở đây. Xin anh làm ơn giúp tôi.” “Bà Lippman mất lâu lắm rồi. Bà ấy không có người họ hàng nào mà tôi biết cả.” “Thế còn luật sư, kế toán của bà ấy thì sao? Ai đó có hồ sơ kinh doanh của bà ấy? Anh có biết bà Lippman không?” “Chỉ sơ sơ thôi. Có chuyện gì không?” “Tôi đang điều tra cái chết của Fredrica Bimmel. Xin hỏi anh là ai vậy?” “Jack Gordon.”

“Anh có biết Fredrica Bimmel khi cô ấy làm việc cho bà Lippman không?” “Không. Cô ấy có phải người to lớn, béo tốt không? Tôi có thể từng nhìn thấy cô ấy. Tôi không chắc lắm. Tôi không có ý bất lịch sự — nhưng tôi đang ngủ… Bà Lippman có một luật sư, tôi có thể có danh thiếp của ông ta ở đâu đó, để tôi xem tôi có tìm thấy không. Cô làm ơn vào nhà được không? Tôi đang chết rét và con mèo của tôi sẽ chui ngay qua khe cửa bây giờ đây. Nó sẽ vọt ra ngoài trước khi tôi kịp tóm được nó.” Hắn đi tới cái bàn làm việc nhiều ngăn ở góc xa trong bếp, lật mặt bàn lên và nhìn ngó một vài ngăn. Starling vào nhà và lấy trong túi ra cuốn sổ ghi chép. “Chuyện thật kinh khủng,” hắn nói, lục lọi cái bàn. “Tôi nổi gai ốc mỗi khi nghĩ đến chuyện ấy. Họ đã sắp tóm được kẻ nào đó rồi chứ, phải không cô?” “Vẫn chưa, nhưng chúng tôi đang điều tra. Ông Gordon, ông đến đây ở sau khi bà Lippman mất à?” “Phải.” Gumb cúi người xuống bàn, quay lưng lại Starling. Hắn mở một cái ngăn kéo và lục lọi trong đó. “Ở đây còn lại hồ sơ giấy tờ gì không? Giấy tờ kinh doanh chẳng hạn?” “Không, chẳng còn gì cả. FBI đã có manh mối gì chưa? Cảnh sát ở đây có vẻ như không biết gì sớm cả. Họ đã có đặc điểm hay dấu tay gì chưa cô?” Từ nếp gấp phía sau cái áo choàng tắm của ngài Gumb bò ra một con bướm đêm đầu Tử thần. Nó dừng lại ngay giữa lưng hắn

ta, đúng chỗ trái tim và điều chỉnh đôi cánh. Starling cho cuốn sổ ghi chép vào túi. Gumb. Ơn Chúa cái áo khoác của mình đang mở khuy. Hãy tìm cách rút lui, tìm điện thoại. Không. Hắn biết mình là FBI, mình mà rời mắt là hắn sẽ giết cô ta ngay. Họ tìm được hắn, họ sẽ hạ hắn. Điện thoại của hắn đâu. Không thấy đâu. Không có trong này, hỏi xem điện thoại của hắn ở đâu. Gọi điện, sau đó tấn công hắn. Bắt hắn nằm sấp mặt xuống, chờ cảnh sát đến. Thế thôi, làm đi. Hắn đang quay lại. “Số đây rồi,” hắn nói. Hắn có một tấm danh thiếp. Cầm không? Không. “Tốt rồi. Cảm ơn ông. Ông Gordon, ông làm ơn cho tôi dùng điện thoại một chút được không?” Khi hắn đặt tấm danh thiếp lên bàn, con bướm đêm bay lên. Nó bay lên từ phía sau hắn, bay qua đầu hắn và tỏa sáng ở giữa họ, trên cái tủ nằm trên bồn rửa. Hắn nhìn nó. Khi cô không nhìn nó, khi mắt cô không rời mặt hắn, hắn biết. Mắt họ gặp nhau và họ biết nhau nghĩ gì. Ngài Gumb hơi nghiêng đầu. Hắn cười. “Tôi có một cái điện thoại không dây trong kho. Tôi sẽ đi lấy cho cô.” Không! Làm đi. Cô rút súng, một động tác uyển chuyển mà cô đã thực hành đến bốn ngàn lần, và nó ở đúng chỗ của nó phải ở. Cầm chắc hai tay, thế giới của cô giờ là đầu ruồi và giữa ngực hắn ta. “Đứng yên.”

Hắn mím môi. “Ngay. Chậm thôi. Giơ tay lên.” Đưa hắn ra ngoài, giữ cái bàn giữa hai người. Đưa hắn ra trước nhà. Bắt nằm sấp mặt giữa phố và giơ thẻ của mình lên. “Ông Gub… ông Gumb, ông đã bị bắt. Tôi muốn ông đi thật chậm ra ngoài cho tôi.” Thay vì làm như cô nói, hắn chạy ra khỏi phòng. Nếu hắn thò tay vào túi, thò tay ra sau, nếu cô nhìn thấy vũ khí, cô sẽ bắn. Nhưng hắn chỉ đi ra khỏi phòng. Cỏ nghe thấy tiếng hắn chạy nhanh xuống cầu thang tầng hầm. Cô vòng qua bàn chạy ra cánh cửa bên trên cầu thang dẫn xuống tầng hầm. Hắn đã biến mất, cầu thang xuống tầng hầm sáng choang và trống rỗng. Cái bẫy. Mình sẽ biến thành mồi ngon trong cầu thang. Từ dưới tầng hầm vọng đến một tiếng thét mỏng như cắt giấy. Cô không thích cầu thang, cô ghét cầu thang. Clarice Starling phải quyết định rất nhanh nên hay không nên. Catherine Martin lại la hét, hắn sắp giết cô ta và Starling quyết định xuống chỗ họ, một tay bám thanh vịn cầu thang, tay kia chĩa súng dưới tầm mắt, bậc cầu thang dưới chân đập vào tầm súng, tay cầm súng đi theo hướng nhìn khi cô bao quát hai cánh cửa đối diện đang mở ngay dưới chân cầu thang. Dưới hầm ánh sáng chói lọi, cô không thể đi qua được một cánh cửa mà không phải quay lưng lại cánh cửa kia. Phải thật nhanh, sang trái nơi tiếng thét phát ra. Vào căn phòng giam nền cát, nhanh

chóng vượt qua khung cửa, mắt mở to hơn bao giờ hết. Nơi ẩn trốn duy nhất là sau thành giếng. Cô đi vòng sát mép tường, hai tay chĩa thẳng súng, ấn nhẹ cò, đi vòng ra sau giếng và không tìm thấy ai ở đó. Một tiếng hét nhỏ bay lên từ đáy giếng như sợi khói. Rồi tiếng tru, một con chó. Cô lại gần cái giếng, mắt nhìn ra cửa, đến thành giếng, nhìn xuống dưới. Nhìn thấy cô gái, nhìn lên, lại nhìn xuống, nói những gì cô được dạy, trấn an con tin. “FBI, cô an toàn rồi!” “An toàn CỨT, nó có súng đấy. Đưa-tôi-ra. ĐƯA-TÔI-RA.” “Catherine, cô sẽ ổn. Đừng nói nữa. Cô biết hắn ở đâu không?” “ĐƯA-TÔI-RA, TÔI ĐẾCH QUAN TÂM NÓ Ở ĐÂU, ĐƯA-TÔI￾RA.” “Tôi sẽ đưa cô ra. Trật tự nào. Giúp tôi. Im lặng để tôi còn nghe. Cố đi và giữ con chó ấy ngậm miệng lại.” Nấp sau thành giếng, nhìn ra cửa, tim cô đập mạnh và hơi thở của cô thổi bay bụi từ thành giếng đá. Cô không thể bỏ Catherine Martin lại để đi tìm hỗ trợ khi cô chưa biết Gumb ở đâu. Cô di chuyển ra cửa và nấp sau khung cửa. Cô có thể nhìn thấy chân cầu thang và một phần phòng làm việc đằng kia. Hoặc cô tìm ra Gumb, hoặc cô chắc chắn hắn đã bỏ trốn, hoặc cô đưa Catherine ra cùng, chỉ có mấy lựa chọn đó. Cô ngoái lại nhìn quanh phòng hầm giam. “Catherine, Catherine, trong này có thang không?” “Tôi không biết, tỉnh dậy tôi đã ở dưới này rồi. Nó buộc dây thả

xô xuống đây.” Có một cái ròng rọc nhỏ được bắt vít vào xà nhà. Trục ròng rọc không có dây. “Catherine, tôi phải tìm thứ gì đó để đưa cô ra. Cô đi được không?” “Có. Đừng bỏ tôi.” “Tôi phải ra khỏi phòng một lát.” “Đừng có mà bỏ tao dưới này một mình con đĩ, mẹ tao sẽ xé cái đầu thối của mày ra…” “Ngậm mồm đi Catherine. Im để tôi còn nghe ngóng. Muốn thoát chết thì cô cần ngậm mồm lại, hiểu chứ?” Sau đó nói to hơn, “Những sĩ quan khác sẽ đến đây ngay bây giờ, còn giờ thi im mồm đi. Chúng tôi sẽ không để cô ở dưới đó đâu.” Hắn phải có dây chứ. Nó đâu nhỉ? Đi tìm xem. Starling chạy vọt qua cầu thang, tới cửa phòng làm việc — cửa là chỗ tệ hại nhất — nhanh chóng tiến lùi dọc theo bức tường ở gần cho tới khi cô nhìn thấy hết cả căn phòng, những hình thù quen thuộc bơi trong bể kính, cô đang quá cảnh giác nên không bị giật mình. Nhanh chóng đi qua căn phòng, đi qua những cái bể, những cái chậu rửa, qua cái lồng, vài con bướm đêm lớn đang bay. Cô lờ chúng đi. Tiến gần đến hành lang tiếp sau, nơi đèn đóm sáng rực. Cái tủ lạnh sau cô vào điện, cô khom người quay phắt lại, tháo chốt an toàn khẩu Magnum, nới nhẹ ngón tay bóp cò súng. Đi vào hành lang. Cô chưa được học cách quan sát nhanh. Đầu và súng cùng

một lúc, nhưng phải cúi thấp. Hành lang trống trơn. Đầu kia là căn xưởng sáng trưng. Lao nhanh qua hành lang, liều mình chạy qua cánh cửa đang đóng, tới cửa xưởng. Căn phòng được lát toàn bộ bằng gỗ sồi trắng và vàng. Tuyệt đối không đứng ở cửa. Cần xác định từng con ma – nơ – canh đúng là ma – nơ – canh, từng hình trong gương là ma – nơ – canh. Chuyển động duy nhất là chuyển động của mày trong gương. Cái tủ quần áo khổng lồ đang mở tung và trống rỗng. Cánh cửa đầu xa mở vào bóng tối, vào tầng hầm phía sau. Không thấy dây, không thấy thang ở đâu cả. Không có đèn sáng phía ngoài kia căn phòng. Cô đóng cánh cửa mở ra khu tối tăm của tầng hầm, đẩy một cái ghế đến dưới nắm đấm cửa rồi đẩy cái máy khâu chặn ghế. Nếu cô có thể tin chắc hắn không có trong khu này của tầng hầm cô có thể liều đi lên cầu thang một lúc tìm điện thoại. Quay trở lại hành lang, một cánh cửa mà cô đã đi qua. Phải xem phía bên kia cánh cửa. Mở tung cửa chỉ bằng một động tác. Cánh cửa bật ra, không có ai sau cửa. Một phòng tắm cũ. Trong đó có dây, móc và một cuộn đai leo trèo. Cứu Catherine hay đi tìm điện thoại? Dưới đáy giếng Catherine sẽ không bị dính đạn lạc. Nhưng nếu Starling bị giết, Catherine cũng không sống được. Đưa Catherine cùng cô đi tìm điện thoại. Starling không muốn nấn ná trong phòng tắm. Hắn có thể đến cửa và phun nước cô. Cô nhìn sang hai bên rồi vao trong lấy dây. Trong phòng có một bồn tắm lớn chứa gần đầy thạch cao đỏ tía. Một bàn tay và cổ tay thò ra từ bên dưới lớp thạch cao, bàn tay đã thâm lại và nhăn nheo, những ngón tay sơn màu hồng. Trên cổ tay đeo một cái đồng hồ xinh xắn. Starling nhìn thấy tất cả mọi thứ cùng một

lúc, sợi dây, cái bồn tắm, cánh tay, cái đồng hồ. Cái kim giây dịch chuyển như con côn trùng đang bò chậm chạp là thứ cuối cùng cô nhìn thấy trước khi đèn tắt. Trái tim cô đập mạnh đến mức làm rung cả tay và ngực cô. Tối đến chóng mặt, cần phải sờ vào thứ gì đó, thành của cái bồn tắm. Buồng tắm. Ra khỏi buồng tắm. Nếu hắn tìm thấy cánh cửa, hắn có thể phun nước vào phòng và chẳng có gì để trốn đằng sau được. Ôi Chúa ơi, ra ngoài thôi. Cúi thấp người ra ngoài hành lang. Tất cả đèn đóm tắt cả rồi sao? Tất cả đèn đóm. Chắc hắn đã ngắt cầu dao, hộp cầu dao ở đâu vậy? Ở đâu nhi? Gần cầu thang. Hầu hết là được đặt gần cầu thang. Nếu như vậy hắn sẽ đến từ phía đó. Nhưng hắn đang ở giữa mình và Catherine. Catherine Martin lại đang than khóc. Chờ ở đây? Chờ mãi mãi? Có thể hắn đã đi rồi. Hắn không thể biết chắc chắn yểm trợ sẽ không đến. Có, hắn biết. Nhưng rồi họ sẽ phát hiện mình biến mất sớm thôi. Đêm nay. Cầu thang ở phía có tiếng thét. Giải quyết chuyện này ngay đi. Cô di chuyển, khẽ khàng, vai cô chạm nhẹ vào tường, chạm rất nhẹ để không gây ra tiếng động, một tay giơ ra trước, súng để ngang tầm thắt lưng, sát vào người cô trong dãy hành lang chật hẹp. Giờ đã vào phòng làm việc. Cảm nhận được không gian mở ra. Một căn phòng mở. Khom người xuống trong căn phòng mở, tay duỗi thẳng, hai tay cầm súng. Mày biết chính xác khẩu súng ở đâu, nó ở ngay dưới tầm mắt. Dừng lại, lắng nghe. Đầu, cơ thể và cánh tay cùng xoay như tháp pháo. Dừng lại, lắng nghe. Trong bóng tối đen kịt có tiếng rít của đường ống hơi nước, tiếng

nước nhỏ giọt. Có mùi mồ hôi dê nặng trong mũi cô. Catherine đang than khóc. Ngài Gumb đang đeo kính nhìn đêm đứng dựa vào tường. Không lo cô ta va phải hắn — giữa hắn và cô ta là một cái bàn để thiết bị. Hắn chiếu cái đèn hồng ngoại lên xuống người cô ta. Cô ta quá gầy để có thể đắc dụng với hắn. Dù sao thì hắn nhớ mái tóc cô ta, lúc trong bếp, mái tóc tuyệt diệu, và điều đó chỉ mất một phút thôi. Hắn có thể bóc nó ra luôn. Đeo nó lên đầu. Hắn có thể đeo bộ tóc giả cúi xuống giếng và nói kiểu như “Ngạc nhiên chưa!” Thật vui khi nhìn cô ta rò rẫm tìm đường. Bây giờ đùi cô ta đang dựa vào chậu rửa, tay lăm lăm khẩu súng lần mò ra chỗ có tiếng thét. Sẽ rất vui nếu săn cô ta lâu lâu một chút — trước đây hắn chưa săn đứa nào có vũ khí cả. Nếu được thế thì chắc hắn sẽ hết sức thích thú. Nhưng không có thời gian. Tệ quá. Một phát đạn vào mặt là ổn và dễ dàng thực hiện từ khoảng cách hai mét rưỡi. Ngay bây giờ. Hắn chĩa khẩu Python trong lúc lên đạn lạch cạch trong bóng tối và thân hình màu lục đó mờ đi, to ra to ra trong mắt hắn, khẩu súng vung khỏi tay hắn và sàn nhà đập mạnh vào lưng hắn, đèn của hắn vẫn bật và hắn nhìn thấy trần nhà. Starling nằm trên sàn, mắt chói, tai inh inh, điếc đặc vì tiếng nổ của những khẩu súng. Cô nạp lại đạn trong bóng tối trong lúc cả hai đều không nghe thấy gì, đổ vỏ đạn ra, sờ để chắc chắn vỏ đạn đã đổ ra hết, lắp ổ đạn nạp nhanh, sờ thử, cho vào ổ quay, vặn, vứt xuống đất và đóng ổ quay. Cô đã bắn bốn phát. Hai phát một. Hắn bắn một phát. Cô tìm thấy hai viên đạn chưa nổ mà cô vừa tháo ra. Cho vào đâu giờ nhỉ? Vào túi đựng ổ đạn nạp nhanh. Cô nằm yên.

Nên di chuyển trước khi hắn nghe được chăng? Tiếng lên cò của một khẩu ổ quay không lẫn được với bất kỳ âm thanh nào khác. Cô bắn về phía tiếng động, không nhìn thấy gì sau những tia lửa lóe lên ở đầu súng. Cô hy vọng giờ hắn sẽ bắn sai hướng để cô nhìn thấy lửa đầu súng làm đích bắn. Thính giác của cô đã trở lại, tai cô vẫn inh, nhưng cô đã nghe được. Âm thanh ấy là gì vậy? Tiếng huýt sáo chăng? Nghe như tiếng ấm đun nước, nhưng đứt quãng. Gì vậy nhỉ? Giống tiếng thở. Mình à? Không phải. Hơi thở của cô phả hơi ấm xuống nền nhà rồi phả lại mặt cô. Cẩn thận, đừng hít bụi, đừng hắt hơi. Đó là tiếng thở. Đó là tiếng hít hơi do vết thương vào ngực. Hắn bị trúng ngực. Họ đã dạy cô cách băng vết thương này, phải đặt thứ gì đó lên trên nó, một cái áo mưa, một cái túi nhựa, một thứ gì đó không để lọt không khí và buộc thật chặt. Lại hít khí đầy buồng phổi. Vậy là cô đã bắn trúng ngực hắn. Làm gì đây? Đợi. Cứ để hắn cứng người lại và chảy máu. Đợi. Má Starling nhói lên. Cô không chạm vào nó, nếu có chảy máu thì cô cũng không muốn tay mình bị nhờn. Tiếng rên rỉ từ dưới giếng lại vọng lên. Catherine đang nói chuyện, khóc lóc. Starling cần phải chờ. Cô không thể trả lời Catherine. Cô không thể nói hay cử động. Ánh đèn vô hình của ngài Gumb đang chờn vờn trên trần nhà. Hắn cố chuyển hướng nó nhưng không thể, cũng như hắn không thể cử động được cái đầu. Một con bướm đêm mặt trăng Malaysia to tướng bay qua sát trần nhà, thấy ánh đèn hồng ngoại và hạ xuống, bay vòng vòng, tỏa sáng trong ánh hồng ngoại. Chỉ duy có ngài Gumb nhìn được cái bóng khổng lồ đang rung động của đôi

cánh nó trên trần nhà. Starling nghe được giọng nói khủng khiếp ngột nghẹt của ngài Gumb lẫn với tiếng hít trong bóng tối: “Đẹp như vậy… thì… cảm giác… như thế nào nhỉ?” Và sau đó là âm thanh khác. Tiếng òng ọc, tiếng nấc hấp hối rồi tiếng huýt sáo im bặt. Starling cũng biết âm thanh này. Cô từng nghe thấy nó khi cha cô chết. Cô lần tìm cạnh bàn và đứng lên. Sờ soạng tìm lối, đi ra chỗ có tiếng Catherine, cô tìm thấy cầu thang và leo lên cầu thang trong bóng tối. Có vẻ như rất lâu. Trong ngăn kéo bếp có một cây nến. Nhờ có nến cô tìm được hộp cầu chì cạnh cầu thang, giật mình khi đèn sáng. Để đến được hộp cầu chì, chắc hắn đã ra khỏi hầm ngầm bằng đường khác và lại đi xuống đằng sau cô. Starling cần chắc chắn hắn đã chết. Cô đợi cho tới khi mắt mình thật quen với ánh đèn mới tính trở lại phòng làm việc, nhưng rồi cô trở nên thận trọng. Cô nhìn thấy cặp chân trần của hắn thò ra dưới cái bàn làm việc. Cô không rời mắt khỏi bàn tay bên cạnh khẩu súng ngắn cho tới lúc đá được nó ra chỗ khác. Mắt hắn vẫn mở. Hắn đã chết, bị bắn xuyên qua ngực phải, một lớp máu đặc dưới người. Hắn đã mặc mấy thứ lấy từ trong tủ áo khiến cô không thể nhìn hắn lâu. Cô đến bên cái chậu rửa, đặt khẩu Magnum lên mặt thoát nước và cho nước lạnh chảy lên cổ tay, lấy tay ướt lau mặt. Không có máu. Những con bướm đêm bám vào tấm lưới bọc đèn. Cô phải

bước vòng qua cái xác để lấy khẩu Python. Ở chỗ cái giếng cô nói, “Catherine, hắn chết rồi. Hắn sẽ không làm hại cô được nữa đâu. Tôi sẽ lên trên kia gọi điện…” “Không! ĐƯA TÔI RA. ĐƯA TÔI RA. ĐƯA TÔI RA.” “Nghe này. Hắn chết rồi. Súng hắn đây này. Nhớ chứ? Tôi sẽ gọi điện cho cảnh sát và cứu hộ. Tôi sợ một mình tôi không kéo được cô lên, dễ cô bị ngã lắm. Gọi điện xong tôi sẽ xuống ngay và đợi cùng với cô. Được chứ? Được rồi. Cô làm con chó ấy im đi. Được chứ? Được rồi.” Đám phóng viên truyền hình địa phương đến ngay sau đội cứu hỏa và trước cảnh sát Belvedere. Đội trưởng cứu hỏa, giận dữ vì ánh sáng chói mắt, đuổi đội phóng viên truyền hình lên cầu thang và ra khỏi tầng hầm trong lúc anh ta dựng một giàn giáo bằng ống để kéo Catherine Martin lên, không tin tưởng vào cái ròng rọc của ngài Gumb trên xà nhà. Một lính cứu hỏa xuống giếng và đặt cô ngồi vào chiếc ghế cứu nạn. Catherine vẫn ôm con chó khi đi lên, giữ con chó trong xe cứu thương. Người ta cấm đem chó vào bệnh viện. Người lính cứu hỏa — được lệnh đưa con chó vào nơi nhốt thú vật — lại đưa nó về nhà với mình.

C 57 ó khoảng 50 người ở sân bay nội địa Washington, đón chuyến bay đêm từ Columbus, Ohio. Hầu hết trong số họ đi đón người thân, trông ai nấy đều buồn ngủ và nhàu nhĩ, đuôi áo thò ra ngoài áo khoác. Từ trong đám đông, Ardelia Mapp có cơ hội quan sát kỹ Starling khi cô ra khỏi máy bay. Starling trông nhợt nhạt, dưới mắt có quầng thâm. Trên má cô dính vài hạt thuốc súng màu đen. Starling nhìn thấy Mapp và họ ôm nhau. “Này, bồ tèo,” Mapp nói. “Cậu có ký gửi gì không?” Starling lắc đầu. “Jeff chờ trong xe ở ngoài kia. Về nhà thôi.” Jack Crawford cũng đang đợi bên ngoài, xe ông đỗ bên cạnh chiếc xe buýt nhỏ trên làn dành cho limousine. Ông đã tiếp họ hàng của Bella cả đêm. “Tôi…” ông bắt đầu. “Cô biết mình đã làm được gì rồi đấy. Cô ghi điểm rồi, cô bé ạ.” Ông sờ má cô. “Gì thế này?” “Bị bỏng thuốc súng. Bác sĩ nói nó sẽ bong sau đôi ba ngày thôi — tốt hơn hết là không cạy nó ra.”

Crawford kéo cô vào lòng và ôm cô thật chặt trong một khắc, chỉ một khắc, rồi ông buông cô ra và hôn lên trán cô. “Cô biết mình đã làm được gì rồi đấy,” ông nhắc lại. “Về nhà đi. Ngủ bù nhé. Mai tôi sẽ nói chuyện với cô.” Chiếc xe tải giám sát mới rất thoải mái, được thiết kế cho những chuyến công tác dài ngày. Starling và Mapp ngồi trên hai ghế lớn phía sau. Không có Jack Crawford trong xe, Jeff lái nhanh hơn một chút. Họ lao nhanh về Quantico. Ngồi trên xe Starling nhắm mắt. Sau vài dặm, Mapp huých vào đầu gối cô. Mapp vừa mở hai chai Coke, cô đưa cho Starling một chai và lấy trong túi ra một chai Jack Daniel nhỏ. Họ uống một ngụm Coke rồi đổ rượu vào chai. Đoạn bịt ngón cái vào miệng chai, xóc lên rồi để bọt phun vào miệng. “Aaa…” Starling nói. “Đừng đánh đổ ra đấy,” Jeff nói. “Đừng lo, Jeff,” Mapp nói, rồi nói thầm với Starling, “Cậu phải nhìn thấy anh chàng Jeff của tớ đợi tớ bên ngoài hàng rượu cơ. Anh ta trông như kẻ buôn bạc giả vậy.” Khi Mapp thấy whiskey bắt đầu có tác dụng, khi Starling đã chìm xuống ghế sâu hơn một chút thì Mapp hỏi. “Cậu thế nào. Starling?” “Ardelia, tớ biết thì chết liền.” “Cậu không phải quay lại chứ?” “Có thể ngày nào đó trong tuần tới, nhưng tớ hy vọng là không cần thiết. Tổng Chưởng lý đã từ Columbus đến nói chuyện với cảnh

sát Belvedere. Tớ đã báo cáo quá đủ rồi.” “Vài chuyện tốt đây,” Mapp nói. “Thượng nghị sĩ Martin đã gọi điện cả ngày từ Bethesda — cậu biết họ đã đưa Catherine đến Bethesda rồi chứ? Cô ta ổn. Hắn ta chưa động gì đến người cô ta. Về tổn thương tâm lý thì họ chưa biết, họ còn phải theo dõi đã. Đừng lo về chuyện học hành. Cả Crawford và Brigham đều đã gọi điện. Hội đồng đã giải tán. Krendler đề nghị rút lại báo cáo của ông ta. Đám người này trơn như mỡ, Starling ạ — cậu không được ưu ái gì đâu. Cậu không cần thi môn Truy Bắt lúc 8 giờ sáng mai nữa, nhưng đến thứ Hai cậu sẽ phải thi và ngay sau đó là thi Thể dục. Bọn mình sẽ bị kẹt cuối tuần đấy.” Khi tới Bắc Quantico thì họ đã uống hết chai rượu rồi ném bằng chứng vào sọt rác ở một công viên bên đường. “Anh chàng Pilcher, tiến sĩ Pilcher ở bảo tàng Smithsonian gọi đến ba lần. Bắt tớ hứa phải nói với cậu là anh ta gọi điện.” “Anh ta không phải tiến sĩ đâu.” “Có thể. Tớ vẫn chưa biết đấy.” “Anh ta có vẻ khá hài hước. Tớ đã quyết định tính hài hước là diều tốt nhất của đàn ông, ý tớ là ngoài giàu và dễ bảo.” “Phải rồi, và cả phong độ nữa. Cậu không thể bỏ qua mục ấy được.” “Phải rồi. Lần nào tớ cũng vớ được một thằng khốn rất có phong độ.” Starling đi như một xác sống từ nhà tắm vào giường.

Mapp để đèn đọc sách sáng một lúc, cho tới khi Starling thở đều. Starling giật mình trong giấc ngủ, cơ má cô giật giật, có một lần hai mắt cô mở to. Mapp thức dậy trước khi trời sáng, cảm thấy căn phòng như trống rỗng. Mapp bật đèn. Starling không ở trên giường. Hai cái túi đựng đồ giặt là của họ biến mất, nên Mapp đã biết cần đi tìm ở đâu. Cô thấy Starling trong phòng giặt đồ ấm áp, đang ngủ gật trong tiếng ro ro đều đặn của cái máy giặt và mùi thuốc tẩy, xà phòng hòa lẫn với mùi nước xả. Starling có bằng Tâm lý học — Mapp theo ngành Luật — nhưng Mapp mới là người biết rằng nhịp điệu của cái máy giặt giống như nhịp đập của một trái tim khổng lồ, và tiếng nước chảy trong đó là âm thanh mà đứa trẻ còn trong bụng mẹ nghe thấy — ký ức cuối cùng của chúng ta về sự bình yên.

J 58 ack Crawford thức dậy sớm trên chiếc sofa trong phòng làm việc và nghe thấy tiếng ngáy của cha mẹ vợ trong nhà mình. Trong khoảng thời gian thư thả trước khi gánh nặng của một ngày sắp đè nặng lên ông, ông không nhớ đến cái chết của Bella mà nhớ đến điều cuối cùng bà nói với ông, đôi mắt bà bình an và trong sáng. “Ngoài sân như thế nào hả anh?” Trong chiếc áo tắm ông lấy cái thìa đong ngũ cốc của Bella đi ra ngoài cho lũ chim ăn như ông đã hứa với bà. Để lại một mẩu tin nhắn cho bố mẹ vợ đang ngủ, ông ra khỏi nhà trước khi mặt trời mọc. Crawford vốn vẫn ít nhiều thân thiết với người thân của Bella, và trong nhà có tiếng người thì cũng đỡ hơn, nhưng ông thấy mừng vì được đến Quantico. Ông đang đọc những bức điện gửi tới hồi đêm và xem bản tin sáng trong văn phòng thì Starling gí mũi vào tấm kính cửa. Ông bỏ mấy bản báo cáo ra lấy ghế cho cô ngồi và họ cùng xem bản tin mà không nói lời nào. Nó đây rồi. Bên ngoài ngôi nhà cũ của Jame Gumb ở Belvedere có mặt trước là cửa hàng và những cánh của sổ bôi xà phòng được những cánh cổng nặng che kín. Starling gần như không nhận ra nó. “Nhà ngục của nỗi kinh hoàng,” người dẫn chương trình đặt tên

cho nó. Những hình ảnh rời rạc, hỗn loạn của cái giếng và tầng hầm, những chiếc máy ảnh giơ lên trước máy quay truyền hình, những người lính cứu hỏa giận dữ đuổi phóng viên lùi lại. Những con bướm đêm bị ánh đèn máy quay làm cho phát điên, bay vào đèn. Một con bướm đêm nằm ngửa trên sàn, đôi cánh đập xuống trong lần đập cánh cuối cùng. Catherine Martin không chịu ngồi cáng và tự đi ra xe cứu thương trong một chiếc áo khoác cảnh sát, con chó thò mặt ra giữa hai hàng cúc áo. Hình ảnh Starling nhìn từ một bên, đang đi nhanh ra xe, đầu cúi, hai tay đút trong túi áo khoác. Đoạn phim đã được biên tập để bỏ đi một số hình ảnh rùng rợn hơn. Trong những góc xa của tầng hầm, máy quay chỉ cho thấy những ngưỡng cửa thấp, rắc vôi bột của những căn phòng chứa chiến tích của Gumb. Cho tới nay, ở nơi đó của tầng hầm đã có sáu xác chết. Hai lần Crawford nghe thấy Starling thở ra thật dài. Bản tin chuyển sang mục quảng cáo. “Chào buổi sáng. Starling.” “Xin chào,” cô nói, như thể giờ đã không còn là buổi sáng. “Tổng Chưởng lý đã fax cho tôi lời khai của cô tối qua. Cô sẽ phải ký vài bản, ông ta… vậy là cô đã đi từ nhà Fredrica Bimmel tới chỗ Stacy Hubka và sau đó đến gặp bà Burdine nơi Bimmel cắt may, cửa hàng Thời trang Richard và bà Burdine cho cô địa chỉ cũ của bà Lippman, ngôi nhà ở đó.”

Starling gật đầu. “Stacy Hubka đã đến đó mấy lần để đón Fredrica, nhưng khi đó bạn trai của Stacy lái xe và cô ấy không rõ đường đi. Bà Burdine có địa chỉ.” “Bà Burdine không nhắc đến một người đàn ông ở nhà bà Lippman à?” “Không ạ.” Bản tin truyền hình có một đoạn phim từ bệnh viện Hải quân Bethesda. Khuôn mặt thượng nghị sĩ Martin xuất hiện trong khung cửa sổ xe limosine. “Tối qua Catherine cũng tỉnh táo, phải. Giờ nó đang ngủ, đang được gây mê. Chúng tôi đã may mắn. Không, như tôi vừa nói, con bé bị sốc, nhưng nó tỉnh táo. Chỉ bị sây sát, bị gãy một ngón tay. Nó còn bị mất nước. Cảm ơn các vị.” Bà ta thúc lưng người lái xe. “Cảm ơn các vị. Không, con bé tối qua cũng nói với tôi chuyện con chó. Tôi chưa biết chúng tôi sẽ làm gì với nó, chúng tôi đã có hai con rồi.” Câu chuyện kết thúc với một lời trích dẫn vô nghĩa từ một chuyên gia stress, người sẽ nói chuyện với Catherine để đánh giá tổn thương tâm lý. Crawford tắt TV. “Cô thấy chúng thế nào, Starling?” “Cũng không có gì… ông có thấy thế không?” Crawford gật đầu, nhanh chóng chuyển chủ đề. “Thượng nghị sĩ Martin gọi điện cả tối qua. Bà ấy muốn đến gặp cô. Catherine cũng thế, ngay sau khi cô ấy đi được.” “Tôi lúc nào cũng ở phòng.”

“Krendler nữa, anh ta muốn tới đây. Anh ta đề nghị rút lại bản báo cáo của mình.” “Nếu thế thì không phải lúc nào tôi cũng ở phòng.” “Vài lời khuyên miễn phí đây. Hãy sử dụng thượng nghị sĩ Martin. Hãy cứ để bà ấy cảm ơn cô, để bà ấy giúp đỡ cô. Đừng lấn cấn. Lòng biết ơn không sống lâu đâu. Cứ theo cách hành động của cô thì có ngày cô phải cần đến bà ta đấy.” “Ardelia cũng nói thế.” “Cô bạn cùng phòng của cô, Mapp à? Phụ trách lớp nói với tôi là Mapp đã sẵn sàng nhồi nhét để ôn cho cô thi lại hôm thứ Hai tới đây. Cô ấy đang hơn đối thủ của mình một điểm rưỡi, anh chàng Stringfellow, ông ấy nói với tôi thế.” “Đối thủ cho ngôi thủ khoa à?” “Anh ta khó chơi lắm đấy, Stringfellow ấy — anh ta nói là cô ấy sẽ không vượt được anh ta lâu đâu.” “Vẻ khoản mang theo đồ ăn trưa thì đúng là không ai giỏi bằng anh ta.” Trong đống bừa bộn trên bàn Crawford có con gà mà bác sĩ Lecter gấp. Crawford làm cho cái đuôi nâng lên hạ xuống, nó mổ. “Lecter đã lên hạng bạch kim rồi — hắn đang đứng đầu mọi danh sách truy nã,” ông nói. “Dù vậy thì hắn vẫn có thể tự do được một thời gian. Bên ngoài cơ quan cô cần hết sức đề phòng.” Cô gật đầu. “Giờ thì hắn đang bận,” Crawford nói, “nhưng khi không bận hắn sẽ tự mua vui cho mình. Chúng ta cần làm rõ chuyện này. Cô biết là

hắn có thể làm chuyện đó với cô, giống như với bất kỳ ai khác.” “Tôi không nghĩ là hắn sẽ lùng sục tôi — như vậy thật khiếm nhã và hắn sẽ không bao giờ hỏi dò kiểu ấy. Nhưng chắc chắn hắn sẽ làm thế ngay khi tôi khiến hắn chán.” “Tất cả những gì tôi muốn nói là cô cần hết sức đề phòng. Khi cô ra khỏi văn phòng, phải hạn chế xuất trình thẻ, ai gọi điện hỏi cô đang ở đâu thì không được trả lời nếu không biết rõ người hỏi. Tôi muốn đặt cảnh báo nghe trộm vào điện thoại của cô, nếu cô không phản đối. Nó vẫn đảm bảo riêng tư trừ khi cô bấm nút.” “Tôi không nghĩ hắn sẽ truy tìm tôi đâu, thưa ông Crawford.” “Nhưng cô nghe thấy những gì tôi nói rồi đấy.” “Tôi nghe rồi. Tôi có nghe thấy rồi.” “Hãy cầm những bản báo cáo này, đọc lại đi. Bổ sung nếu cô muốn. Chúng tôi sẽ chứng kiến cô ký ở đây khi cô sẵn sàng. Starling, tôi tự hào về cô. Brigham cũng vậy. Cả ngài Giám đốc nữa.” Lòi khen nghe cứng nhắc, không giống như điều ông muốn nói. Ông tiễn cô ra cửa. Cô đang rời xa ông, đi dọc dãy hành lang vắng vẻ. Gánh nặng đau buồn trong tim, ông cố gắng tạm biệt cô. “Starling, cha cô dõi theo cô đấy.”

J 59 ame Gumb còn tiếp tục lên các bản tin nhiều tuần sau khi hắn đã được đưa xuống cái hố cuối cùng của mình. Các phóng viên đã chắp nối lại câu chuyện của hắn, bắt đầu với cuốn băng ghi ở hạt Sacramento. Mẹ hắn đã có mang hắn một tháng khi bà ta không lọt được vào cuộc thi hoa hậu Sacramento năm 1948. Chữ Jame trong giấy khai sinh của hắn rõ ràng là lỗi của nhân viên đăng ký mà không ai buồn sửa chữa lại. Khi sự nghiệp diễn viên không thành công, mẹ hắn dần lao vào rượu chè. Gumb được hai tuổi khi hạt Los Angeles đưa hắn vào trại tế bần. Có ít nhất hai tạp chí hàn lâm cho rằng tuổi thơ bất hạnh này là nguyên nhân khiến cho hắn giết phụ nữ để lột da dưới tầng hầm nhà hắn. Những từ điên loạn và quỷ dữ không xuất hiện trong hai bài báo. Cuốn phim quay cuộc thi hoa hậu mà Jame Gumb xem khi đã lớn là một đoạn phim quay mẹ hắn thật, nhưng người phụ nữ ở bể bơi không phải mẹ hắn, theo như kết quả của phép đo so sánh. Ông bà Gumb đón hắn về khi hắn được mười tuổi vì họ không

hài lòng với trại tế bần nhận nuôi hắn. Hai năm sau hắn giết họ. Trại cải tạo dạy nghề Tulare dạy Gumb thành thợ may trong những năm hắn ở bệnh viện tâm thần. Hắn cho thấy có năng khiếu trong nghề này. Hồ sơ việc làm của Gumb rời rạc và không đầy đủ. Các phóng viên tìm được ít nhất hai nhà hàng nơi hắn làm việc sổ sách và lâu lâu lại làm nghề may. Không có gì chứng mình rằng hắn từng giết chóc trong giai đoạn này, nhưng Benjamin Raspail nói hắn có làm. Hắn từng làm việc tại cửa hàng đồ cổ, nơi làm ra đồ trang trí từ những con bướm khi hắn gặp Raspail và hắn sống dựa dẫm vào tay nhạc công này một thời gian. Đó là lúc Gumb trở nên bị ám ảnh bởi loài bướm và những biến đổi mà lũ bướm này trải qua. Sau khi Raspail rời bỏ hắn ta, Gumb giết chết tình nhân sau của Raspail, chặt đầu và lột một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 37

Đang tải bình luận...