phần của tâm thức với thái độ sinh sống nội tâm, đối chiếu với nhân vật với thái độ sinh sống đối ngoại trong xã hội. Hồn là sinh lực, là sức sống, giống như sanh khí mà Adam đã nhận được để trở thành một sanh linh (C.G. Jung trích dẫn Sách Sáng thế Do Thái [2:7] trong GW9/I, § 56). Hồn có khả năng liên lạc với vô thức. Hồn không phải là ý thức, nhưng bổ túc đối trọng với ý thức và tàng chứa trong mình những gì vuột khỏi ý thức: như trường hợp linh âm và linh dương. Dĩ nhiên khái niệm tâm lý về hồn của
https://thuviensach.vn C.G. Jung không hoàn toàn trùng hợp với khái niệm linh hồn trong giáo lý Kitô giáo; theo giáo lý này, thì linh hồn là nguyên lý sự sống gồm tinh thần, ý chí và cảm xúc. Hướng ngoại (Extraversion) Thái độ của ý thức có hướng chiều nhìn ra ngoại giới, tiếp cận với sự vật, quan sát những vẻ bên ngoài của đối tượng hơn là đi vào chiều sâu của chủ thể. Người hướng ngoại thường bột phát, năng nổ, sống động. Họ thường lưu tâm nhiều hơn đến luật lệ, định chế, tập quán, thói quen, cách sinh sống của tập thể xã hội, và ít để ý đến tiếng nói và những đòi hỏi của nội tâm. Khi ý thức thiên về hướng ngoại, thì vô thức lại đòi hỏi phải được bù trừ với những nhu cầu hướng nội. Thái độ hướng ngoại cũng thường xẩy ra trong nửa phần đầu cuộc đời, bởi lúc ấy con người phải xông xả tìm cho mình một chỗ đứng trong xã hội. Nhưng để cân bằng cuộc sống, thì vào nửa phần sau cuộc đời con người phải phát triển thêm mẫu người với thái độ hướng nội. Hướng nội (Introversion) Thái độ của ý thức có hướng chiều nhìn vào nội tâm hơn là nhìn ra ngoại giới và những vẻ bên ngoài của sự vật. Người hướng nội thường khoan thai, trầm lặng, ưa thích giao du với những người suy tư ít nói. Họ chăm chú nhiều hơn vào những kinh nghiệm và những biến cố của bản thân, của nội tâm, và hầu như không màng để ý đến ngoại cảnh, đến những người chung quanh. Họ thích nghe hơn là nói, thích diễn tả bằng chữ viết hơn là bằng ngôn từ hùng biện, thích cảnh sống chiêm nghiệm hơn là một cuộc đời náo nức hoạt động. Khi cần bày tỏ, thì họ diễn tả một cách kín đáo, dè dặt, ít lời, ít cử chỉ bộ điệu. Khi ý thức thiên về hướng nội, thì vô thức lại đòi hỏi phải được bù trừ với những nhu cầu hướng ngoại. Hướng ngoại hay hướng nội tự nó không phải là một điều xấu. Chúng chỉ trở nên tiêu cực khi một trong hai thái độ chiếm vị trí độc tôn, bởi cả hai hướng nội và hướng ngoại đều quan trọng trong một
https://thuviensach.vn thế quân bình của tâm thức: vừa đáp ứng đúng mức với ngoại giới mà cũng vừa đáp ứng đầy đủ với nội tâm. Huyền diệu, Huyền dụ (Numinous, Numinosity) Cảm xúc vừa kinh hoàng vừa say sưa kỳ diệu trước những thực tại cao cả, lớn lao, hoàn toàn xa lạ và khác biệt, nhưng cũng lại thân gần và đem lại ý nghĩa thâm sâu cho cuộc sống. Huyền diệu, đối vớiC.G. Jung, là đặc tính chính của mẫu tượng. Cảm xúc huyền diệu xảy đến thông qua những biểu tượng mang tính nguyên ảnh hay thông qua những hoàn cảnh sinh sống có tính mẫu tượng: như trường hợp những nguyên ảnh linh thiêng, những thị kiến hoặc khải tượng linh thánh đột nhập vào cuộc sống và làm thay đổi cả cuộc đời. C.G. Jung đã đón nhận tư tưởng về huyền diệu này từ tác phẩm “Linh Thánh” của Rudolf Otto (1869 – 1937) được định nghĩa như là một “mầu nhiệm vừa kinh hoàng vừa say mê thu hút” của một thực tại “hoàn toàn khác biệt”. Những hình ảnh và biểu tượng mang tính huyền nhiệm như thế có tác động mãnh liệt trên ý thức và trên cái tôi, đồng thời mở rộng những chân trời ý thức của con người. Linh âm (Anima) Những nguyên ảnh hay mẫu tượng mang tính nữ nằm trong vô thức của người nam. Chúng nối kết cái tôi ý thức với cái vô thức tập thể và chỉ bày cho con người con đường đi về với Tự ngã của mình. Người đàn ông cảm nghiệm được linh âm của mình thông qua những hình ảnh người nữ được mình phóng ngoại lên, thí dụ như hình ảnh bà mẹ, người yêu, bà chị, cô em, cô điếm và nhiều hình ảnh tương tự như thế. Ngoài ra, người ta cũng tìm thấy rất nhiều hình ảnh về linh âm được ghi lại trong các chuyện cổ tích, truyền kỳ, huyền thoại, cũng như trong văn