Tâm Lý Học Chuyên Sâu

chương và tôn

chương và tôn

chương và tôn giáo, thí dụ như thiên tinh, tiên nữ, bà phù thủy, hoàng hậu, công chúa.

https://thuviensach.vn Quá trình phát triển hình ảnh linh âm nơi người đàn ông thường đi qua bốn giai đoạn, tuy những giai đoạn đó không nhất thiết phải tuần tự kế tiếp theo nhau. Những giai đoạn đó là: Linh âm mang dáng vẻ cơ thể và sinh lý như Eva, người đàn bà đầu tiên của nhân loại; linh âm mang hình thức lãng mạn và thẩm mỹ như qua hình dạng Eros nhiều giới tính; linh âm mang những nét phẩm hạnh và đạo đức như hình ảnh nữ tu, ni cô, đức trinh nữ Maria; và cuối cùng linh âm mang tính minh triết, ý nghĩa và tinh thần như qua hình dạng nữ tiên tri, nữ hoàng, hiền mẫu, thiên mẫu. Linh âm như hình ảnh trung gian giữa ý thức và vô thức có thể đưa lại cho con người những hiệu quả tích cực hoặc tiêu cực. Những hiệu quả tích cực như thái độ tin cậy và yêu thương đối với kẻ khác, tâm trí giàu tư tưởng, nhiều sáng kiến, đầy sáng tạo. Nếu thiếu chú tâm, thiếu tiếp cận, thiếu trao đổi, thiếu đối thoại với linh âm, người đàn ông sẽ nhận được những hiệu quả tiêu cực như dễ mất tự chủ, dễ sinh bẳn gắt, hay tỏ ra ấm ức, bực dọc, oán thù. Linh dương (Animus) Những nguyên ảnh hay mẫu tượng mang tính nam nằm trong vô thức của người nữ. Nói cách khác, đó là nguyên lý Logos (Lời Lẽ) nằm trong vô thức của người nữ: nguyên lý Logos gồm nhận thức, phân biệt, phê phán, lý lẽ, lý tính. Chúng nối kết cái tôi ý thức với cái vô thức tập thể và chỉ bày cho con người con đường đi về với Tự ngã của mình. Có bốn loại hình ảnh linh dương thường được xuất hiện cho người đàn bà: hình ảnh người đàn ông thiên nhiên với vóc dạng một người hùng như người hùng Tarzan trong nhiều phim truyện, hình ảnh một người đàn ông lãng mạn mà nhiều phụ nữ đã phóng ngoại linh dương vô thức của mình lên, hình ảnh những người đàn ông phủ đầy nguyên lý Logos dưới hình dạng các bậc trí giả như bác sĩ, luật sư, giáo sư, giáo sĩ. Và cuối cùng là linh dương dưới hình dạng các bậc đại nhân và đại hiền triết. Hình ảnh linh dương có thể trở nên một chủ thể môi giới giúp đưa người đàn bà đi vào thế giới nội tâm, tinh thần và tâm linh. Cũng giống như ngày xưa

https://thuviensach.vn các nữ tiên tri hay các tăng nữ giải mã sấm ngôn đã nói rõ lên các sự thật, thì ngày nay mỗi người phụ nữ cũng có thể thông qua trung gian của linh dương để kinh nghiệm được những tư tưởng mới, những sự thật thâm sâu hơn hầu thể hiện sung mãn và thành toàn Tự ngã của mình. Điều quan trọng trong vấn đề linh âm và linh dương là phải ý thức và giải mã được những hình ảnh linh âm và linh dương của mình, nhờ đó con người có thể một đàng tránh được những hiệu quả tiêu cực (như tính bẳn gắt nơi người đàn ông và tính cố chấp nơi người đàn bà), đàng khác hội nhập được vào mình những đức tính tích cực thể hiện thành toàn cuộc sống (như sự tinh tế nơi người đàn ông và sự suy tư lý luận nơi người phụ nữ). Lý Trí (Mind/Intellekt) Là quan năng suy tư, hiểu biết, lý luận của ý thức. Mẫu tượng (Archetype/Archetypus) Hay nguyên ảnh, những mẫu hình nguyên sơ và cơ bản mang tính biểu tượng với tác động tạo hình tâm thức trong cảm xúc, suy tư, hành động của con người ở mọi nơi và trong mọi thời. Ta thử lược kê một ít mẫu tượng: mẫu tượng người cha, người mẹ, tiên nhân, nữ hoàng, hiền nhân, đạo sĩ, lão ông, lão bà, nữ trinh, đồng tử... Phía trên con người có những mẫu tượng: thiên thần, thiên sứ, thiên hoàng... Phía dưới con người, có những mẫu tượng trong hình thức các động vật, thực vật, khoáng vật, hay cả những hình học, toán số và các vật thuộc vật lý thiên văn: sư tử, chiên con, cây đa, cây ngô đồng, vàng bạc, kim cương, hình vuông, hình tròn, số ba, số bảy, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao... Cũng có những mẫu tượng hung ác: phù thủy, ma quái, Satan, ác quỷ... Những mẫu tượng như thế từng được ghi lại trong các truyện cổ tích, truyền kỳ, huyền thoại, trong văn chương, trong các truyền thống tôn giáo. Chúng cũng vẫn thường xuất hiện trong chiêm bao, trong chiêm ngắm huyền nhiệm, cũng như trong các thị kiến khải

https://thuviensach.vn tượng. Mỗi mẫu tượng đều mang một số nét đặc trưng cùng với một số ý nghĩa (cấu trúc tự bản: “an sich”), tác động trên tâm thức con người một số thể thức (cấu trúc tạo hình) trong cảm xúc, suy nghĩ, hành động. Những nét cơ bản về ý nghĩa và về tác động của các mẫu tượng đều giống nhau trong hình thức, nhưng khác nhau trong thể hiện tùy theo từng thời kỳ lịch sử, từng nền văn hóa cụ thể cũng như từng cuộc sống cá nhân của từng con người. Những mẫu tượng hung ác có thể gây nên bệnh hoạn hoặc rối loạn tâm thần; còn những mẫu tượng lành mạnh hay linh thánh có thể là những sinh lực vô cùng mạnh mẽ giúp con người thành toàn Tự ngã và thể hiện bản thân mình. C.G. Jung xếp đặt mẫu tượng vượt trên dải quang phổ gồm bảy màu ánh sáng, và gọi mẫu tượng là năng lượng tử ngoại (ultraviolet) nằm trên tâm phổ (psychic spectrum), giáp giới với thế giới siêu nghiệm, với thế giới linh thánh huyền diệu. Mặc cảm (Complexes) Nội kết tình cảm bị xáo trộn, đến từ vô thức, thường vì do một chấn thương tâm lý hay một xúc động tâm thần mãnh liệt không làm chủ được. Mặc cảm như thế là những tiêu điểm (focus) vô thức mang nhiều xúc động và chứa nhiều năng lượng, do đó cũng được gọi là những trường tâm năng lượng. C.G. Jung gọi mặc cảm – bên cạnh chiêm mộng – là vương lộ (via regia) đưa đến vô thức. Bởi mang nhiều xúc động và chứa nhiều năng lượng, mặc cảm có thể tác động mãnh liệt về cả hai phía: hoặc phía tích cực bằng cách huy động suy tư và hành động cho điều lành điều thiện, hoặc phía tiêu cực bằng những xáo trộn tâm lý và những căn bệnh tâm thần. Nguyên nhân đưa đến những hiệu quả tiêu cực của mặc cảm như vừa nói trên đây thường là những vết thương tâm lý (như khi bị xúc phạm), những cú sốc tình cảm (như mất cha mất mẹ từ thuở nhỏ, hay bị phụ tình), hoặc nữa là những phong tỏa, những cản trở lớn trong tiến trình phát triển tâm thức và con người. Nếu cái tôi ý thức không giao tiếp và giải quyết được các mặc cảm, thì những rối loạn tâm thần có thể trở thành tình trạng bị ám ảnh, bốc đồng, ma bắt, quỷ ám.

https://thuviensach.vn Mặc cảm cần được ý thức, hiểu biết và giải mở để đưa lại cân bằng, điều hòa, an bình và phát triển cho tâm thức. Có những phương pháp và kỹ năng tâm lý – như phân tâm, giải mộng, chủ động tưởng tượng – giúp đưa mặc cảm từ vô thức lên vùng ý thức, tiếp nhận chúng trong thân tình âu yếm, đặt chúng vào những tầng tâm thức cao, sâu, rộng được gọi là siêu cá nhân (transpersonal), để nhờ vậy mà giải mở, thăng hoa và chuyển hóa mặc cảm. Mộng, Chiêm mộng, Giải mộng (Dream, Dream Interpretation/Traum, Traumdeutung) Mộng hay chiêm mộng là một ngôn ngữ của vô thức đưa lại cho ý thức và cái tôi của con người những thông tin, báo động, nhắn nhủ, cảnh cáo, sứ điệp cần được thi hành và thực hiện. Đây là một loại ngôn ngữ mang tính bù trừ và bổ túc, nghĩa là với đòi hỏi phải được bù đắp và đón nhận những gì mà cuộc sống ý thức đã thiên lệch, phiến diện hoặc thiếu sót trong thực hiện. Cơ sở của đòi hỏi được bù trừ này là nguyên lý tự điều chỉnh của hệ tâm thức. Có những thiên lệch, phiến diện, thiếu sót như khi quá hướng ngoại hoặc quá hướng nội, quá thiên về tư thế nhân vật trong xã hội mà coi nhẹ những giá trị đích thực của cá nhân, quá nhấn mạnh tình cảm mà coi nhẹ lý tính (hoặc ngược lại), quá tìm kiếm vật chất mà bỏ quên tinh thần (hoặc ngược lại), quá thiếu sót không giải đáp những đòi hỏi của bóng âm, của linh âm hoặc của linh dương, quá năng nổ với những lợi ích vị kỷ nhất thời mà bỏ quên đi những đòi hỏi cao xa, sâu rộng của tâm linh, của xã hội, của cộng đồng loài người. Ngôn ngữ của chiêm mộng thường là bằng hình ảnh và biểu tượng: những chuyến du ngoạn miền núi, những buổi cắm thuyền câu cá trên hồ, những lần chèo thuyền lướt sóng vượt trùng dương, những khi người ngựa rong ruổi qua đèo qua núi hiểm trở... Có những hình ảnh về động vật như gấu, sư tử, chiên con... về cảnh vật như mặt trời mọc, mặt trời lặn, trăng non, trăng tròn, sao mai, sao hôm... Có những buổi gặp gỡ kỳ thú, những buổi dạ tiệc linh đình, những bữa ăn kỳ lạ với chỉ năm chiếc bánh và năm con cá mà cả ngàn người ăn no... Điều quan trọng là hiểu được ngôn ngữ của chiêm mộng, tìm ra được tín thư và sứ điệp mà chiêm mộng muốn nhắn gửi. Sự hiểu

https://thuviensach.vn biết và thông giải này đòi hỏi nhiều kiến thức nhân học và nhiều kinh nghiệm. Có những phân ngành tâm lý học, như Phân tâm học của S. Freud (1856 – 1939) và nhất là Tâm lý học Chuyên sâu củaC.G. Jung (1875 – 1961) đã cống hiến những cơ sở lý thuyết cũng như những kỹ năng tâm sinh lý giải mộng rất giá trị. Năng lượng tâm lý (Psychic Energy/Psychische Energie) x. tâm lực. Ngã, Tự ngã (Self/Selbst) Thực thể trọn vẹn con người, gồm ý thức lẫn vô thức, trung tâm điều động toàn bản thân bản vị, năng lượng thể hiện cấu trúc và hình thành cuộc sống. C.G. Jung căn dặn đừng lẫn lộn cái tôi với cái ngã, bởi cái tôi chỉ là trung tâm của ý thức, còn cái ngã là trung tâm của cả ý thức lẫn vô thức. Tự ngã tỏ bày mình ra thông qua những hình ảnh có tính biểu tượng và mẫu tượng: Những hình ảnh người như lương y, thầy giáo, vị anh hùng, bậc tư tế... Và bởi Tự ngã mang tính mẫu tượng, nên Tự ngã cũng biểu lộ mình dưới những hình ảnh siêu ý thức gồm vừa trời vừa đất, vừa là kim cương vừa là cầm thú, vừa là Tự hữu (Be) vừa là Hiện hữu (tham hữu: Being). Tự ngã cũng kết hợp những đối cực hầu như mâu thuẫn: hình ảnh những con người vừa nam vừa nữ, vừa lớn vừa bé, vừa bất lực vừa toàn năng, vừa là lão ông vừa là đồng tử... Thông qua những hình ảnh có tính biểu tượng và mẫu tượng trên đây, C.G. Jung lưu ý đến hai khía cạnh thiết yếu của Tự ngã: sự tác động phi thường bởi tính huyền diệu (numinosity) của mẫu tượng đưa lại cảm giác vô thời gian, đạt vĩnh cửu. Khía cạnh thứ hai là Tự ngã được nối kết với tư tưởng một Thần Linh: Tự Ngã trong Thần Linh và Thần Linh trong Tự Ngã. Người ta nghĩ đến hình ảnh Thiên Chúa trong con người hoặc Đấng Christ trong tôi theo truyền thống Kitô giáo, và Phật là ta và ta là Phật theo truyền thống Phật giáo. Trong dòng tư tưởng này, C.G. Jung cũng nói đến sự hội nhập đêm với

https://thuviensach.vn ngày, bóng tối với ánh sáng, sự ác với sự thiện: “Không có sự hội nhập của sự ác, sẽ không có sự thành toàn trọn vẹn” (GW 11, § 231 t.). Dĩ nhiên ta cần hiểu hội nhập hàm ý nghĩa chuyển hóa. Nguyên ảnh (Archetype/Archetypus) x. mẫu tượng. Nhân vật (Persona) Theo nguyên tự là chiếc mặt nạ mà các diễn viên sâu khấu thời cổ đại mang vào mình để cho biết vai tuồng của mình là gì) gương mặt xã hội của con người, với địa vị và chức vụ, cùng với cách sống và thái độ sống mà xã hội trông chờ nơi một con người: như là đàn ông hay đàn bà, gia chủ hay tôi tớ, giám đốc xí nghiệp hay thợ làm công. Nhân vật là một sự thích ứng cần thiết và ích lợi của cá nhân trong xã hội. Nhưng sẽ là vấn đề, khi con người bị đồng nhất với nhân vật. Nếu vai trò xã hội có thể đưa lại an toàn và nhìn nhận, thì nguy hiểm là con người với bản vị, tâm hồn và những giá trị người bị chết ngạt phía sau chiếc mặt nạ nhân vật. Nhân vật và con người đứng trên một vị thế tương quan lưỡng cực. Thí dụ: một gã đàn ông tỏ ra hùng hổ bên ngoài, có thể bên trong là một tâm hồn nhu mì tế nhị, và ngược lại; một thái độ ưa thích tranh cãi lý lẽ, có thể ẩn giấu bên trong một con người hiền lành và nhiều tình cảm; một kẻ bên ngoài ra vẻ đạo đức liêm chính, có thể bên trong lại đầy dẫy những ý nghĩ bần tiện thô thiển. Không giải quyết được cho cân bằng mối tương quan giữa con người và nhân vật, ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong các tương giao xã hội và trong sự thực hiện những giá trị đích thực của bản thân ta. Phóng ngoại

https://thuviensach.vn (Projection) Phóng chiếu ra ngoài những nội dung tâm lý vô thức, thường mang tính tiêu cực và bởi lý do tự vệ, như phóng đổ lên kẻ khác những điều thua kém của chính mình (như trong trường hợp bóng âm). Nhưng phóng ngoại cũng có thể mang tính tích cực, như khi đặt để lên kẻ khác những ý tốt, những điều lành, được thúc đẩy bởi một lý tưởng nào cao đẹp, hoặc để phát triển tâm thức của chính mình (như trong trường hợp thực hiện linh âm, linh dương, lý tưởng Tự ngã). Rất nhiều những tương quan giữa người với người, giữa các nhóm người, các hội đoàn, các nước, các dân tộc, các tôn giáo từng bị xáo trộn, hiểu lầm, hư hỏng, sai lạc – đến cả lên án và sát phạt lẫn nhau – chỉ bởi việc phóng ngoại này. Ý thức được sự kiện phóng ngoại, rút lại sự phóng ngoại đã làm, biết được hậu ý của sự phóng ngoại như là diễn tả một sự thiếu sót nào đó của bản thân, đồng thời cũng là diễn tả một đòi hỏi của vô thức phải thực hiện những giá trị mình cần có để thể hiện thành toàn và sung mãn đời mình: đó là những bước đi quan trọng để giải quyết vấn đề phóng ngoại. Tâm lực (Psychic Energy/Psychische Energie) Hay năng lượng tâm lý, là những năng lực điều động cuộc sống tâm lý và tâm linh của con người, được diễn tả qua xúc cảm, ước ao, mong muốn, định tâm, quyết chí. Năng lượng tâm lý phát xuất từ bản năng, mặc cảm, nguyên ảnh, mẫu tượng, thị kiến, khải tượng, linh hứng, cũng như từ những xung lực đến từ các nền văn hóa và truyền thống của loài người. Tâm thức (Psyche) Tổng bộ hệ tâm lý gồm lãnh vực ý thức (conscious) và lãnh vực vô thức (unconscious). Những lãnh vực vô thức, được C.G. Jung chia thành vô thức cá nhân (personal unconscious) và vô thức tập thể (collective unconscious). Những nội dung của vô thức cá nhân nằm sát biên giới ý thức và sẵn sàng

https://thuviensach.vn được trở nên ý thức thì được S. Freud gọi là tiền thức (pre-conscious); còn những nội dung nằm giữa ý thức và vô thức thì được S. Freud gọi là tiềm thức (sub-conscious). Tâm thức, theoC.G. Jung, cũng còn được hiểu là hệ tâm lý gồm có Ngã (Self/Selbst) là trung tâm của toàn thể bản vị, Hồn (Soul/Seele) là sinh lực cho sự sống, cái Tôi (I/Ich) là chủ động của ý thức, Lý Trí (Mind/ Intellekt) là quan năng suy tư, và Tinh Thần (Spirit/Geist) là khả năng hướng về nghệ thuật, sáng tạo, luân lý, đạo đức, ý nghĩa. (Xem thêm các thuật ngữ: Ngã, Hồn, Tôi, Lý Trí, Tinh Thần). Còn tâm thức, theo S. Freud, thì gồm có Nó (It), Tôi (I) và Siêu Ngã (Over-I). Nó (It) bao hàm các nội dung của vô thức, các sinh lực của bản năng và các tâm lực của hệ phát sinh nhân chủng (philogenetic); Tôi (I) là chủ thể và là nguyên lý phẩm định thực tại; còn Siêu Ngã (Over-I) là một thẩm quyền mang tính lý tưởng và có nhiệm vụ thẩm sát các hành động tâm lý và luân lý của cái tôi. Thành toàn Tự ngã (Individuation) Quá trình phát triển và trưởng thành tâm thức, đưa đến ý thức trọn vẹn về ngã, thể hiện đầy đủ bản thân, thành tựu tròn đầy bản vị; đừng lẫn lộn với cá nhân chủ nghĩa (individualism). Một nét đặc biệt của quá trình phát triển và trưởng thành này là quá trình dị đồng hóa (differentiation) nhắm thể hiện bản sắc cá tính của bản vị một con người nhất định. Đó là quá trình đưa mình ra khỏi tập thể mù quáng và vô danh, nhưng dĩ nhiên không tách rời khỏi cộng đồng con người nơi mình sinh sống. Mô hình phát triển và trưởng thành này gồm ba lãnh vực: (a) Thương thảo tác động với bóng âm, với linh âm linh dương, cũng như với Tự ngã là trung tâm của toàn vẹn con người; (b) Điều hòa phát triển cả bốn tác vụ tâm lý: suy tư, tâm tình, cảm nhận và trực kiến; (c) Sau cùng là tương tiếp đón nhận tất cả những nội dung vô thức siêu cá nhân (transpersonal) và thuộc cả chủng loại con người. Tinh Thần

https://thuviensach.vn (Spirit/Geist) Là khả năng vừa thuộc lãnh vực ý thức mà cũng liên hệ với các tầng sâu vô thức. Công việc hàng đầu của tinh thần là những hoạt động hướng về nghệ thuật, sáng tạo, luân lý, đạo đức, ý nghĩa của sự sống, của hiện hữu. Ngoài ra, tinh thần cũng có các nhiệm vụ suy tư, phê phán, ảnh hưởng trên cảm xúc và tâm tình. Tôi (I / Ich) Trung tâm của ý thức, trong khi ngã là trung tâm của toàn thể bản vị. Tôi là yếu tố chủ động trên ý thức bằng cách điều động và phối hợp các tác động của ý thức như cảm nhận, tâm tình, suy tư và trực giác. Ngoài ra, tôi cũng là yếu tố trung gian phối kết liên lạc với các bóng âm cũng như với những linh ảnh là linh âm và linh dương. Toàn vẹn, Toàn diện, Trọn vẹn, Chủ toàn, Thành toàn (Wholeness, Integrity/Ganzheit) Ý nghĩa và thể hiện ý nghĩa về cuộc sống một cách đầy đủ, quân bình, trọn vẹn, tròn đầy. Quan niệm về toàn vẹn ngày nay được nói đến rất nhiều trong nhiều phân ngành khoa học cũng như trong nhiều lãnh vực của cuộc sống, nhất là theo tư duy phương Đông: Y khoa toàn diện, giáo dục toàn diện, suy nghiệm toàn diện, tư duy chủ toàn, cuộc sống toàn vẹn tròn đầy... Toàn vẹn không nhất thiết có nghĩa phải trọn hảo ngay từ phút đầu, nhưng là sẵn sàng bước vào quá trình thương thảo với những khó khăn của bản thân và của cuộc sống, để hội nhập những nội dung vô thức cần thiết và từ đó được trở nên thành toàn. Con đường đưa đến thành toàn nhiều khi là những con đường quanh co chứ không phải những xa lộ thẳng tắp. Những chặng đường quan trọng là: biết quân bình nối kết những mảng nhân cách tách biệt, những nghịch lý tương phản trong cuộc sống, những vui và buồn, những thành công và thất bại, những hạnh phúc và đau thương. Quá trình thành toàn thường sử dụng những mẫu tượng và biểu tượng để nối

https://thuviensach.vn kết ý thức và cái tôi cùng với Tự ngã. Có những mẫu tượng dưới hình dạng người như những hiền nhân, thánh nhân... Có những biểu tượng dưới dạng những hình vuông, hình tròn (hình cung nguyệt: mandala)... Quá trình thành toàn này cũng lưu tâm phát triển quân bình bốn tác động tâm lý là suy tư, tâm tình, cảm xúc và trực kiến, trong đó cần để ý cách riêng đến những tác động yếu kém, chưa đủ phát triển. Trùng phùng (Synchronicity/Synchronizitt) Sự gặp gỡ, sự trùng hợp, sự tương phùng ngẫu nhiên, nhưng đầy ý nghĩa giữa hai biến cố; có thể cả hai biến cố đều ở bên ngoài, cũng có thể một biến cố thuộc thế giới nội tâm và một thuộc thế giới vật lý bên ngoài. ĐiềuC.G. Jung nhấn mạnh là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng có ý nghĩa. Có ba loại trùng hợp: (a) Trùng hợp giữa một trạng thái tâm lý với một đối tượng bên ngoài (Thí dụ bà Gabriele đang đau buồn kể việc phá thai của bà, thì cùng lúc có con chim đập đầu vào cửa sổ phòng nơi bà đang kể chuyện với bác sĩ); (b) Trùng hợp giữa một kinh nghiệm tâm lý dưới hình dạng một cơn mộng có tính mẫu tượng với những biến cố bên ngoài rất xa cách trong không gian (Thí dụ giấc mộng về đám cháy ở thành phố Stockholm cách xa hàng trăm cây số mà sau đó đã được xác nhận); (c) Trùng hợp giữa một trạng thái tâm lý với những biến cố trong tương lai (Thí dụ giấc mộng của Tổng thống Abraham Lincoln về việc tang khách phúng điếu mình và sau đó quả thật ông đã bị ám sát, 1865). Với sự kiện trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng có ý nghĩa như vừa trình bày, C.G. Jung muốn đưa ra bên cạnh những nguyên lý vật lý truyền thống (không gian, thời gian, nguyên nhân hậu quả) một nguyên lý thứ tư nữa thuộc lãnh vực tâm lý: với linh cảm, tương cảm, tương chiếu, tương đồng, màC.G. Jung gọi là “nguyên lý trùng phùng” hay “nguyên lý ý nghĩa của hiện hữu”. Tưởng tượng, Chủ động tưởng tượng (Imagination, Active Imagination/Aktive Imagination) Chủ động tưởng tượng

https://thuviensach.vn là một phương pháp vừa có tính trị liệu vừa có khả năng xây dựng, hoặc để giải quyết những uẩn khúc của tâm hồn hoặc để thăng tiến những nội dung hướng thượng của vô thức. Khác với chiêm mộng đưa hình ảnh đến cho con người, với chủ động tưởng tượng, thì chính con người năng động giao tiếp và làm việc với các hình ảnh và các biểu tượng. Những hình ảnh này có thể lấy ra từ một giấc mộng hay từ một hoàn cảnh đang làm ta bận tâm lo lắng, hoặc nữa từ một khải thị hay từ một giấc mơ lý tưởng. Có những kỹ năng làm việc như họa hình, tường thuật hay viết lại về những hình ảnh ta đã chọn. Kỹ năng này đặc biệt thích ứng cho những hình ảnh đang làm ta suy nghĩ, ưu tư, lo lắng. Cũng có thể dùng phương pháp diễn tả dưới hình thức viết thư; C.G. Jung lưu ý rằng hình thức viết đưa lại nhiều hiệu quả hơn hình thức tường thuật. Trong chủ động tưởng tượng, những nội dung của vô thức được nhân cách hóa, và ta có thể trao đổi, hỏi han chúng cũng như để cho chúng hỏi han lại chính chúng ta. Điều quan trọng là tìm cách hiểu được tín thư của các hình ảnh, biết sắp xếp lại các nội dung một cách hợp lý và có hệ thống, và cuối cùng rút ra được những hệ quả cho cuộc sống của bản thân. Vô thức (Unconscious/Das Unbewusste) Một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 66

Đang tải bình luận...