phần lớn thời niên thiếu của mình. Anh ta nói với tôi về áp lực khi tham gia, sự hỗn loạn trong ngôi nhà của anh ta với người cha nghiện heroin và niềm tin rằng anh ta sẽ không bao giờ làm được gì. Dù bị bắt bao nhiêu lần đi nữa, anh ta vẫn sẽ quay lại “băng nhóm giang hồ” và ma túy. Khi được hỏi tại sao, José châm biếm, “Có lẽ họ đã không trừng phạt tôi thích đáng khi còn ở trong tù”. Thực tế là chẳng gì có thể sánh được với cuộc sống thú vị khi anh ta còn là một thành viên trong băng đảng. José từ chối những đề nghị của các cố vấn mong muốn giúp đỡ trong thời gian bị giam giữ và thử thách. Pedro quyết tâm trở thành người đối lập với anh trai và cha mình, làm mọi thứ có thể để giúp mẹ có đủ tiền chuyển ra khỏi khu phố và sống một cuộc sống tốt hơn. Pedro đã báo cáo việc nhiều lần bị quấy rầy và lôi kéo tham gia một băng đảng. Anh ấy nói với tôi, “Người ta kỳ vọng bạn sẽ là một chiến binh. Họ sẽ bắt tôi trên đường về nhà.” Tôi muốn nói, “Nó không dành cho tôi, tôi không phải là người theo thể loại băng đảng. Họ sẽ cười nhạo và tấn công tôi. Họ sẽ thấy tôi không nhượng bộ.” “Tôi bị gọi là tên khốn và họ phỉ nhổ vào tôi”. Như anh ta thấy được, các băng đảng mang đến một tương lai lụi tàn, ngục tù và chết chóc. Pedro nói, “Băng đảng chỉ là một vấn đề nhỏ trong thế giới rộng lớn này. Tôi
muốn giống như Bill Gates chứ không phải là một gã bị bắn hạ. Các giáo viên và huấn luyện viên đã chỉ cho tôi thấy một lối thoát khác. Họ nói đến các trường đại học”. Pedro vẫn giữ viễn cảnh về một thế giới mang đến cơ hội vô hạn nếu không dính dáng đến những rắc rối. Bất chấp nhà cửa hỗn loạn và áp lực từ các bạn cùng trang lứa, anh ấy vẫn đi theo triển vọng đó và kiên trì đến trường, học hành chăm chỉ, chơi thể thao và bỏ qua những cám dỗ xung quanh - đối với anh, đó hoàn toàn không phải là những cám dỗ. Về phần anh trai mình, Pedro nhận xét, “Anh trai tôi đã sống theo cách của mình, và tôi thấy được điều đó, Tôi thấy được những sai lầm của anh ấy”. Ngoài sự phấn khích, các băng nhóm còn mang đến cơ hội để nâng cao ý thức về tầm quan trọng của một người và củng cố hình ảnh bản thân như một người cứng rắn. Mục đích của băng nhóm không phải là tạo ra một môi trường gia đình ổn định, giúp nuôi dưỡng và quan tâm đến các thành viên. Theo quan sát của Pedro, đó là một nhóm các chiến binh theo đuổi mục tiêu của họ một cách tàn nhẫn, và sẵn sàng loại bỏ bất kỳ ai phản bội họ. Trong một băng đảng, bất cứ ai cũng đều có thể trở nên vô tác dụng và bị loại bỏ. Lòng trung thành được thể hiện thông qua mật mã đường phố “đừng chỉ điểm”. Các nghi thức gia nhập ban đầu, bạo lực và ma túy gần như không thể ngang hàng với sự nuôi dưỡng và hỗ trợ mà một gia đình thực sự mang lại. Nhiều người không có một cuộc sống gia đình ổn định thời thơ ấu đã phải vật lộn để tự giáo dục bản thân, đạt được những kỹ năng và làm việc chăm chỉ với mong muốn một ngày nào đó sẽ có được một gia đình mà họ chưa có được. Trong cuốn sách Wise Guy: Life in a Mafia Family (tạm dịch: Wiseguy: Cuộc sống trong một gia đình Mafia) của Nicholas Pileggi, cựu thành viên xã hội đen Henry Hill đã xác nhận vai trò cốt lõi của sự lựa chọn trong việc xác định con đường đi của mình[50] . “Ở tuổi 12, tham vọng của tôi là trở thành một thành viên của xã hội đen. Trở thành một người khôn ngoan. Đối với tôi, trở thành một người khôn ngoan còn tốt hơn là trở thành tổng thống Hoa Kỳ… Trở thành một người khôn ngoan là nhằm làm chủ thế giới. Tôi mơ ước trở thành một người khôn ngoan như cách những đứa trẻ khác mơ ước trở thành bác sĩ, ngôi sao điện ảnh, lính cứu hỏa hoặc vận động viên bóng chày”.
Nếu trở thành thành viên của một tổ chức tội phạm có vẻ cực đoan thì hãy xem xét một thiếu niên thuộc tầng lớp trung lưu mà tôi có dịp nói chuyện cùng và nêu rõ quan điểm về cuộc sống cô ấy mong muốn. Cô ấy khoe khoang về sự tách biệt tự mình đặt ra giữa bản thân với những người có trách nhiệm cùng trang lứa mà cô hết sức coi thường. Cô ấy cho biết, “Những người thẳng thắn làm gì để giải trí, tôi chẳng bao giờ biết được điều đó. Họ làm gì? Nếu họ bắt đầu tổ chức tiệc tùng, họ sẽ trở nên lập dị”. Cô ấy cho biết bản thân không có gì để nói chuyện với “những người thẳng thắn,” và khẳng định những đứa trẻ cô muốn chơi cùng cũng giống như cô. Cô ấy nói rõ: áp lực từ bạn bè không liên quan đến việc sống theo những gì cô ấy thể hiện và tôn vinh như là “lối sống năng động và bận rộn”.
4. TRƯỜNG HỌC LÀ ĐỊA NGỤC Đấy không phải là diễn đàn để thảo luận về những vấn đề thiếu sót của trường học hay của hệ thống giáo dục, mà là nơi sẽ thể hiện rõ cách thức hoạt động của những kẻ phạm tội dưới vỏ bọc của một đứa trẻ tại bất kỳ ngôi trường nào chúng theo học. Sự thù ghét trường học đã được Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ coi là “yếu tố chính trong sự phát triển của hành vi phạm tội trong lứa tuổi vị thành niên và bạo lực học đường”.[51] Thực tế là những kẻ phạm tội không chấp nhận môi trường học đường trong một khoảng thời gian rất lâu trước khi bị đuổi học. Anh ta buồn chán và “xa lánh” trường học vì mục tiêu của anh ta ít liên quan đến học tập. Thay vào đó, anh ta lợi dụng ngôi trường, sử dụng nó như một đấu trường thực hiện hành vi phạm tội hoặc làm vỏ bọc để phạm tội. Giống như cha mẹ anh ta, các thầy cô giáo không thể giúp hòa nhập và giáo dục những tội phạm này. Các chương trình giáo dục đặc biệt và tư vấn thường không thể đánh giá học sinh nào phạm tội, huống chi là thay đổi anh ta. Có ba hình mẫu khác nhau được những kẻ phạm tội thể hiện trong cách tiếp cận với giáo dục. Hình mẫu đầu tiên có thể nhận thấy ở những cá nhân bỏ học trước khi hoàn thành chương trình trung học. Trường học trở thành đấu trường dành cho hoạt động tội phạm miễn là tội phạm vẫn đi học. Những học sinh bỏ học này luôn chống đối lại giáo viên và ban giám hiệu nhà trường. Chúng thực hiện rất ít hoặc thậm chí không thực hiện công việc học tập, làm gián đoạn quá trình học tập của những đứa trẻ ham học và sẵn sàng bỏ học ngay khi có thể . Nhóm học sinh thứ hai tôi gọi là “buông thả”. Trong những năm tiểu học, những đứa trẻ này không đặt nặng vấn đề kỷ luật. Chúng đủ thông minh để vượt lên trong học tập, nhiều đứa trẻ thậm chí đạt thành tích xuất sắc. Công việc học tập không quá khó khăn và chúng rất hòa hợp với những đứa trẻ khác. Những đứa trẻ này có một giáo viên tiểu học và chúng học cách làm hài lòng người giáo viên đó mà không tạo ra quá nhiều sóng gió và rắc rối. Khi bước vào ngôi trường trung học cơ sở, chúng gặp phải những giáo viên đặt ra nhiều yêu cầu khác nhau, bao gồm cả việc gia tăng
đáng kể số bài tập về nhà, nhiều bài kiểm tra hơn và áp đặt thời hạn cho các bài luận và dự án. Do những nỗ lực nhỏ bé mà chúng bỏ ra trong những năm trước đó không đủ để đáp ứng những thách thức mới nên kết quả học tập dần giảm sút. Hầu hết những đứa trẻ này hoàn thiện bậc trung học, và một số vào đại học nhưng không thể tốt nghiệp. Nhóm thứ ba vượt trội về mặt học tập. Những học sinh này rất thông minh, luôn đạt được điểm cao và có thể đạt danh hiệu danh dự. Thành tích học tập giúp nâng cao danh tiếng của chúng, do đó giúp chúng dễ dàng đạt được bất cứ điều gì bản thân mong muốn. Một số sinh viên tài năng này tốt nghiệp đại học và tiếp tục đạt được những bằng cấp cao hơn. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét ba loại tội phạm này: bỏ học, buông thả và thành công cao.
Học sinh quậy phá bỏ học Một số học sinh phạm pháp rất khó quản lý ngay từ khi mới đi học. Nhiều giáo viên có xu hướng cảm thông với chúng và coi những hành vi sai trái đó như những lời kêu gọi muốn được chú ý. Với suy nghĩ rằng trẻ em đôi khi cần thời gian để thích nghi với trường học nên người giáo viên này kiên nhẫn, cố gắng hướng dẫn những đứa trẻ vượt qua bất kỳ khó khăn nào. Vấn đề là những thay đổi không bao giờ thực sự xảy ra và lòng tốt của giáo viên bị lợi dụng như một điểm yếu. Sự thông cảm bắt đầu vơi đi khi đứa trẻ này lớn lên và hành vi của nó ngày càng phá phách. Một số thanh niên nổi cơn điên cuồng trộm cắp và phá hoại. Nếu chúng muốn một thứ gì đó của một học sinh khác, chúng sẽ tự mình thực hiện mong muốn đó. Những món đồ biến mất khỏi bàn làm việc, phòng ngủ, tủ khóa và các đồ vật biến mất khỏi tủ đựng đồ. Tùy thuộc vào mức độ an ninh, bãi đậu xe có thể trở thành một kho chứa những chiếc xe không khóa để đánh cắp. Những đứa trẻ nhanh chóng tìm khách hàng để tiêu thụ những món đồ đánh cắp nhằm phủi đi những món hàng nóng khỏi bản thân. Các giao dịch ma túy với lượng khách ngày càng nở rộ. Hành vi xâm hại tài sản xảy ra trong giờ học và giờ tan tầm. Hành vi phá hoại gây ra thiệt hại rất lớn khi những đứa trẻ hư hỏng đục khoét bàn, vẽ bậy lên những tuyến đường, xé sách vở, làm vỡ cửa sổ và phá hoại đồ đạc. Các giáo viên nhận thấy rằng việc đối phó với một hoặc hai trong số những hành vi ngỗ ngược này còn khó hơn dạy cả một lớp với những học sinh ham học. Một đứa trẻ rất khó tập trung vào bài học môn toán vào buổi sáng sau khi nó vừa bị quỵt tiền ăn trưa và bị cảnh báo tốt hơn hết là nó nên có nhiều tiền hơn vào ngày hôm sau. Một cậu học sinh gần như không thể học tập khi bị đe dọa cho ăn đòn nếu không nộp tiền để được “bảo kê”. Một số đứa trẻ làm mọi cách để tránh sử dụng nhà vệ sinh ở trường học vì sợ bị trở thành nạn nhân tại những nơi không được giám sát. Nỗi sợ hãi rình rập quanh những hành lang trường học, nơi thường xuyên xảy ra các vụ tống tiền và đánh nhau. Nếu tồn tại một số lượng học sinh phạm pháp nhất định tập trung tại một cơ sở thì trường học sẽ bị ảnh hưởng đến mức như thể đang bị kìm hãm. Toàn bộ quá trình giáo dục trở thành con tin cho những đứa trẻ tạo ra bầu không khí sợ hãi và cản trở việc học hành.
Một ngôi trường sẽ phải lựa chọn khía cạnh nào đáng để tập trung các nguồn lực quý giá giữa một loạt các vấn đề nhức nhối. Có thể tạm thời bỏ qua những hành vi không gây rối loạn nghiêm trọng hoặc lâu dài. Buông lỏng giám sát học sinh là một trong những vấn đề mà các ngôi trường thường không nghiêm khắc trong vấn đề đưa ra hình phạt, ít nhất là cho đến khi nó trở thành một hình thức thường xuyên xảy ra. Khi nhà trường thực hiện các biện pháp xử lý thì đứa trẻ đó đã có thể phủ nhận việc trốn học, tự viết giấy xin phép nghỉ học và giả mạo chữ ký của phụ huynh. Cha mẹ không biết rằng con mình trốn học, cũng như nó sử dụng thời gian như thế nào trong thời gian đó. Một số nhân viên nhà trường phải đối mặt với khó khăn trong công tác quản lý các học sinh gây rối. Nếu phải kiềm chế hoặc cách ly một đứa trẻ bạo lực, họ có nguy cơ gặp rắc rối với lãnh đạo nhà trường hoặc phụ huynh học sinh, bị đưa ra tòa hoặc bị bạn bè của kẻ phạm tội hành hung. Tuy nhiên, họ cũng có thể gặp rắc rối nếu không có hành động gì khi một đứa trẻ nào đó bị xâm hại. Đình chỉ học tập giúp tạm thời xoa dịu tình hình, tuy nhiên đuổi học vĩnh viễn một học sinh gây rối thường hiếm khi xảy ra, do đó khó có thể là giải pháp khả quan. Nỗ lực vận động một đứa trẻ như vậy tham gia một chương trình hoặc đến cơ sở đặc biệt gặp phải những cáo buộc rằng nó đang bị kỳ thị, bị tước đi cơ hội và bị ruồng bỏ. Trường học thường không tố giác hành vi tội phạm cho cơ quan công an. Họ muốn xử lý các vấn đề trong phạm vi nội bộ và tránh công khai. Lý do là bởi các lãnh đạo nhà trường không coi hành vi như vậy là một hành vi phạm tội. Lý do thứ hai là tố giác tội phạm có thể khiến một số cơ quan bên ngoài tiến hành công tác điều tra độc lập, từ đó gây rắc rối cho nhà trường. Lý do thứ ba là một vụ việc như vậy sẽ làm xấu hình ảnh cho cả ngôi trường cũng như ban giám hiệu. Nhiều trường học hiện nay có những nhân viên thực thi pháp luật ngay tại cơ sở. Ví dụ như tại Washington, D.C., các trường công lập và bán công có 102 “sĩ quan cảnh sát tại chỗ” được vũ trang ngay trong khuôn viên nhà trường và 253 bảo vệ không vũ trang trong năm học 2012-2013.[52] Sự hiện diện của các nhân viên thực thi pháp luật tạo thành một tấm lưới ngăn chặn đối với một số hành vi phạm tội. Họ có thể ngăn chặn các cuộc xung đột cũng như bắt giữ đối tượng kịp thời. (Trong năm 2011, cảnh sát thuộc các ngôi trường tại D.C. đã thực hiện gần năm trăm vụ bắt giữ.) Một số
trường có hệ thống giám sát an ninh giống như sân bay và học sinh phải đi qua mỗi khi vào trường. Nhiều trường học, đặc biệt là tại các khu vực nội thành, giống các khu vực chiến sự hơn là các trung tâm học tập vì có những kẻ phạm pháp cai quản địa bàn và khẳng định ai mới là người phụ trách ở đó. Năm 2013, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) công bố những phát hiện từ cuộc khảo sát trên 2.998 giáo viên từ bậc mẫu giáo đến lớp 12.[53] 94% số giáo viên này cho biết họ trở thành nạn nhân theo những cách thức như: 44% bị tấn công thể xác, 72% bị quấy rối, trong khi 50% bị trộm cắp hoặc thiệt hại tài sản tại trường học. Bạo lực đối với giáo viên đã trở thành một “cuộc khủng hoảng quốc gia”. Tờ Baltimore Sun số ra ngày 16 tháng 2 năm 2014 đưa tin, trong năm học vừa qua, đã có 873 trường hợp bị đình chỉ học tập và tấn công nhân viên. Báo cáo này nhấn mạnh thực tế rằng, nhân viên tại các trường công lập bị tấn công thường xuyên hơn những nhân viên khác tại các cơ quan khác tại thành phố Baltimore, ngoại trừ nhân viên thuộc sở cảnh sát.[54] Một bài báo của APA năm 2013 đã đề xuất các biện pháp ngăn chặn bạo lực đối với giáo viên. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, “Preventing Violence Against Teachers”, Monitor on Psychology, tháng 11 năm 2013, 61-64.[55] Một biện pháp can thiệp trong số đó là thu hút học sinh tham gia “các hoạt động tích cực” trong cộng đồng để nâng cao giá trị bản thân. Mặc dù phương pháp này có thể hiệu quả với nhiều học sinh, tuy nhiên rất ít học sinh phạm pháp muốn tham gia vào các tổ chức cộng đồng. Bài báo này tiếp tục cho biết, “các biện pháp can thiệp vào khủng hoảng tại trường học” mang lại “những thay đổi tích cực từ quan điểm của giáo viên và nhân viên… nhưng không phải từ quan điểm của học sinh”. Nói tóm lại, nhiều học sinh phạm pháp từ chối bất cứ thứ gì được đưa ra vì nó không phù hợp với sở thích của chúng. Một số hệ thống trường học áp dụng “chính sách không khoan nhượng” để đối phó với những học sinh mang ma túy hoặc vũ khí vào sân trường. Các chính sách này ngày càng gây ra nhiều tranh cãi. Rất ít người phản đối việc cần phải có những biện pháp mạnh mẽ để xử lý những học sinh đe dọa môi trường an toàn, tuy nhiên một số người chỉ trích đã lên án những chính sách này là thái quá và không hiệu quả. Một lực lượng đặc nhiệm do APA ủy quyền tuyên bố: “Các chính sách không khoan nhượng
có thể tạo ra hoặc làm gia tăng một số hậu quả tiêu cực liên quan đến sức khỏe tâm thần cho thanh thiếu niên do sự gia tăng tình trạng xa lánh, lo lắng, chối bỏ của học sinh và phá vỡ mối quan hệ lành mạnh của người lớn”. Mặc dù điều này có thể đúng trong một số trường hợp, tuy nhiên hãy chú ý tới những đứa trẻ chúng ta đang xem xét. Ai xa lánh ai? Những đứa trẻ phạm pháp bị giam hãm trong cuộc chiến với những người muốn giáo dục chúng. Một giáo viên nói với tôi, Brian có thái độ kiểu “Tôi thách bà dạy được tôi đấy”. Khi còn nhỏ, tội phạm xa lánh chính những người muốn dạy dỗ và giúp đỡ mình. Anh ta không quan tâm đến việc xây dựng “mối quan hệ lành mạnh của người lớn”. Chắc chắn là bất kỳ chính sách nào cũng có thể bị áp dụng sai lệch. Đình chỉ học một đứa trẻ bảy tuổi vì nó cắn chiếc bánh ngọt thành hình khẩu súng và chĩa vào bạn cùng lớp là một phản ứng thái quá, và hình phạt tương tự với một thiếu niên mang aspirin trong túi vào sân trường cũng giống như vậy. Nhưng chắc chắn, sẽ cần đến một số hình thức “không khoan nhượng” để xử lý những học sinh đe dọa đến sự an toàn của cộng đồng. Về mặt học tập, hầu hết những đứa trẻ phạm pháp đều không phát huy hết tiềm năng của chúng. Do áp lực xã hội mạnh mẽ và luật định cần phải đến trường, một số học sinh duy trì việc đến trường trong một khoảng thời gian đủ để tránh gặp phải rắc rối với phụ huynh, giáo viên, nhân viên quản lý học sinh trốn học và tòa án. Khi chúng đến tuổi không bắt buộc phải đi học theo quy định của pháp luật, nhiều người sẽ bỏ học. Tỷ lệ mù chữ cao trong giới tội phạm thường được cho là do họ bị khiếm khuyết trong học tập. Giả thuyết được đưa ra như sau: Khi đứa trẻ bị khiếm khuyết trong học tập, nó thất bại, chán nản, bực bội và giảm đi lòng tự trọng. Cậu ta không nhận được sự quan tâm tích cực và sẽ bù đắp điều đó bằng cách tìm kiếm theo những hướng tiêu cực. Có lẽ một bộ phận nhỏ trẻ em vi phạm thực sự bị khiếm khuyết trong khả năng học tập, tuy nhiên vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy mối liên hệ nhân quả giữa tình trạng khiếm khuyết học tập và hành vi phạm pháp ở tuổi vị thành niên. Lý do khiến hầu hết những đứa trẻ phạm pháp mù chữ là do chúng không chịu học hành chứ không phải bị khiếm khuyết trong học tập. Hãy xem những yêu cầu cần có với một bài học đọc - sự chú ý, tập trung, rèn luyện, kiên trì với một nhiệm vụ dường như tẻ nhạt hoặc khó khăn. Khi còn nhỏ, tội phạm luôn cho rằng mình thông minh hơn những người khác. Anh ta nổi cáu khi bị yêu cầu phải làm gì và phải thực hiện
theo mệnh lệnh của người khác. Điển hình là câu nói của một cậu bé từng nói với tôi: “Cháu có thể đạt được tất cả điểm A nếu muốn, nhưng trường học rất tệ”. Những người trẻ này thực hiện công việc ở mức tối thiểu và gần như không quan tâm đến kết quả cuối cùng. Chúng tự xác định tiêu chuẩn cho những gì có thể chấp nhận được. Một số kẻ phạm pháp thậm chí quyết định không thực hiện các yêu cầu được giao. Một anh chàng khẳng định, “Tôi thấy không cần thiết phải làm bài tập về nhà và tôi nói với giáo viên tôi sẽ không làm”. Các hệ thống trường học gặp phải một vấn đề lớn khi tiếp nhận những học sinh thường xuyên quậy phá. Một hoặc hai học sinh như vậy có thể cướp đi cơ hội học tập của cả một lớp. Hầu hết mọi giáo viên đều đã có kinh nghiệm xử lý một đứa trẻ hoặc một cậu thiếu niên ngỗ ngược luôn đưa ra yêu cầu bất thường về thời gian của chúng. Đây không phải là một đứa trẻ nhiều lời, một “chú hề trong lớp”, hay đứa trẻ luôn đòi hỏi phải có sự thúc giục liên tục mới chịu hoàn thành dự án hoặc nộp bài tập về nhà. Tồi tệ nhất, những học sinh này thực hiện hành vi vi phạm ngay trong lớp học - trộm cắp, hành hung và phá hoại. Chúng chiếm đoạt thời gian, sự chú ý và các nguồn lực nên được dành cho các học sinh khác trong lớp. Chúng không phản ứng với các biện pháp kỷ luật thông thường hoặc những nỗ lực phi thường để thu hút chúng vào các môn học. Ban giám hiệu không phải lúc nào cũng ủng hộ những giáo viên vốn đang phải dẫn dắt cho những cá nhân ngoan cố này. Một giáo viên nói với tôi rằng các lãnh đạo sẽ nói với giáo viên, “Nếu một học sinh cư xử không đúng mực trong lớp học thì giáo viên phải chịu một phần trách nhiệm”. Cô ấy cho rằng, với thái độ như vậy, các nhà quản lý giáo dục sẽ “để những đứa trẻ ngỗ ngược tiếp tục ở lại trường và khủng bố những đứa khác”. Đình chỉ học những đứa trẻ có vấn đề nghiêm trọng về hành vi khiến chúng không được giám sát khi ở nhà hoặc ngoài đường phố do cha mẹ chúng thường bận bịu đi làm. Nếu được xếp vào những nơi được coi là trường học thay thế với những thành viên giống như chúng thì chúng sẽ tiếp tục gây rối. Thông thường, những trường học như vậy là “bãi rác” cho học sinh. Tuy nhiên việc cho phép những học sinh này trở lại lớp học bình thường và cản trở những học sinh ham học lại là một trò hề. Sẽ là một sự bất bình khủng khiếp khi để những đứa trẻ chăm chỉ và ngoan ngoãn đến trường mỗi ngày phải lo sợ bị bắt nạt, bị giật tiền ăn trưa hoặc bị đe dọa
theo nhiều cách khác. Đối với một số ít học sinh gây rắc rối, việc giới thiệu chúng đến các trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần có thể mang lại tác dụng. Nhiều khả năng những đứa trẻ này sẽ từ chối bất cứ sự hỗ trợ nào từ các nhà cố vấn. Theo quan điểm của chúng, vấn đề không nằm ở bản thân chúng mà nằm ở những người khác. Đầu năm 2014, Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ Eric Holder tuyên bố rằng các chính sách không khoan nhượng khiến học sinh bị đình chỉ học “làm gián đoạn quá trình học tập” và góp phần đưa chúng từ “trường học đến nhà tù”.[56] Ông Holder cho rằng những biện pháp như vậy có tác động xấu đến giới trẻ, “làm tăng khả năng gặp phải các vấn đề pháp luật dành cho lứa tuổi vị thành niên và các hệ thống tư pháp hình sự trong tương lai”. Có phải trật tự nguyên nhân kết quả đang bị đảo ngược? Không phải các chính sách làm gián đoạn quá trình học tập mà chính những học sinh gây ra rắc rối đòi hỏi cần phải có các chính sách này. Cũng không phải các chính sách này khiến những người trẻ tuổi bị bắt giữ. Có lẽ đã có sai sót khi áp dụng các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc đối với hành vi sai trái nhỏ bé. Tuy nhiên, khi hành vi phạm tội xảy ra trong trường học, các nhà quản lý cần phải có các động thái về mặt pháp lý. Nếu những học sinh gây nguy hiểm cho người khác được giáo dục trong các trường công lập thì cần phải đầu tư phát triển các chương trình với cơ chế giám sát chặt chẽ trong một môi trường mang tính quản lý chặt chẽ, trong đó một giáo viên và một phụ tá chịu trách nhiệm quản lý một số lượng nhỏ học sinh có thể trở thành tội phạm trong tương lai. Nếu những học sinh này cải thiện hành vi, chúng có thể được phép quay trở lại lớp học chính thống. Các biện pháp như vậy thường rất tốn kém. Tuy nhiên việc chi tiêu bất kỳ khoản tiền nào cần thiết cũng sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho quá trình giáo dục con em chúng ta và có thể thay đổi những đứa trẻ có vẻ khó sửa khác.
Học tập giảm sút Một số học sinh có thành tích học tập rất tốt trong thời gian học tiểu học. Chúng không cảm thấy học tập là một việc khó khăn và gần như chẳng cần nỗ lực cũng có thể đạt điểm cao. Do có ít bài tập về nhà, chúng có thể hoàn thành ở trường hoặc tranh thủ làm khi ở nhà. Chúng hoàn thành công việc học tập đủ tốt để hiếm khi bị nghi ngờ liệu có cần động viên chúng hay không. Chúng thi đỗ lên lớp một cách dễ dàng. Một số đứa trẻ trong nhóm này có kết quả học tập rất tốt nên giáo viên thường buông lỏng những hành vi sai trái của chúng. Một giáo viên lớp 4 đã viết trên phiếu báo điểm của một cậu bé rằng: “Nếu có thể điều chỉnh hành vi phù hợp với khả năng học tập thì cậu bé sẽ là học sinh xuất sắc nhất trường”. Clark, một cậu bé 9 tuổi, là một trong những đứa trẻ dường như sở hữu mọi đặc điểm tốt đẹp. Cậu ta đẹp trai, là một vận động viên xuất sắc, tôn trọng giáo viên và dễ dàng tiếp thu những gì được dạy. Bài kiểm tra trí tuệ cho thấy cậu ta nằm trong top trên những người có chỉ số thông minh vượt trội. Việc Clark có tính cạnh tranh cao trong mọi hoạt động là một điểm cộng quyết định nhưng cũng gây ra hạn chế. Một giáo viên chỉ ra “bản tính cạnh tranh” giúp cậu ta xuất sắc trong các môn học ở trường, nhưng cũng lưu ý “tính cách này đôi khi phản tác dụng về mặt xã hội. Cậu ta quá hung hăng với bạn bè của mình”. Clark bắt nạt các học sinh khác và hay gây sự khi chơi các môn thể thao đồng đội đến mức nhiều lần bị khiển trách vì những hành vi thô bạo quá mức. Trong số một loạt các điểm A và “Xuất sắc” có ba điểm U (Không đạt yêu cầu) trong các danh mục “thể hiện sự tôn trọng đối với bạn bè, tài sản và người có thẩm quyền”, “hòa đồng với người khác” và “khả năng cộng tác làm việc”. Giáo viên xếp chỗ Clark cách xa những học sinh còn lại để cậu không làm phân tâm những học sinh khác hoặc ngược lại. Trong một ghi chú trên phiếu báo điểm của cậu bé, cô giáo nhận xét, “Chính hành vi xã hội của cậu bé vẫn là một mối lo ngại và khiến cậu không phát huy hết tiềm năng khi ở trong vị trí là một học sinh và nhà lãnh đạo”. Clark vẫn còn rất trẻ, và tất nhiên hy vọng là cậu bé sẽ phát triển ra khỏi giai đoạn chỉ mang tính thời điểm này. Nhiều đứa trẻ đã trải qua những thời điểm thực hiện các hành vi gây rối. Tuy nhiên, chúng đã cải
thiện nhờ quá trình uốn nắn và kỉ luật từ người khác cũng như học hỏi từ bạn bè. Đây không phải là những gì đang xảy ra với trường hợp của Clark khi cậu bé ngày càng trở nên tồi tệ hơn theo thời gian. Việc Clark có thể vượt qua những vấn đề này trong một khoảng thời gian cũng không có gì đáng nghi ngờ vì cậu ta cực kỳ thông minh, giỏi thể thao, tài năng và rất cuốn hút. Nhưng tất cả những điều đó sẽ chỉ đưa cậu ta ngày càng đi quá xa. Cho dù cậu ta bỏ dở con đường đại học hay vạch ra một con đường hoàn hảo thông qua đại học hay bậc cao hơn cũng vẫn còn là vấn đề cần phải xem xét. Nhưng rõ ràng, rắc rối nghiêm trọng vẫn nằm ở phía trước nếu Clark không thay đổi những tính cách vốn đã khiến cậu ta xung đột với giáo viên và các học sinh khác (cũng như cha mẹ và các anh chị em). Khi những đứa trẻ như Clark bước vào cấp hai, chúng thường tiếp tục đạt được kết quả học tập tốt ít nhất là trong một khoảng thời gian nào đó. Trải nghiệm ở trường trung học cơ sở là điều mới mẻ và học sinh được tự do đi lại từ lớp này sang lớp khác mà không bị giáo viên giám sát suốt cả ngày. Chúng có thể đạt được kết quả xuất sắc trong giai đoạn phân loại đầu tiên vì nhiều bài tập có các tài liệu ôn luyện và không quá khó. Nhưng khi tính mới mẻ của trường trung học cơ sở mất dần và nhịp độ cũng như độ khó của bài tập tăng lên, một số học sinh không thể tự thích nghi và chất lượng học tập bị giảm sút. Một học sinh nói với tôi rằng, sau khi nhận được điểm xuất sắc trong kỳ thi đầu tiên, cậu ta trở nên “thất vọng” và “vỡ mộng” trong khoảng thời gian sau đó. Điểm của cậu ta giảm từ A xuống C. “Cháu không muốn nhận điểm C. Cháu không phải là học sinh ở mức C”, cậu bé tuyên bố, sau đó thừa nhận, “Cháu đã mất đi động lực và khao khát của bản thân”. Thực tế là cậu bé nhận thấy việc học ngày càng trở nên khó khăn hơn và không thể tiếp tục đạt điểm cao như trước đây với mức nỗ lực tối thiểu. Những thói quen được phát triển ở trường tiểu học không còn mang lại kết quả như bản thân mong đợi. Và cậu ta không thấy được bất kỳ lý do gì để bản thân phải học tập chăm chỉ hơn. Tôi từng tư vấn cho James, một học sinh lớp 10, và cậu bé nói rằng mình sẽ có một bài kiểm tra lịch sử vào ngày hôm sau. Tôi thấy cậu bé đi từ trường đến văn phòng tôi mà không mang theo sách vở nên đã hỏi cậu ấy về điều đó. Cậu ta trả lời rằng cậu ta biết mình sẽ vượt qua bài kiểm tra và không có lý do gì để xem lướt qua cuốn sách giáo khoa. Khi gặp James vào tuần sau đó, tôi hỏi cậu bé về kết quả bài kiểm tra này. Khi ấy, chủ đề này đã không còn trong tâm trí và cậu bé hỏi lại tôi đang muốn nói về điều
gì. James thừa nhận không vượt qua bài kiểm tra, nhưng sau đó lại đổ lỗi cho giáo viên và bài kiểm tra. Thất bại không dạy được cho cậu bé bài học gì. Cậu ta tiếp tục nói về những mục tiêu cao cả của bản thân. Tuy nhiên những thứ đó chỉ thực sự là ảo tưởng chứ không phải mục tiêu. Cậu ta khẳng định bản thân có thể viết “một cuốn sách đáng kinh ngạc”, sẽ trở thành một cuốn sách bán chạy bậc nhất và sau đó nhận được bằng danh dự. Đây là tư duy của một tên tội phạm. Chỉ nghĩ ra điều gì đó và muốn nó trở thành hiện thực. Khi James nói rằng cậu ta sẽ nhận được điểm A mà không cần học, đây không phải là một cuộc nói chuyện đơn thuần. Cậu ta hoàn toàn quả quyết điều đó sẽ xảy ra. Cậu ta không phải lôi sách vở về nhà và dành hàng giờ ôn tập để chuẩn bị cho bài kiểm tra. Khi nhận lại bài kiểm tra từ cô giáo với số điểm không đạt, cậu ta tái xanh mặt. Điều đó đáng lẽ không thể xảy ra. Giáo viên là một kẻ ngốc. Bài kiểm tra không phản ánh những gì cậu ta đã học được,… Khi mọi thứ không diễn ra như mong đợi thì đó luôn là lỗi của người khác bất kể những kỳ vọng có phi thực tế đến mức nào đi nữa. Đổ lỗi cho người khác là thói quen không có hồi kết: trường học vốn có tiếng không tốt, giáo viên không biết cách dạy, giáo viên không thích anh ta,… Nếu không đổ lỗi cho người khác, những học sinh này cho rằng họ bị khiếm khuyết, chẳng hạn như khiếm khuyết trong học tập. Perry nói với tôi rằng bài tập ở trường rất khó vì cậu ta mắc “chứng khó đọc”. Không lâu trước khi nói ra điều này, cậu ta cho biết từng bị cuốn hút bởi một cuốn sách dài về kẻ thao túng và giết người Charles Manson. Khi tôi hỏi liệu “chứng rối loạn” của cậu ta có cản trở việc đọc cuốn sách đặc biệt đó hay không thì cậu ta trả lời, “Cháu đọc rất chăm chú nếu đó là chủ đề mình thích. Nếu nó nhàm chán, cháu không biết làm thế nào để tập trung cả”. Những đứa trẻ như Perry có thể tỏ ra mình là người trách nhiệm bằng cách đưa ra những tuyên bố như: “Cháu không thể tiếp thu nhanh như những người khác. Cháu gặp khó khăn khi làm bài kiểm tra. Cháu rất dễ thất vọng”. Thay vì mắc phải chứng khuyết tật nào đó, sự thật khiến những học sinh như vậy không thể học tập tiến bộ bởi vì chúng không hề tập trung. Chúng gặp khó khăn khi làm bài kiểm tra, nhưng đó là do chúng không chuẩn bị bài học. Chúng cũng dễ nản lòng vì khi không thể nhanh chóng nắm bắt được một chủ đề nào đó, chúng không muốn kiên trì cho đến khi đạt được kết quả tốt.
Những học sinh buông thả chỉ hoàn thành ở mức đủ để vượt qua. Chúng “quên” làm bài tập về nhà hoặc lơ là không nộp bài tập. Các bài tập và bài luận bị vứt xó hoặc làm cẩu thả vào phút chót. Một cậu bé không có điều gì tích cực để nói về công việc học tập ở trường học nhưng lại tuyên bố thực sự thích nó. Khi tôi hỏi tại sao, cậu ta trả lời, “Cháu có thể thoải mái thư giãn đầu óc trò chuyện với bạn bè khi ở trường bởi vì cháu có thể gặp bạn bè ở đó”. Đối với một chàng trai như vậy, các môn học gần như không được quan tâm. Một thiếu niên nói khá nghiêm túc, “Tại sao phải học lịch sử? Tất cả đều đã là quá khứ”. Đây không phải là một lời chỉ trích dành cho trường học. Nếu chương trình đào tạo bao gồm một khóa học về phóng hỏa, phá két và bẻ khóa, những đứa trẻ này có thể cảm thấy bị thách thức và trở nên hứng thú. Một số học sinh buông thả học không gặp vấn đề gì khi đào sâu vào một chủ đề chúng quan tâm. Điều này phù hợp với thái độ của chúng đối với rất nhiều thứ trong cuộc sống: “Nếu tôi thích thì tôi làm, nếu không thích thì quên đi”. Kết quả học tập của chúng hết sức yếu kém, chẳng hạn như ngoại ngữ, đòi hỏi sự chăm chỉ luyện tập, học thuộc và ghi nhớ. Chúng đạt điểm cao trong các môn học chúng yêu thích hoặc cảm thấy đó là một việc làm dễ dàng. Nếu không, chúng hầu như không qua môn. Có thể hiểu được sự tức giận của các bậc cha mẹ khi đứa con buông thả của họ mang về nhà một tờ phiếu báo điểm với điểm số thấp, đặc biệt là sau khi họ đã quen với mức điểm xuất sắc ở trường tiểu học của con cái. Làm thế nào mà học sinh danh dự của họ lại có thể trượt các bài kiểm tra và bị giáo viên gửi giấy báo về nhà vì không tự giác nộp bài tập? Van là một mẫu học sinh buông thả điển hình. Trong thời gian học lớp 5, với trí tuệ ở mức trung bình, Van luôn bị điểm D và F. Cha mẹ đã cho cậu bé học lại lớp năm, và cậu bé giải thích đó là “vì con đã không sử dụng hết tiềm năng của bản thân”. Cậu ta sẽ phớt lờ các yêu cầu làm bài tập về nhà, lãng quên bài tập cho đến phút cuối cùng và đôi khi không hoàn thành công việc học tập. Năm lớp 6, cậu ta bị đình chỉ học một thời gian ngắn vì đánh nhau và biện minh là hành động tự vệ. Ở trường cấp hai, cậu ta nhiều lần bị đưa đến văn phòng hiệu trưởng vì cãi lại giáo viên. Cậu ta từng bị đuổi khỏi xe buýt của trường vì nói tục và có hành vi gây rối. Và cậu ta bị đình chỉ học tập một thời gian ngắn vì tội hút thuốc trong nhà vệ sinh. Năm lớp 10, Van nghe được tin đồn bạn gái sẽ chia tay cậu ta vì đã thích một chàng trai khác. “Tin đồn đó khiến tôi phát điên”, cậu ta nhớ lại và đáp trả
bằng lời đe dọa giết chết tình địch vào thời điểm đó. Van nói rằng anh ta không bao giờ thực sự có ý định thực hiện lời đe dọa của mình ngoại trừ việc “đang nói cho hả giận”. Tuy nhiên, cậu ta đã bị đình chỉ học một tuần. Van chia sẻ rằng hoàn thành những bài tập về nhà là việc làm không “ngầu”. Nếu cảm thấy công việc được giao thú vị thì cậu ta mới thực hiện việc đó. Cậu ta chủ động đọc cuốn tiểu thuyết kinh điển Fahrenheit 451 (tên tiếng Việt: 451 độ F) nhưng từ chối đọc những truyện ngắn “chán ngắt, ngớ ngẩn” được yêu cầu trong bộ môn ngôn ngữ Anh. “Những việc đó phải thực hiện theo yêu cầu của người khác”, cậu ta nói với tôi, và nói thêm, “Cháu không phải là một người mạnh mẽ khi phải đối mặt với những việc bản thân không muốn làm”. Cậu ta nghĩ rằng thật vô ích khi “giải những bài toán chẳng bao giờ dùng đến”. Ngược lại, cậu ta chia sẻ, “Hầu hết mọi thứ liên quan đến khoa học đều thú vị”. Cậu ta đắm chìm trong một số dấu mốc lịch sử vì thích “tìm hiểu về các cuộc chiến tranh”. Tuy nhiên, cậu ta bị trượt môn tiếng Tây Ban Nha vì không chịu nỗ lực học tập một ngoại ngữ bắt buộc. Những kỳ vọng của Van vượt xa kết quả thực tế của cậu ta. Ngay sau khi nhận được phiếu báo điểm với điểm C, Van nói với tôi: “Dù sao thì, tất cả những gì cháu quan tâm cũng đã qua. Để đạt điểm A, cháu phải về nhà và học tập chăm chỉ, cháu không muốn làm điều đó”. Với kết quả học tập yếu kém, cậu ta vẫn tưởng tượng mình đang đi bộ trong khuôn viên của một trường đại học hàng đầu cả nước. Với mong muốn tìm ra lời giải cho vấn đề kém tập trung của con trai, cha mẹ của Van đã tìm đến bác sĩ tâm lý để được tư vấn. Khi còn học cấp 3, Van bắt đầu dùng thuốc điều trị chứng “rối loạn tăng động giảm chú ý” (ADHD). Khi nhận thấy việc sử dụng thuốc không giúp cải thiện điểm số hay bất kỳ biểu hiện nào khác trong hành vi của cậu ta, bác sĩ đã ngừng thuốc. Cậu thiếu niên chỉ kịp tốt nghiệp trung học, sau đó kiếm một công việc bán lẻ. Cuối cùng, Van phải vào tù vì bị kết tội trộm cắp tài sản. Đứa trẻ phạm pháp dường như sẽ có một khoảng thời gian ngắn chú ý tới hầu hết các bài tập trên lớp. Và nếu anh ta được chẩn đoán mắc chứng rối loạn thiếu tập trung thì căn bệnh đó có thể lý giải và bào chữa cho bất cứ điều gì, kể cả hành vi phạm tội. Andy, 16 tuổi, được giới thiệu đến gặp tôi để được tư vấn sau khi cậu ta làm vỡ hộp sọ của một người bạn cùng lớp trong một cuộc ẩu đả ở phòng thay đồ. Mẹ của Andy chuẩn bị sẵn một đống giấy tờ, bao gồm báo cáo từ các đánh giá giáo dục và tâm lý. Các báo cáo có đầy đủ các yếu tố tham chiếu liên quan đến chứng rối loạn ADHD
được chẩn đoán gần đây của con trai cô. Thực tế, mọi vấn đề thiếu niên này gặp phải đều là do ADHD, bao gồm điểm thấp, cảm xúc dễ thay đổi, kỹ năng giải quyết vấn đề kém, bốc đồng, né tránh thử thách và sống tiêu cực. Tôi không biết làm thế nào ADHD lại có thể biện minh cho hành vi đe dọa tấn công một cậu bé của Andy, rồi lại tiếp tục đe dọa chỉ trong hơn một giờ sau đó. ADHD dường như cũng không liên quan đến các hành vi phạm tội mà Andy tiết lộ, bao gồm đánh nhau, hàng chục vụ trộm cắp, phá hoại tài sản, trộm cắp tài sản của cha mẹ, trốn học, gọi điện nặc danh, lái xe không bằng lái, uống bia khi chưa đủ tuổi và hút cần sa. Bào chữa cho hành vi của cậu ta bằng chẩn đoán với một hội chứng nào đó không hề giúp cải thiện hạnh kiểm của cậu bé. Các nhà giáo dục và chuyên gia sức khỏe tâm thần thường quan tâm đến quá trình chẩn đoán, , và công việc này được thực hiện trong suốt quá trình nó được đưa ra để giải thích cho mọi khía cạnh trong hoạt động của một cá nhân nào đó. (Theo JAMA Pediatrics, tỷ lệ chẩn đoán ADHD đã tăng 24% kể từ năm 2001.)[57] Với Andy và những người khác giống như cậu ta, chẩn đoán có thể là một sai lầm. Andy có thể tập trung chú ý khi cậu ta quan tâm đến những gì giáo viên đang trình bày, một việc mà những thanh niên mắc chứng ADHD gặp phải những vấn đề khó khăn rất lớn mới có thể thực hiện. Mẹ cậu ta đã thấy những thời điểm cậu ta dành rất nhiều thời gian vào trò chơi điện tử, và Andy cũng có thể ngồi trong xe hàng giờ liền mà không hề bồn chồn trong những chuyến đi xa đến nơi cậu ta thích. Người cha của một thiếu niên khác kể rằng con trai anh ta, cũng được chẩn đoán mắc chứng ADHD, đã dành trọn hai ngày để lắp ráp một chiếc máy bay mô hình phức tạp, đòi hỏi cậu ta phải tỉ mỉ làm theo các hướng dẫn chi tiết và rắc rối. Tuy nhiên, ở trường, nơi mà cậu ta khinh thường, cậu ta dường như không thể tập trung. Rõ ràng, vấn đề của những đứa trẻ này không xuất phát từ tình trạng bệnh lý mà do không muốn tập trung vào bất cứ điều gì bản thân không thích. Một số thanh thiếu niên như Andy tìm thấy mối quan tâm trong các lớp dạy nghề và sửa chữa sự cố điện, sửa đường ống nước hoặc sửa chữa ô tô. Ngay cả trong những lớp học như vậy, nhiều đứa trẻ phạm pháp cũng gặp nhiều khó khăn và thử thách khi chúng cảm thấy buồn chán, không hứng thú và bị yêu cầu làm một việc gì đó bản thân không mong muốn. Ở
Ở tuổi 16, Warren trải qua một cuộc “đánh giá tâm lý” toàn diện. Cha mẹ cậu ta lo lắng về vấn đề khó tập trung, vô tổ chức và luôn trì hoãn của con trai họ. Warren được đánh giá có chỉ số thông minh ở mức khá cao. Báo cáo đánh giá bao gồm các nhận xét rằng cậu ta dường như không quan tâm đến trường học, mắc những lỗi cẩu thả và né tránh các nhiệm vụ đòi hỏi nỗ lực tinh thần bền bỉ. Nhà tâm lý học viết rằng Warren có vấn đề trong việc chú ý khi cậu ta cảm thấy chủ đề không thú vị và “bị phân tâm bởi thực tế là cậu ta không muốn thực hiện công việc”. Hơn nữa, anh ta quan sát thấy Warren không cảm thấy bản thân đang gặp bất kỳ vấn đề nào với trường học hay bất kỳ khía cạnh nào trong hoạt động của mình, ngoại trừ thực tế rằng mối quan hệ của cậu ta với cha mẹ đang căng thẳng. Bỏ qua tất cả các yếu tố về mặt động lực và quan điểm, bác sĩ tâm lý chẩn đoán Warren mắc ADHD và đưa ra khuyến nghị về biện pháp và nơi điều trị. Nhà tâm lý học thậm chí còn khuyên rằng cậu ta cần được cung ứng hoạt động ghi chú nhằm hỗ trợ khi ôn thi, và nên được cung cấp bản sao bài giảng của giáo viên hoặc ghi chú của bạn cùng lớp. ADHD không hề ngăn cản việc đạt được thành tích. Nhiều đứa trẻ gặp phải khó khăn trong việc chú ý muốn đạt được thành tích cao trong học tập. Những đứa trẻ này không có dấu hiệu hành vi chống đối xã hội. Chúng làm bất cứ điều gì cần thiết để cải thiện thành tích học tập, kể cả học thêm ngoài giờ với một gia sư. Hoặc chúng cố gắng bù đắp bằng cách đạt được thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực khác ngoài hoạt động học tập, chẳng hạn như thể thao, nghệ thuật hoặc kỹ năng cơ khí. Một số trường hợp như vậy là nhờ sử dụng thuốc điều trị. Cho đến nay, không có bằng chứng nào cho thấy thuốc được kê đơn cho chứng rối loạn tăng động giảm chú ý làm thay đổi tư duy tội phạm. Một số độc giả có thể tự hỏi liệu việc chẩn đoán mắc ADHD có khiến một người đối mặt với nhiều nguy cơ thực hiện các hành vi phạm tội hơn hay không. Một số nghiên cứu cho thấy điều này cũng có thể xảy ra. Tuy nhiên, có hai vấn đề với những nghiên cứu như vậy. Đầu tiên, dường như không Có sự thống nhất về cách đánh giá ADHD. Thứ hai, để thực hiện một đánh giá thực sự chính xác, một chuyên gia sẽ phải quan sát đối tượng tham gia trong nhiều nhiệm vụ với các bối cảnh khác nhau, và điều này hiếm khi được thực hiện.
Ngay cả khi những học sinh không có động lực, thiếu chú ý, tiêu cực hoặc có hành vi thù địch, giáo viên vẫn luôn có xu hướng thông cảm và muốn giúp đỡ chúng. Họ vẫn tin rằng những học sinh như vậy bị rối loạn cảm xúc. Chiến lược của họ là phát triển bất kỳ điểm mạnh nào của học sinh và nuôi dưỡng hình ảnh bản thân tích cực. Họ khuyến khích kẻ phạm tội thực hiện những gì anh ta có thể làm tốt và hạ thấp những điểm yếu kém và hành vi ngỗ ngược của anh ta. Bất cứ việc tốt nào đứa trẻ ấy thực hiện đều được nêu lên như một tấm gương cho những đứa trẻ khác. Khi được khuyến khích, giáo viên có thể nới lỏng các hình thức kỷ luật. Cuối cùng, học sinh này có được người giáo viên mà bản thân mong muốn. Cậu ta hiểu rằng giáo viên này sẽ không gây áp lực vì cô ấy muốn giữ bầu không khí hòa bình. Nếu giáo viên có những kỳ vọng cao hơn, mối quan hệ gắn bó sẽ trở nên rạn nứt và học sinh sẽ hành động như thể một đồng minh đã phản bội mình. Cậu ta thực hiện hành vi có lỗi với giáo viên vì bất cứ điều gì đó xảy ra và một lần nữa thể hiện mình là nạn nhân của sự bất công. Các giáo viên sẽ gặp khó khăn rất lớn khi một học sinh có năng khiếu bị trượt môn. Họ sẽ tăng cường chú ý và hỗ trợ như: kéo dài thời hạn bài tập về nhà cũng như các dự án, giúp đỡ trực tiếp, giới thiệu gia sư và cố vấn cho những học sinh này. Các nhà giáo dục vẫn tận tâm giúp đỡ những đứa trẻ để chúng đạt được thành công. Một số học sinh có thể đạt kết quả tốt nhờ những biện pháp như vậy, trong khi một số đứa trẻ phạm pháp cố gắng lợi dụng chúng. Brad, 17 tuổi, là một chàng trai cực kỳ có năng lực, tuy nhiên nếu không nhận thấy một chủ đề dễ dàng hoặc đặc biệt hấp dẫn thì cậu ta sẽ từ chối thực hiện công việc đó. Một nhà đánh giá giáo dục nhận xét, “Lý do thực sự khiến cậu ta bị phân tâm là bởi cậu ta không muốn làm việc. Cậu ta tránh những công việc đòi hỏi nỗ lực tinh thần bền bỉ”. Nhà đánh giá này đề nghị sử dụng liệu pháp tâm lý cá nhân. Cha mẹ của Brad đưa cậu đến gặp một nhà trị liệu, nhưng con trai của họ cung cấp rất ít thông tin, sau đó từ chối tham gia thêm bất kỳ buổi gặp gỡ nào nữa. Cậu ta cũng từ chối dùng thuốc điều trị. Vị chuyên viên đánh giá đề nghị Brad dành thêm thời gian để thực hiện các bài kiểm tra, trong đó cậu ta được kiểm tra trong một nhóm nhỏ hoặc phòng riêng để giảm bớt sự phân tâm và có “thời gian nghỉ ngơi” sau mỗi ba mươi phút kiểm tra. Và cậu ta được phép làm lại một công việc để sửa chữa những lỗi bất cẩn trước đó. Nhà trường đã thực hiện
những điều kiện hỗ trợ này, tuy nhiên vẫn không thể cải thiện động lực hay kết quả học tập của Brad. Brad tận dụng sự chú ý đặc biệt và tiếp tục tin rằng các giáo viên vẫn thông cảm và nhượng bộ nhiều hơn. Khi cân nhắc nộp đơn vào trường đại học, Brad hoàn toàn không thực hiện các bài tập hằng ngày. Giữa năm cuối cấp, cậu ta thi trượt môn khoa học. Người giáo viên thất vọng nhưng vẫn rất tận tâm của cậu ta gửi thư đến cha mẹ cậu ta rằng, [Brad] biết cậu ta có thể hoàn thành công việc nhưng cậu ta thực sự không muốn nỗ lực. Tôi và cậu bé đã cùng nhau thảo luận về thực tế rằng một người không thể chỉ mãi mong ước những gì bản thân mong muốn. Anh ta phải làm việc để đạt được được đó. Mẹ cậu ta cho biết các giáo viên đã “bắt đầu khen ngợi cậu ta với hy vọng thúc đẩy động lực của thằng bé đi lên”. Có hai vấn đề đối với cách tiếp cận này. Đầu tiên, Brad đã làm một việc nhỏ đáng được khen ngợi. Thứ hai, Brad thiếu động lực bên trong. Một viễn cảnh mờ mịt cho thấy, một khi bước vào đại học (nếu thi đỗ), cậu ta sẽ tự biến thành một quả cầu lửa trong hoạt động học tập. Chris đăng ký vào một trường trung học dành cho học sinh có năng khiếu về toán và khoa học. Cậu ta rất xuất sắc, là kiểu học sinh có khả năng sẽ được các trường đại học theo đuổi khi nộp đơn. Tuy nhiên, thật khó có thể giải thích, kết quả học tập của Chris không như lời hứa của cậu ta. Vào giữa năm học thứ hai, cậu ta trượt gần như tất cả các môn học, một điều hầu như chưa từng có đối với một học sinh tại trường trung học đặc biệt này. Các giáo viên cho rằng Chris có thể bị phân tâm, không hoàn thành bài tập về nhà và thường xuyên nghỉ học. Các giáo viên đều cho rằng nguyên nhân của sự mất tập trung đó nằm ở sự chăm chú quá mức của cậu ta vào chiếc máy tính xách tay. Vì trường học có rất nhiều máy tính, nên việc mang máy tính riêng đến trường là điều không cần thiết. Một khuyến nghị được đưa ra là Chris nên để máy tính xách tay ở nhà, nhưng cậu ta đã từ chối thực hiện điều đó. Hóa ra Chris tập trung vào nội dung khiêu dâm đến mức quên đi bất kỳ điều thực tế nào khác. Kể từ năm 11 tuổi, khi lần đầu tiên khám phá ra nội dung khiêu dâm trên máy tính, cậu ta dường như bị ám ảnh bởi thứ đó. Gần như không thể kéo cậu ta ra khỏi chiếc máy tính, như thể một sợi dây rốn đã được gắn vào nó vậy. Chris đã lưu hàng nghìn hình ảnh và video khiêu dâm bạo lực, với những thứ tàn bạo nhất có thể tưởng tượng được, bao gồm cả hiếp dâm đường hậu môn và cắt bỏ bộ phận sinh dục. Cậu ta
cũng đăng tải những bức ảnh của mình trong tư thế quan hệ tình dục, buôn bán nội dung khiêu dâm với những thanh thiếu niên khác và với những người lạ trên khắp thế giới. Ngoài ra, cậu ta còn xâm nhập vào tài khoản Facebook của các học sinh khác. Cha mẹ cậu đã phải chật vật để hạn chế thời gian sử dụng máy tính của con mình. Cậu ta nói dối rằng cần truy cập máy tính để hoàn thành bài tập về nhà. Chris bắt đầu thức đến hai ba giờ sáng để đắm mình trong những bộ phim khiêu dâm. Đôi khi, cậu ta mệt mỏi đến mức phải thuyết phục cha mẹ rằng mình không đủ sức khỏe để đi học. Cậu ta từ chối mọi nỗ lực hạn chế sử dụng máy tính và phàn nàn về việc xâm phạm quyền riêng tư. Một lần, khi mẹ cậu ta lấy được máy tính và cất nó trong tủ khóa, cậu ta đã nổi cơn thịnh nộ và đập phá tài sản trong nhà. Các giáo viên của nhà trường làm mọi cách để giúp đỡ cậu bé này. Họ bàn bạc với cha mẹ cậu ta, những người đã dẫn cậu ta đến gặp bác sĩ tâm lý để điều trị, một quá trình mà cậu bé này kiên quyết phản đối. Mặc dù điểm trung bình học tập giảm xuống dưới mức có thể để được chấp nhận lại trường, tuy nhiên Chris bị quản chế và vẫn được phép ở lại thay vì bị chuyển đến trường công lập lân cận. Các giáo viên đã cố gắng hết sức để khuyến khích cậu ta, tiếp tục điều chỉnh và kéo dài thời hạn. Chris kiên quyết khẳng định mình không gặp vấn đề gì và từ chối những lời đề nghị được đưa ra. Rõ ràng, có nhiều học sinh bỏ học vì những lý do không liên quan đến hành vi phạm tội. Nhiều học sinh không phải là tội phạm nhưng vẫn không có động lực để học tập. Chúng né tránh bài tập về nhà, ít quan tâm đến điểm số và đặc biệt không quan tâm đến các môn học truyền thống ở trường. Chúng có thể đăng ký vào các chương trình dạy nghề và phát triển các kỹ năng riêng biệt. Nhìn bề ngoài, chúng có thể giống với những tên tội phạm mà tôi đang mô tả, nhưng tính cách thì hoàn toàn khác. Chúng thường thừa nhận sai lầm và học hỏi từ những sai lầm đó. Chúng hiểu rằng đôi khi cần phải làm những việc chúng không muốn làm. Chúng chứng tỏ bản thân đáng tin cậy bằng cách nói về những người mình đang ở cùng và những gì mình đang làm. “Công việc” của một đứa trẻ là đi học. Ở bất kỳ công việc nào, ai cũng sẽ đều phải làm những việc họ không hề mong muốn. Một tên tội phạm khi còn nhỏ đã vượt rào, đổ lỗi cho người khác về những vấn đề của bản thân, nói dối về những gì mình đã làm hoặc không làm được và đòi hỏi người khác đáp ứng yêu cầu của mình hơn là mình phải đáp ứng yêu cầu của
người khác. Những kỳ vọng của cậu ta về người khác là phi thực tế và cậu ta trở nên tức giận khi những kỳ vọng đó không được đáp ứng. Bỏ học trở thành một lối sống, không chỉ với trường học mà còn với các môn thể thao, trường học tôn giáo, các câu lạc bộ và hoạt động có tổ chức, các bài học âm nhạc - bất cứ điều gì đòi hỏi nỗ lực bền bỉ và làm việc theo ý người khác. Cảm giác phấn khích mà cậu ta tìm kiếm không thể tìm thấy trong một thế giới sống có trách nhiệm. Đứa trẻ chối bỏ trường học chứ không phải trường học từ chối cậu ta.
Học sinh ngoan Những sinh viên đại học được trải qua khoảng thời gian tự do chưa từng có khi lần đầu tiên sống xa cha mẹ. Đã nhiều thập kỷ kể từ khi các nhà quản trị đại học hoàn thành vai trò của một người phụ huynh. Sinh viên hầu như không bị giám sát, và môi trường độc lập mới mẻ của chúng mang lại cơ hội trải nghiệm về mặt học tập và xã hội. Đối với những thanh thiếu niên có bản tính phạm tội, trường đại học có thể biến thành một sân chơi. Trước khi bước vào những bức tường phủ đầy cây thường xuân, chúng đã có những sự tự do to lớn khi có thể tự làm mọi thứ và bất chấp những quy tắc đặt ra. Giờ đây, gần như tất cả những ngăn cấm không còn nữa. Để duy trì đặc quyền ở lại trường đại học trong khi người khác đang phải chi trả những hóa đơn đắt đỏ, tất cả những gì chúng cần làm là qua môn và tránh bị bắt vì vi phạm quy tắc nghiêm trọng hoặc thực hiện hành vi phạm tội. Về kết quả học tập, có ba hình mẫu cơ bản. Một số sinh viên bỏ học hoặc trượt môn trong năm đầu tiên. Một số khác chật vật vượt qua và tốt nghiệp. Và có những học viên khác đạt thành tích xuất sắc. Cha mẹ có thể gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin về tiến độ học tập của con cái. Theo Đạo luật Quyền riêng tư và Quyền Giáo dục Gia đình (FERPA) của Mỹ[58] , khi sinh viên tròn 18 tuổi, phụ huynh sẽ phải trao lại rất nhiều quyền cho những sinh viên này. Việc tiết lộ hồ sơ của sinh viên cho bên thứ ba cần có sự đồng ý của sinh viên đó. Nếu không có sự đồng ý đó, cha mẹ anh ta có thể hoàn toàn mờ mịt về tình trạng học tập của con cái. Tôi từng biết về một số trường hợp sinh viên bỏ học trong nhiều tháng liền, tuy nhiên cha mẹ chúng lại hoàn toàn tin tưởng và cho rằng đứa con của họ vẫn tập trung hết mình vào học tập. Một số kẻ phạm tội lựa chọn đích danh một ngôi trường đại học cụ thể vì nơi đó nổi tiếng với những sinh viên dính dáng tới tệ nạn. Một thiếu niên nói với tôi rằng cậu ta chỉ xem xét các trường đại học coi bộ môn bóng đá là vua, sinh viên được phép sở hữu ô tô trong năm học đầu tiên và các hội sinh viên đại học tổ chức chào đón sinh viên năm nhất. Các yêu cầu về khóa học cụ thể không được xem xét. Những kẻ phạm tội từng cư xử như thể bị dị ứng với công việc vẫn tiếp tục theo học các khóa học dễ dàng và đạt mức tối thiểu để nhận được bằng tốt nghiệp sau bốn năm học, dù vẫn
có một số sinh viên sẽ phải học trong thời gian lâu hơn. Chúng xem xét những yêu cầu được giao và cố gắng tìm ra lối tắt để đánh bại cả hệ thống. Chúng chỉ đọc những bản tóm tắt thay vì nguyên văn theo yêu cầu. Chúng “mượn” bài tập của các bạn cùng lớp. Tất cả mọi thủ đoạn nhằm đi đến kết thúc đều được áp dụng, gian lận và đạo văn là một hành vi phổ biến. Khi biết giảng viên có thể sử dụng các chương trình máy tính để phát hiện đạo văn, một số sinh viên chỉ cần thuê người khác và trả phí để họ viết khóa luận cho mình. Nếu tội phạm không tìm được ai đó trong trường để thực hiện việc này, anh ta có thể tìm ai đó trên internet. Mark theo học một trường cao đẳng nhỏ ở miền Trung Tây. Thay vì tham gia các lớp học và hoàn thành bài tập, cậu ta thiết lập một chu kỳ thức khuya để chơi trò chơi điện tử, sau đó ngủ trong các tiết học buổi sáng. Cậu ta khoe rằng 8 giờ sáng mình mới đi đến lớp, chỉ học nửa buổi mà vẫn được điểm A. Với cảm giác tò mò, Mark dành hàng giờ mỗi ngày để lướt mạng, đọc về tất cả các chủ đề mà cậu ta quan tâm trong khi bỏ dở việc học hành trên lớp. Với khuynh hướng gắn bó với chính bản thân, cậu ta dần cảm thấy chán nản khi dành nhiều thời gian ở trong phòng. Cuối cùng, cậu ta tìm thấy những người khác giống mình và vượt qua sự nhút nhát của bản thân bằng cách sử dụng rượu như “chất bôi trơn xã hội”. Cậu ta không ngừng tìm cách để qua môn bởi vì nếu bị đuổi học, cha mẹ có thể sẽ bắt cậu ta đi làm một công việc mà theo cậu ta là một công việc khó chịu. Người thanh niên này tỏ ra tự cao về mặt trí tuệ và coi hầu hết công việc không tương xứng với trình độ của cậu ta. Khi nói chuyện với tôi về trải nghiệm của bản thân, cậu ta tiết lộ rằng bản thân không coi trọng các sinh viên khác, cho rằng mình không có điểm chung nào với họ và thông minh hơn họ rất nhiều. Mark tự mình sáng tác ra một bài thơ và coi thường khóa học sáng tác. Cậu ta coi thơ của sinh viên khác là “ngây ngô”. Do thể hiện “thái độ khinh thường”, cậu ta đã xung đột với giáo viên hướng dẫn của mình. Khi đến lớp, cậu ta thường không chuẩn bị bài và nói dối về điều đó. Cậu ta nộp bài muộn và có thành tích yếu kém trong các bài kiểm tra vì không dành thời gian ôn tập và tìm hiểu. Thỉnh thoảng, Mark bỏ toàn bộ một bài kiểm tra và bị điểm liệt. Bất ngờ trở lại với thực tế, Mark đôi khi cố gắng một cách thất thường trong quá trình học tập. Khi điểm trung bình giảm, cậu ta sẽ nói với bố mẹ và chủ nhiệm khoa rằng cậu ta bị “choáng ngợp” bởi công việc học hành. Cậu ta chia sẻ, “Tôi sẽ không nói với họ rằng tôi không quan tâm”. Khi phàn nàn rằng đã học sai trường,
Mark tuyên bố: “Tôi không học thêm được bất cứ điều gì mà tôi chưa được học ở trường trung học”, điều này tất nhiên trái ngược với lời than thở của cậu ta với những người khác rằng bản thân đã bị choáng ngợp. Coi đại học là việc “chui qua một mê cung chuột”, Mark tiếp tục uống rượu, sử dụng ma túy, chơi điện tử, ngủ muộn và bỏ học. Với sự tự tin tột độ, Mark tuyên bố, “Tôi có khả năng qua môn dễ dàng”. Không biết làm thế nào để “thay đổi động lực của tôi”, cậu ta vẫn dự định học cao học và trở thành một giảng viên. Khi được hỏi về cách thức các nhà tuyển dụng tiềm năng đánh giá bảng điểm đại học của bản thân, cậu ta trả lời, “Tôi không nghĩ đến ý nghĩa của điểm đại học”. Đây lại là một minh họa khác về kiểu suy nghĩ của tội phạm được đề cập trước đó, cụ thể là suy nghĩ rằng điều đó thực sự xảy ra. Cậu ta thấy mình là một giáo viên đang đứng trước một lớp học cấp ba và tự tin điều này sẽ xảy ra. Không giống như Mark, người gần như không thể tốt nghiệp đại học, những sinh viên mang trong mình tính cách phạm tội khác luôn được thôi thúc học tập tốt và tham gia các lớp học đầy thử thách. Một kết quả học tập tốt là tấm vé để chúng có được những công việc danh giá và quyền lực. Tuy nhiên, dù chúng có thể đạt được các danh hiệu học tập xuất sắc thì hạnh kiểm của chúng trong các lĩnh vực khác của cuộc sống vẫn không thể là tấm gương về đạo đức. Chúng gặp khó khăn khi hòa đồng với bạn cùng phòng, xung đột với các sinh viên khác trong các câu lạc bộ tại trường học và bị cuốn vào các mâu thuẫn với giảng viên. Ned chỉ đạt mức thành tích trung bình trong các khóa học phức tạp về mặt học thuật. Cậu ta hình dung mình trở thành một ông trùm tài chính, một giám đốc điều hành công ty với tất cả những đặc quyền mà các CEO thường có. Cậu ta cho rằng điểm kém và nhận xét “không hoàn thành” mà cậu ta nhận được ở các môn là do sự trì hoãn của bản thân. Vào các ngày cuối tuần, cậu ta sẽ uống rất nhiều rượu. “Tôi có khả năng chịu đựng cao”, cậu ta đưa ra lời nhận xét và nói với tôi rằng cậu ta thường xuyên uống bốn hoặc năm chai bia trong vòng hai giờ. Vào những buổi tối cuối tuần, cậu ta sẽ uống tới mười chai bia. Một đêm nọ, một sự cố xảy ra khi Ned đang tham gia vào cuộc nhậu nhẹt theo thói quen. Một nhóm người tụ tập trong phòng ký túc xá của cậu ta. Ned đã xúc phạm một trong số những kẻ nằm để chân đi giày lên trên ghế. Cậu ta trách mắng người đó và sự việc leo thang nhanh chóng đến mức Ned nổi cơn thịnh nộ. “Tôi cáu kỉnh và bắt đầu la hét”, cậu ta nhớ lại. Cậu ta không chỉ văng những lời tục tĩu mà còn
đe dọa thanh niên kia, và người đó đã gọi điện báo nhân viên an ninh nhà trường. Ned bị buộc tội vì hành vi gây mất an ninh trật tự. Cậu ta thừa nhận với tôi rằng bản thân gặp “vấn đề về tính khí” trước khi xảy ra sự cố này. Trước đó, cậu ta đã bị truy tố với tội danh mà cậu ta gọi là “hành vi vi phạm liên quan đến vũ khí không có thật” và sau đó được bãi nại. Ned miễn cưỡng thừa nhận, “Tính khí của tôi ngày càng tồi tệ và tôi không coi đó là một vấn đề”. Một số sinh viên có tính cách tội phạm thực hiện các vụ trộm cắp, hiếp dâm và hành hung ngay trong khuôn viên nhà trường[59] . Hầu hết những sinh viên này không bị bắt. Một bài báo trên tờ Penn State Daily Pennsylvanian thảo luận về hoạt động báo cáo thiếu đầy đủ về các hành vi sai phạm trong khuôn viên nhà trường. Một trong số các lý do được đưa ra cho vấn đề này là do thiếu bằng chứng. Một chiếc máy tính xách tay có thể bị đánh cắp nhưng không có cách nào để lần ra dấu vết về cách thức thực hiện hành vi. Nạn nhân có thể kết luận rằng tố cáo những vấn đề như thế là việc làm vô nghĩa. Một số hành vi phạm tội không bị tố cáo do sinh viên lo sợ bản thân sẽ bị xấu hổ khi trở thành nạn nhân trong lúc đang sử dụng ma túy hoặc uống rượu khi chưa đủ tuổi. Hiếp dâm người quen là hành vi phạm tội ít được tố cáo nhất. Những tên tội phạm thường lợi dụng thực tế rằng nạn nhân sẽ không bao giờ dám tiết lộ về những gì đã xảy ra. Thành tích học tập tốt có thể trở thành tấm màn ngụy trang cho hành vi tội phạm. Một tội phạm ít có khả năng trở thành nghi phạm nếu anh ta nổi tiếng là người luôn đứng đầu toàn trường và là một sinh viên danh dự. Tôi từng phỏng vấn những người đã rất sửng sốt khi thấy một người nổi tiếng xuất sắc bị bắt vì một tội danh nghiêm trọng. Đối với một số tội phạm, thành tích học tập xuất sắc mở đường cho những thành công tương tự trong sự nghiệp, nơi chúng vươn lên những vị trí có trách nhiệm và quyền lực lớn hơn. Thành công của chúng tạo ra một bình phong được tôn trọng để giúp chúng đạt được nhiều mục đích khác nhau. Trong chương tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét những tội phạm có vẻ thành công theo một tiêu chuẩn nào đó nhưng không có thành công nào là thực sự hợp pháp.
5. CÔNG VIỆC VÀ TỘI PHẠM Tội phạm sử dụng những quy trình tư duy giống nhau để tiếp cận công việc và vấn đề giáo dục. Về cơ bản, họ không thích công việc vì họ không coi trọng những nhiệm vụ được giao. Một số tội phạm gần như không hề làm việc. Một số kẻ khác đảm nhận những công việc trong thời gian ngắt quãng để được kính trọng trong khi đó lại phạm tội công khai ngay trước mặt ông chủ. Những cá nhân này gắn bó với công việc cho đến khi cảm thấy nhàm chán, hoặc nghi ngờ chính quyền đang theo dõi họ. Những người khác duy trì công việc trong một thời gian dài và làm tốt công việc đó. Việc có được tiếng tăm tốt sẽ giúp chúng có được điều kiện dễ dàng hơn để tham gia vào các hoạt động phạm pháp mà không bị nghi ngờ. Đối với nhiều tội phạm, làm việc tức là trở thành nô lệ. Tuy nhiên, với rất ít kỹ năng cần thiết, họ lại từ chối đảm nhận những vị trí duy nhất mà họ đủ năng lực, thường liên quan đến công việc thường ngày không cần đến kỹ năng hay trình độ. Công việc như vậy không phù hợp với quan niệm được thổi phồng về địa vị mà họ cho là mình xứng đáng. Thay vì lau sàn, dọn rác, hoặc khuân vác hành lý, họ lựa chọn tiếp tục thất nghiệp. Một phạm nhân trẻ tuổi đã bỏ học và không có kỹ năng việc làm đang sống ở nhà và từ chối cân nhắc làm việc tại một nhà hàng bán đồ ăn nhanh. Anh ta nói với tôi, “Tôi thà chết còn hơn để bạn bè nhìn thấy tôi phục vụ khoai tây chiên”. Một phạm nhân khác phàn nàn ông chủ của anh ta không công bằng và không bao giờ cho anh ta cơ hội. Sau đó, anh ta tiết lộ mình thường xuyên đi làm muộn và say xỉn. Anh ta phớt lờ những lời cảnh báo và khuyến khích của người quản lý nhằm giúp anh ta tìm cách điều trị hành vi lạm dụng chất kích thích. Cuối cùng, anh ta bị sa thải. Một người khác sau khi bị sa thải khỏi công việc thứ mười trong một năm đã thừa nhận, “Nếu công việc có ý nghĩa gì đó, thì tôi có lẽ đã ở đó”. Tôi đã hỏi nhiều người ngồi tù về công việc họ muốn làm sau khi được trả tự do. Nhiều người trả lời muốn kinh doanh riêng. Người ta khó có thể chê trách họ chỉ vì họ khao khát đạt được những gì được coi là giấc mơ Mỹ đối với nhiều người. Khi được hỏi trở thành một doanh nhân cần
đến những yếu tố gì, hầu hết những người trong số họ đều không hề biết. Họ sống trong thế giới giả tưởng của riêng mình, và tưởng tượng mình đang quát tháo, ra lệnh trong khi những người khác vội vàng tuân theo yêu cầu đó. Thay vì lường trước những vấn đề liên tục xảy ra ảnh hưởng đến ngay cả những người cẩn thận nhất trong quá trình xây dựng và vận hành một doanh nghiệp hàng ngày, tội phạm lại tập trung vào khối tài sản khổng lồ mà chúng cho rằng chắc chắn sẽ được sở hữu. Đó là khái niệm “điểm số lớn” - một khoản tiền lớn dễ dàng có được. Đối với một số tội phạm, phạm tội là công việc của họ. Một người đàn ông làm công việc mà anh ta gọi là “công việc hàng ngày” nói rằng: “Anh làm việc của anh, tôi làm việc của tôi”. Anh ta ăn cắp các cửa hàng và bán ma túy mỗi ngày. Số lần phạm tội của anh ta lên đến con số hàng nghìn vì anh ta cứ thực hiện việc đó hàng ngày, hàng tháng và hàng năm. Anh ta bị bắt không phải vì những tội danh nói trên mà vì quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên. Người này cho rằng công việc là dành cho những kẻ khờ khạo. Anh ta có thể sống tốt nhờ số tiền có được từ hành vi phạm tội. Aaron, 35 tuổi, bị kết án với nhiều cáo buộc liên quan đến tàng trữ và phân phối heroin và cần sa. Khi còn là một thiếu niên, anh ta bị chuyển đến một trung tâm điều trị nội trú vì không thể cải tạo, hoàn toàn coi thường những ngăn cấm và tắc quy của cha mẹ. Anh ta bỏ nhà ra đi, ăn cắp tại các cửa hàng, không chịu đi học, phạm nhiều tội về giao thông và nhiều lần vi phạm trong thời gian thử thách. Anh ta tự coi mình là luật và phớt lờ các quy tắc khác. Một báo cáo từ trung tâm thanh thiếu niên cho biết, “Anh ta đã liên tục phấn đấu để trở thành một người tự do”. Khi tôi phỏng vấn Aaron, anh ta không hề tự do. Anh ta ngồi tù vì tội buôn bán ma túy. Aaron nói: “Tôi không tìm thấy bất cứ thứ gì khiến tôi có động lực”. Mặc dù rất thông minh nhưng Aaron cảm thấy buồn chán sau ba học kỳ đại học và đã bỏ học. Anh ta sử dụng ma túy sau khi bắt đầu hút cần sa lúc 13 tuổi. Không lâu sau, anh ta sử dụng Cocaine và heroin. Anh ta tự hào khi trở thành một doanh nhân chứ không phải một con nghiện. Năm 20 tuổi, anh ta “làm ăn” với một người đàn ông bán cần sa với số lượng lớn. Anh ta tìm được một người mua số lượng lớn ngoài tiểu bang và kiếm được hơn 2.500 đô la từ lần mua bán đầu tiên. Hai năm sau, anh ta bắt đầu bán heroin vì nó đem lại lợi nhuận cao hơn. Aaron coi mình là “tự làm chủ” khi kiếm được gần 100.000 đô la “được miễn thuế” mỗi năm. Tuy nhiên, anh
ta đang mắc nợ thẻ tín dụng hàng nghìn đô la. Dù kiếm được bao nhiêu, Aaron vẫn tiếp tục chi tiêu nhiều hơn. Anh ta bị ám ảnh bởi vẻ ngoài thành đạt và dành một số tiền nhỏ để tích lũy một tủ quần áo khổng lồ, bao gồm hơn hai tá cặp quần dài và ba tá áo len. Anh ta chia sẻ, “Khi vẻ ngoài của bạn ổn, bạn sẽ cảm thấy ổn”.