phần lớn thời gian thức giấc ở đó. Tuy nhiên, nhiều người cảm thấy công việc tẻ nhạt và hết sức khó chịu vì hoàn cảnh vượt quá tầm kiểm soát của bản thân. Họ làm những gì được yêu cầu để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày. Không phải Daniel, người khao khát được hưởng thành quả lao động mà không thực sự phải lao động để có được chúng. Ngay cả trước khi có công việc đầu tiên, anh ta đã hình dung mình là một doanh nhân thành đạt và là ông chủ của chính mình. Anh ta không
phải học hết đại học và đăng ký vào một chương trình sau đại học cung cấp những kiến thức và kỹ năng để thực hiện những hoài bão cao cả. Anh ta chưa bao giờ suy nghĩ nghiêm túc về giá trị của việc tích lũy kinh nghiệm khi làm việc cho người khác. Anh ta vẫn thất nghiệp, và hy vọng: “Tôi sẽ bắt đầu một điều gì đó mà tôi thực sự thích. Tôi vẫn tiếp tục chờ đợi điều gì đó sẽ xảy ra”. Khi tôi nói anh ta có thể tự trang trải tạm thời bằng cách làm bồi bàn tại một nhà hàng cao cấp ở trung tâm thành phố, Daniel kinh hoàng nhìn tôi và nói rằng anh ta sẽ liên tục so sánh mình với những thực khách đó. Daniel cho biết cảm thấy xấu hổ vì không còn cách nào khác ngoài việc ăn trộm, và anh ta khinh bỉ gọi đó là “tội phạm cổ cồn xanh”. Nếu tôi tư vấn cho Daniel thì anh ta từ chối làm việc. Giải pháp cuối cùng với anh ta được nhiều người gọi là “phương pháp chữa trị địa lý”: di chuyển ra khỏi khu vực đó. Tội phạm thường thành lập doanh nghiệp của riêng mình với vai trò cung cấp các dịch vụ hoặc sản phẩm nhưng sau đó không hề thực hiện cả hai vai trò này. Ngành kinh doanh sửa chữa nhà ở là một trong nhiều ngành bị thiệt hại do các hoạt động thiếu tin cậy gây ra. Ví dụ, một nhà thầu lái xe quanh một khu phố, đề nghị một mức giá phù hợp để cải tạo lại bề mặt đường đi vào nhà cho chủ nhà, sau đó bỏ túi một khoản tiền đặt cọc và không bao giờ quay lại. Một số tội phạm là những người có công việc ổn định vì họ nhận ra việc làm là biểu tượng của sự tôn trọng. Nếu tội phạm làm việc, những người khác sẽ ít nghi vấn hơn về cách sử dụng thời gian của anh ta. (Thường thì bố mẹ, vợ/chồng và người tư vấn sẽ nghĩ tội phạm đang sửa chữa những sai lầm chỉ vì anh ta có một công việc.) Khi chọn cách nỗ lực trong một công việc, anh ta nhanh chóng học hỏi mọi thứ và tràn đầy năng lượng. Anh ta được ông chủ đánh giá cao và thăng tiến trong công việc. Ít nhất là trong một khoảng thời gian, anh ta sẽ được ghi nhận bởi vì điều đó thể hiện công khai những gì trong thâm tâm mà anh ta chắc chắn ngay từ đầu - rằng anh ta vượt trội hơn bình thường. Nhưng đó là tất cả những gì được thể hiện vì anh ta vẫn không nghĩ mình là một người làm việc bình thường như những đồng nghiệp khác, và rất có thể khinh thường công việc và cả những người đã đề bạt anh ta. Tuy nhiên, anh ta biết rằng, giống như việc đạt được điểm số tốt ở trường giúp anh ta hoặc bạn bè giải quyết được những vấn đề bên lề thì một bản sơ yếu lý lịch ấn tượng cũng có thể như vậy.
Địa vị và quyền hạn đối với tội phạm quan trọng hơn nhiều so với chất lượng công việc. Vươn tới đỉnh cao là quyền được hưởng của anh ta chỉ vì bản chất anh ta là như vậy. Trong công việc, anh ta khẳng định con đường của mình là con đường duy nhất. Anh ta đưa ra lời khuyên mà không ai yêu cầu và áp đặt những ý kiến của bản thân. Anh ta nhẫn tâm chỉ trích người khác và sẵn sàng nổi giận với bất cứ ai đưa ra gợi ý dù rất nhỏ cho anh ta. Những đồng nghiệp phẫn nộ với chủ nghĩa giáo điều, sự cứng đầu và tâm hồn hẹp hòi của anh ta. Anh ta thường xuyên tranh cãi về những vấn đề nhỏ nhặt với đồng nghiệp, cấp dưới và người giám sát. Anh ta lạm dụng quyền hạn được nắm giữ một cách chính đáng thay vì thực hiện nó theo những cách có lợi cho công ty. Với tư cách là một nhà điều hành, anh ta tự mình đưa ra các quyết định thay vì tham vấn người khác. Anh ta nêu ý kiến và đưa ra kết luận như những sắc lệnh. Trong ngắn hạn, sự tự tin và chắc chắn của nhân viên có thể được cấp trên đánh giá cao đến mức bỏ qua những thiếu sót của anh ta. Phong cách điều hành của anh ta tạo ra sự thuyết phục cho đến khi người ta thấy rõ rằng anh ta không chỉ chống đối mọi người mà còn không có kiến thức chuyên sâu về doanh nghiệp. Một số tội phạm mang tính chất ôn hòa thay vì gây tranh cãi, được mến mộ thay vì thiếu thân thiện, quanh co thay vì đáng sợ. Chúng giả vờ quan tâm đến những gì người khác nói. Khi đưa ra những đề nghị, trong thâm tâm của những tội phạm gạt đi từng ý tưởng mà không xem xét đến giá trị của nó. Họ dường như bình tĩnh giải quyết trước những lời chỉ trích nhưng thực ra lại phớt lờ nó và cố tình ghi nhớ người chỉ trích là ai. Họ lạm dụng quyền hạn và phản bội lòng tin nhưng không trắng trợn khi làm vậy. Với tội phạm là người đứng đầu, tinh thần nhân viên sẽ sa sút. Phương pháp hoạt động của anh ta sớm muộn cũng khiến người khác mất động lực khi đề xuất các ý tưởng đổi mới và phát triển các giải pháp mang tính sáng tạo. Về quan điểm, điều quan trọng cần ghi nhớ là những người không phải tội phạm đều có những khuyết điểm tương tự trong tính cách, tuy nhiên vấn đề nằm ở mức độ. Một số giám đốc điều hành sẽ làm việc hiệu quả hơn nhiều nếu họ ít giáo điều hơn, tự phê bình nhiều hơn và nhạy cảm hơn trước những nhu cầu của người khác. Tuy nhiên, họ coi trọng công việc, trung thành cống hiến hết mình cho công ty và không cố ý bóc lột đồng nghiệp. Một tội phạm sẽ coi công việc đa phần giống như một đấu trường để tìm kiếm quyền lực. Anh ta đạt được quyền lực bằng cách hy
sinh lợi ích của người khác đôi khi theo cách tàn nhẫn, và thực thi nó nhằm nâng cao hơn nữa những mục tiêu của riêng mình. Chính những công việc thường ngày khiến nhiều kẻ phạm tội cảm thấy khó chịu vì họ dường như dị ứng với điều đó ở bất kỳ đâu trong cuộc sống. Để vượt qua sự tẻ nhạt, một số người sử dụng ma túy trong khi làm việc. Khi phấn khích, tội phạm có thể chịu đựng suốt cả ngày vì ma túy giúp tâm trí anh ta bay bổng từ những điều hằng ngày đến những điều thú vị. Ngoài ra, tội phạm còn có âm mưu tìm hiểu xem đồng nghiệp nào cũng sử dụng, xác định các nguồn mua ma túy mới, hoặc khám phá các thị trường giao dịch. Bởi vì tội phạm hoàn thành tốt công việc nên việc sử dụng ma túy khó có thể bị người quản lý để ý tới. Nếu anh ta không nỗ lực hoặc bất cẩn, ông chủ sẽ khiển trách và có thể cho rằng có điều gì đó đang tạm thời gây khó khăn cho anh ta. Nếu tình trạng làm việc kém hiệu quả kéo dài, kẻ thực hiện hành vi phạm tội có thể bị sa thải nhưng ông chủ sẽ không bao giờ nghi ngờ anh ta có dính dáng đến ma túy. Trong trường hợp không chắc tội phạm bị bắt quả tang đang sử dụng ma túy, sếp của anh ta có thể khuyên anh ta nên tìm cách điều trị, có thể bằng chi phí của công ty. Một số người chủ thậm chí phải gánh một phần trách nhiệm. Thay vì phạt người sử dụng, họ cho rằng điều kiện tại nơi làm việc không đạt yêu cầu đã khiến anh ta sử dụng ma túy. Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là tội phạm bị mất việc làm nhưng đó có thể không phải là một hình phạt đặc biệt nghiêm khắc đối với anh ta. Tội phạm thường sử dụng công việc nhằm phục vụ trực tiếp cho hoạt động phạm tội. Các doanh nghiệp phải hứng chịu nhiều hành vi trộm cắp từ chính nội bộ nhiều hơn là từ các khách hàng. Các nhân viên bỏ trốn cùng với số hàng hóa trị giá hàng triệu đô la và biển thủ một số lượng tiền mặt đáng kể. Người ta ước tính rằng có 30%-60% thất bại của doanh nghiệp nhỏ là do hành vi trộm cắp của nhân viên. Ngoài ra, các công ty phải đối mặt với các cuộc tấn công mạng nhằm vào các hệ thống máy tính. Một nghiên cứu năm 2013 dựa trên một mẫu đại diện của 60 tổ chức trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau chỉ ra tổn thất chi phí trung bình do tội phạm mạng gây ra là 11,6 triệu đô la mỗi năm, trải dài trong phạm vi từ 1,3 đến 58 triệu đô la trên mỗi công ty[60] . Các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với vấn đề trộm cắp trên mạng, trong đó tội phạm sử dụng máy tính để lừa đảo và tham ô, cũng như đánh cắp dữ liệu cá nhân hoặc tài chính. Theo báo
cáo trên một ấn phẩm của tạp chí Forbes, đánh cắp bí mật thương mại ảnh hưởng đến các công ty đến mức họ “bị thiệt hại về tài chính, buộc phải giảm bớt việc làm và thu hẹp quy mô hoặc thậm chí chấm dứt hoạt động”. [61] Những tội phạm tỏ ra là những nhân viên vững vàng, đáng tin cậy, biết nắm bắt cơ hội để làm giàu cho bản thân bất chấp tổn hại đến lợi ích chung. Họ được đào tạo, trang bị những kỹ năng và không có bất kỳ tiền án tiền sự nào trước đó, và gần như không gặp khó khăn để đáp ứng đủ các điều kiện cho các công việc trong chính quyền liên bang, tiểu bang hoặc chính quyền địa phương. Wanda làm việc cho một cơ quan cấp hạt có nhiệm vụ quản lý việc đăng ký hàng trăm khóa học giáo dục cho người trưởng thành. Trong khoảng thời gian ba năm, cô đã chuyển số tiền gần một phần tư triệu đô la từ các quỹ trong kho bạc của hạt vào một tài khoản mang tên cô. Lúc đầu, cô dùng tiền để thanh toán các hóa đơn khám chữa bệnh khổng lồ của các thành viên trong gia đình. Sau đó, như cô ấy nói, cô ấy đã “vượt quá khả năng” và chi hàng nghìn đô la cho những kỳ nghỉ xa hoa và đồ trang sức. Về lý do biển thủ tiền, Wanda đã nói, “Tôi đã cố gắng khiến mọi người hạnh phúc” và nhắc đến cha mẹ, chồng và con cái của cô ấy, những người được hưởng lợi từ khoản chi tiêu của cô. Cô ta chia sẻ tiếp, “Tôi cố gắng làm hài lòng mọi người quá nhiều”. Wanda cho biết cô nhanh chóng nhận ra những nhân viên kế toán khác là đồng nghiệp của cô “không phải là người nhanh nhẹn nhất” và cô cho họ là những người cẩu thả và không lưu tâm đến từng chi tiết. Hơn nữa, việc giám sát lệ phí đăng ký còn lỏng lẻo, và người giám sát phải làm việc quá sức lại hoàn toàn tin tưởng cô. Wanda luôn kiểm soát mọi thứ. Cô ấy hiếm khi thừa nhận không biết điều gì đó hoặc cần giúp đỡ. Cô ấy nói rằng, thời còn đi học cô ấy sẽ cảm thấy xấu hổ khi yêu cầu giáo viên giải thích điều gì đó mà mình không hiểu. Bởi vì Wanda hiếm khi giãi bày bản thân hoặc tâm sự với người khác nên cô ấy có rất ít bạn bè và không có người bạn thân nữ giới nào. Cô chia sẻ, “Tôi là người thích kiểm soát hơn. Tôi không nói chuyện với bất kỳ ai về bất cứ điều gì”, trong đó bao gồm cả chồng cô là Peter. Peter không thể tin người vợ và người mẹ những đứa con của mình lại có thể ăn trộm một thanh kẹo chứ chưa nói đến tham ô một số tiền lớn như vậy. Vì cô ấy là một kế toán nên anh ấy giao việc quản lý tài chính của gia đình cho cô. Anh ta không hề biết các vấn đề liên quan đến thanh toán các
hóa đơn. Anh cho rằng bất cứ điều gì Wanda nói với anh đều là sự thật. Wanda đã lợi dụng bản chất dễ dãi đó của chồng mình. Cô chi tiêu các hóa đơn trên ba thẻ thanh toán đến khi đạt mức cho phép tối đa trên mỗi thẻ và phải trả lãi suất trên 20% cho số tiền chưa thanh toán. Để mua một chiếc ô tô mới tinh, cô đã vay một khoản vay trong năm năm. Khi không thể thanh toán được nữa, đại lý đã thu