phần vỏ nhựa của bộ khóa điện bằng một cú đá. Trong lúc Trương nhìn với sự kinh ngạc và lo lắng, con trai anh lôi hết đám dây ra và bắt đầu quẹt chúng vào nhau. Đột nhiên đài ra-đi-ô trên xe phát tiếng oang oang: “Người sẽ luôn yêu thương con, hãy để Đấng Cứu Rỗi bước vào trái tim con...” William bấm một nút trên bảng điều khiển và âm thanh nhỏ lại. Cậu tiếp tục quẹt các đầu dây điện vào nhau. Một tia lửa điện... Động cơ bừng tỉnh. Trương nhìn chằm chằm khó tin. “Làm sao con biết cách làm việc đó?” Cậu con trai chỉ nhún vai. “Nói cho bố...”
Vũ nắm lấy tay Trương. “Đi thôi! Chúng ta phải đi đón người nhà và chạy ngay. Quỷ đang tìm chúng ta.” Người cha nhìn trừng trừng con trai mình trong nỗi kinh ngạc. Anh tưởng thằng bé sẽ cụp mắt xuống trong hổ thẹn. Nhưng William chỉ giương mắt nhìn lại theo cái kiểu lạnh lùng mà bản thân Trương dù ở độ tuổi nào cũng không bao giờ dám nhìn cha mình như vậy. “Xin anh đấy,” Vũ van nài. “Quay lại tìm mọi người thôi.” “Không,” một lúc sau Trương nói. “Đưa họ đến đây. Theo đường ta đã tới - và đảm bảo là họ không để lại dấu chân nào.” Vũ vội vã đi đón những người khác. William tìm được một tấm bản đồ khu vực này trong xe và nghiên cứu nó cẩn thận. Thằng bé gật đầu nhưng đang cố ghi nhớ các hướng đi. Chống lại khao khát điều tra về việc con trai mình biết kích điện ô tô, Trương hỏi thằng bé, “Con biết phải đi đâu không?” “Con có thể tìm được.” Cậu nhìn lên. “Bố muốn con lái xe không?” Rồi cậu nói thẳng. “Bố lái không tốt lắm.” Như hầu hết những người dân thành thị ở Trung Quốc, phương tiện di chuyển chính của Sam Trương là xe đạp. Trương chớp mắt trước những lời này của con trai - một lần nữa thằng bé lại nói bằng giọng gần như hỗn hào. Rồi Vũ xuất hiện cùng những người vượt biên khác và Trương lao tới giúp vợ và cha mình vào xe tải, anh quay lại nói với con trai, “Được, con lái đi.”
CHƯƠNG BẢY Hắn đã giết hai con lợn trên bãi biển - một người đàn ông bị thương và một phụ nữ. Nhưng còn khoảng mười hai đứa khác trên bè. Chúng đâu? Còi ô tô vang lên. Quỷ quay lại. Đó là Jerry Đường đang gọi hắn. Gã giơ chiếc ra-đa của cảnh sát lên, biểu hiện cuống cuồng. “Cảnh sát sẽ ở đây bất cứ lúc nào! Chúng ta phải đi!” Quỷ quay đi và nhìn khắp bãi biển và con đường một lần nữa. Chúng đã đi đâu? Có thể chúng... Với một tiếng rít của bốn bánh xe, chiếc bán tải của Đường đã lao lên đường lộ và tăng tốc. “Không! Dừng lại!” Quá tức giận, Quỷ ngắm và bắn một lần. Viên đạn trúng cửa sau nhưng chiếc xe vẫn tiếp tục, không hề chậm lại. Nó lao đến một ngã tư rồi rẽ ngoặt và biến mất. Quỷ đứng chết trân, khẩu súng vẫn thả một bên người, hắn nhìn qua đám sương vào nơi phương tiện trốn thoát duy nhất của hắn vừa biến mất. Hắn vẫn còn cách nơi ẩn trốn ở Manhattan 128 cây số, trợ thủ của hắn thì đang mất tích và có thể đã chết, hắn không có tiền cũng không có điện thoại di động. Cả tá cảnh sát Liên bang lẫn tiểu bang đang lần theo hắn, mà Đường lại vừa bỏ hắn lại. Hắn có thể...
Người hắn căng lên. Cách đó không xa, một chiếc xe tải màu trắng đột nhiên rẽ ra khỏi một cánh đồng ở bên hông nhà thờ nhỏ và hướng ra đường. Chính là lũ lợn Quỷ nâng súng lên lần nữa nhưng chiếc xe đã biến mất trong màn sương. Hắn hạ súng xuống và hít mấy hơi thật sâu. Sau một phút hắn đã bình tĩnh lại. Hắn thấy phiền vì những rắc rối ngay trước mắt của mình, đúng, nhưng trong đời hắn từng trải qua nhiều nghịch cảnh hơn thế nhiều. Ngươi thuộc về cái cũ Ngươi sẽ tái lập con đường của mình Ngươi sẽ chết vì những niềm tin cũ... Hắn đã học được rằng một trở ngại chẳng qua là sự mất cân bằng nhất thời, và ngay cả những sự kiện kinh khủng nhất trong đời hắn rồi cũng sẽ được đền bù xứng đáng bằng vận may lớn. Triết lý nằm lòng của hắn tóm gọn trong một chữ Hán: nhẫn. Nó có nghĩa là “kiên nhẫn” trong tiếng Trung Quốc nhưng trong tâm trí Quỷ nó còn nhiều ý nghĩa hơn nữa. Câu tương đương với nó trong tiếng Anh phải là “Đâu còn có đó.” Hắn đã sống sót qua hơn bốn mươi năm cuộc đời mình bởi hắn biết chờ thời vượt qua mọi rắc rối, hiểm nguy và đau thương. Ngay lúc này lũ lợn con đã chạy thoát. Cái chết của chúng phải lùi lại đôi chút. Giờ không còn gì cần làm ngoài việc thoát khỏi bọn cảnh sát và INS. Hắn nhét khẩu súng lục cũ vào túi quần và lầm lũi đi dưới cơn mưa gió trên bãi biển về phía những ánh đèn thị trấn. Tòa nhà gần nhất là một nhà hàng, trước mặt nó có chiếc xe đang đậu mà động cơ vẫn chạy. Đấy, đã lại có vận may rồi!
Hắn liếc ra biển và trông thấy một việc khiến hắn phải cười phá lên. Lại một vận may khác: cách bờ không xa lắm hắn trông thấy một con lợn khác, một người đàn ông đang vật lộn để nổi lên mặt nước. Ít nhất hắn cũng giết được thêm một tên trước khi chạy tới thành phố. Quỷ lôi khẩu súng ra khỏi túi và bắt đầu chạy về phía biển. Cơn gió đang làm gã kiệt sức. Trên đường mò đến thị trấn nhỏ, Sonny Lý ì ạch lội trên cát. Gã là một người nhỏ thó và trong cái thế giới nhọc nhằn, nguy hiểm của mình, gã dựa vào những lời dọa dẫm, hành động bất ngờ và trí khôn (tất nhiên cả vũ khí nữa) nhiều hơn là sức mạnh thể chất. Giờ gã đã đến giới hạn của mình, hoàn toàn kiệt sức vì tai ương ban sáng. Cơn gió... Đã hai lần gã bị gió quật cho ngã quỵ. Không thể để thế này nữa, gã nghĩ. Bất chấp nguy cơ bị ai nhìn thấy, vật lộn trên lớp cát mềm thế này vẫn là quá sức với gã và gã lại phải lần mò về với con đường ngập nước mưa để đi tiếp về phía ánh đèn của thị trấn nhỏ. Gã đi nhanh hết sức có thể, sợ rằng xà thủ sẽ bỏ đi trước khi Lý tìm được hắn. Nhưng một lát sau gã tìm được niềm an ủi là tên thủ lĩnh vẫn còn đó: thêm mấy tiếng súng nữa. Lý vật vã trèo lên đồi để nhìn xuyên qua cơn mưa gió nhưng không thấy ai cả. Âm thanh ấy rõ ràng đã vang xa hơn vì gió bão. Gã chán nản tiếp bước. Suốt mười phút dài đằng đẵng dấn bước trên đường, thi thoảng gã lại ngửa cổ lên để nước mưa trút đầy
khoang miệng mình. Sau ngần ấy lượng nước biển gã đã phải nuốt vào bụng, giờ gã thấy khát cháy họng. Rồi gã trông thấy bên phải mình có một chiếc bè cứu sinh nhỏ màu cam đang nằm chơ vơ trên bãi biển. Gã đoán đó là của Quỷ. Gã nhìn lên nhìn xuống bãi biển tìm tên xà thủ nhưng qua cơn mưa và sương như thế này, gã khó lòng nhìn xa được. Gã đi về phía cái bè, nghĩ rằng biết đâu mình có thể đi theo dấu chân của xà thủ và tìm được chỗ hắn trốn trong thị trấn. Nhưng khi gã vừa nhấc chân ra khỏi đường lộ một ánh đèn nhấp nháy xuất hiện. Gã quệt nước mưa khỏi mắt và nheo lại nhìn. Ánh đèn màu xanh và đang lao về phía gã rất nhanh trên đường. INS ư? Hay cảnh sát Liên bang? Lý lao vội vào những bụi rậm dày ở mé bên kia đường. Gã thu mình và nhìn ánh đèn ngày một tỏ hơn khi chiếc xe mang nó, một con xe thể thao màu vàng, xuất hiện trong làn mưa và phanh kít lại cách đó một trăm mét. Trong tư thế ngồi xổm Lý bắt đầu mò dần về phía chiếc xe. Amelia Sachs đứng trên bờ biển bị mưa dội xối xả và nhìn xuống thi thể một người phụ đã rũ ra trong tư thế của người chết. “Hắn đang giết họ, Rhyme,” Amelia Sachs buồn bã thì thầm vào micro của chiếc bộ đàm cầm tay Motorola SP-50 của cô. “Hắn đã bắn hai người, một đàn ông và một đàn bà. Từ sau lưng. Họ chết rồi.” “Bắn họ ư?” Giọng của nhà tội phạm học khàn đi và cô biết anh đã lại chất lên mình gánh nặng của những cái chết này.
Anh cảnh sát ESU chạy lại chỗ cô, tay lăm lăm khẩu súng tự động. “Không có dấu vết nào của hắn,” anh ta hét để át tiếng gió. “Người ở trong nhà hàng cách con đường không xa kia nói rằng kẻ nào đó vừa đánh cắp một chiếc ô tô cách đây khoảng hai mươi phút.” Viên cảnh sát mô tả cho Sachs chiếc xe Honda cùng biển số của nó, cô đọc lại cho Rhyme. “Lon sẽ đưa thông báo về nó ngay,” anh nói. “Hắn có một mình à?” “Tôi nghĩ vậy. Vì mưa lớn nên chẳng còn dấu chân nào trên cát nhưng tôi tìm được vài dấu trên bùn, chỗ hắn đứng để bắn người phụ nữ. Lúc đó hắn chỉ có một mình.” “Vậy chúng ta sẽ giả định là bằng hữu của hắn vẫn còn chưa xuất hiện. Có thể hắn đã lên bờ trên chiếc bè kia. Hoặc còn kẹt lại trên con tàu đắm.” Amelia nhìn khắp xung quanh, bàn tay đặt gần súng. Những hình dạng của đá, đụn cát và bụi rậm trong sương mờ bao quanh cô. Một người đàn ông cầm súng có thể trở nên vô hình ở đây. Rồi cô nói, “Chúng tôi sẽ đi tìm những người nhập cư, Rhyme.” Cô tưởng anh sẽ không đồng ý và bảo cô quan sát hiện trường trước, trước khi các yếu tố phá hoại hủy hết bằng chứng. Nhưng anh chỉ nói đơn giản. “Chúc may mắn, Sachs. Gọi cho tôi khi nào bắt đầu kiểm tra hiện trường.” Điện thoại tắt ngóm. Soát thật kĩ nhưng luôn cẩn thận phía sau... Hai cảnh sát cùng đi dọc bãi biển. Họ bắt gặp một chiếc bè thứ hai, nhỏ hơn, cập bờ ở cách chiếc đầu tiên khoảng một trăm mét. Phản ứng bản năng của Sachs là tìm bằng chứng trên đó nhưng cô vẫn phải bám lấy nhiệm vụ trước mắt của mình và chạy băng qua đó
- trong khi chứng viêm khớp vẫn làm đau buốt các khớp xương - với cơn gió đập vào sau lưng để tìm những người vượt biên. Cô cũng chú ý đến một bụi cây hay hố nào đó mà Quỷ có thể lẩn xuống. Họ không tìm được cả hai. Rồi cô nghe thấy tiếng còi hụ ở xa xa, vang trong gió, và trông thấy một đoàn xe cấp cứu lao vào trong thị trấn. Khoảng hơn chục người dân lúc nãy núp trong nhà hàng và trạm xăng giờ mới ló mặt ra ngoài để tìm hiểu xem chính xác thì cơn bão đã mang lại sự vụ náo nhiệt gì cho cái thị trấn bé tí của họ. Nhiệm vụ đầu tiên của một cảnh sát hiện trường là kiểm soát hiện trường vụ án - để hạn chế tối đa sự can thiệp và ngăn bằng chứng biến mất, dù vô tình hay do những bàn tay hám vật lưu niệm hoặc do chính tên thủ phạm đóng giả là kẻ tò mò đi nữa. Sachs miễn cưỡng từ bỏ cuộc tìm kiếm người vượt biên và thủy thủ của mình - giờ đã có nhiều người khác làm việc đó - và chạy tới chỗ chiếc xe xanh trắng của đội khám nghiệm hiện trường NYPD để chỉ huy hoạt động. Trong lúc các kĩ thuật viên rào bãi biển bằng dải băng vàng, Sachs mặc bộ phục trang mới nhất của đội khám nghiệm hiện trường ra bên ngoài bộ quần áo ướt sũng của mình. Trang phục mới của đội hiện trường NYPD là một bộ áo liền quần có mũ trùm đầu may bằng vải Tyvek trắng, giúp các nhân viên khám nghiệm khỏi làm hỏng hay sai lệch hiện trường của chính mình bằng tóc, da hay mồ hôi chẳng hạn. Lincoln Rhyme rất tán đồng bộ quần áo ấy, chính anh đã vận động để họ có một thứ tương tự hồi anh còn quản lý Phòng Điều tra và Nguồn lực, cơ quan coi sóc việc khám nghiệm hiện trường. Tuy
nhiên Sachs thì không hài lòng lắm. Thực tế chuyện bộ quần áo khiến cô trông giống người ngoài hành tinh trong một bộ phim viễn tưởng tồi không thành vấn đề; thứ làm cô khó chịu là cái màu trắng toát của nó, rất dễ bị những tên tội phạm trông thấy. Có thể lắm chứ, bọn chúng vì một lý do nào đó mà vẫn còn lảng vảng quanh hiện trường để thử tài bắn súng trúng những viên cảnh sát đang thu thập bằng chứng kia. Do đó Sachs đặt biệt danh cho bộ đồ là “bộ quần áo hồng tâm”. Cuộc thẩm vấn nhanh những người dân trong nhà hàng, trạm xăng và vài ngôi nhà trên bãi biển không đem lại kết quả gì ngoài những điều họ đã biết về chiếc Honda mà Quỷ dùng để trốn thoát. Không có chiếc xe nào khác bị đánh cắp và cũng không ai thấy người nào bơi vào bờ hay đang lẩn trốn. Thậm chí cũng không có ai nghe thấy tiếng súng trong cơn mưa gió. Vậy là chỉ còn trông chờ vào Amelia Sachs và Lincoln Rhyme để chắt bóp từ hiện trường chút thông tin về Quỷ, các thủy thủ cùng những người vượt biên đã ở đó. Hiện trường thì mới quý giá làm sao, một trong những phạm vi rộng nhất họ từng làm: hơn một cây số đường biển, quốc lộ, và ở bên kia của con đường trải nhựa là cả một mê cung bụi rậm. Có cả triệu chỗ để tìm kiếm. Đã thế lại còn khả năng một tên tội phạm có vũ trang vẫn đang lẩn lút nơi đó nữa. “Hiện trường tệ lắm, Rhyme ạ. Mưa đã dịu đôi chút nhưng vẫn còn nặng hạt và gió thổi tới ba mươi hai ki-lô-mét trên giờ.” “Tôi biết rồi. Chúng tôi có bật kênh Dự báo thời tiết.” Giờ giọng anh đã khác, bình tĩnh hơn. Tiếng nói ấy làm cô sờ sợ. Nó làm cô nhớ đến sự điềm tĩnh đến gai người trong lời nói khi anh nói về sự
kết thúc, về sự tự vẫn, về chung cuộc. “Lại càng thêm lí do để tiếp tục cuộc tìm kiếm, cô có nghĩ vậy không?” Anh trầm tư nói. Cô nhìn một lượt bãi biển. “Chỉ có điều... Mọi nơi đều rộng quá. Quá nhiều thứ ở đây.” “Làm sao mà lại quá rộng được, Sachs? Chúng ta thực hiện nhiệm vụ trên mọi hiện trường từng xen-ti-mét một. Bất kể đó là một cây số vuông hay chỉ vài phân. Công việc chỉ mất thời gian hơn thôi. Hơn nữa, chúng ta yêu những hiện trường rộng lớn. Có quá nhiều chỗ tuyệt vời để tìm bằng chứng.” Tuyệt vời cơ đấy, cô nghĩ một cách châm biếm. Vậy là Sachs bắt đầu từ chỗ chiếc bè xẹp gần nhất, rồi từ đó tiến hành kẻ ô vuông hiện trường. Cụm từ ấy mô tả một kĩ thuật tìm kiếm bằng chứng vật thể của đội khám nghiệm hiện trường, trong đó các nhân viên khám nghiệm cày sàn nhà hay mặt đất theo cùng một hướng, cả hai chiều như cách người ta xén cỏ vậy, sau đó họ quay vuông góc và làm điều tương tự trên cùng một diện tích. Lý thuyết đằng sau phương pháp tìm kiếm này là bạn có thể trông thấy một vật mà bạn đã bỏ qua khi nhìn vào chúng từ một góc độ khác. Mặc dù có cả tá phương pháp khác nhanh hơn để khám nghiệm hiện trường, nhưng chính cái kiểu kẻ ô vuông cổ lỗ sĩ ấy lại hay mang về kết quả nhất. Đó là cách mà Rhyme khăng khăng bắt Sachs phải làm - cũng như trước đây anh bắt các nhân viên dưới quyền của phòng khám nghiệm NYPD làm vậy. Vì Lincoln Rhyme mà cụm từ “kẻ ô vuông” đã trở thành từ đồng nghĩa với việc khám nghiệm hiện trường trong giới cảnh sát đô thị. Chẳng mấy chốc cô đã không còn trông thấy tí gì của thị trấn nhỏ Easton và dấu hiệu duy nhất cho thấy cô không ở một mình là ánh
đèn nhấp nháy phát ra từ những chiếc xe cứu thương, giống như máu đang được bơm bên dưới lớp da nhạt màu vậy. Cảm giác vừa bất an vừa đáng sợ. Nhưng ngay cả ánh đèn cũng nhanh chóng biến mất trong màn sương. Sự u tịch và cảm giác yếu đuối đáng sợ cuộn lên quanh cô. Ôi trời, mình không thích thế này. Ở đây sương còn tệ hơn và tiếng mưa rơi xuống mũ trùm đầu của cô nghe to hơn, tiếng sóng và gió cũng sẽ ngụy trang cho bất kì kẻ tấn công nào tiếp cận. Cô gõ vào báng súng khẩu Glock màu đen của mình để cho an tâm và tiếp tục kẻ ô vuông. “Tôi sẽ im ắng một lát, Rhyme. Tôi có cảm giác vẫn còn người nào đó ở đây. Ai đó đang theo dõi tôi.” “Gọi cho tôi khi cô đã xong,” anh nói. Kiểu ngập ngừng của anh gợi ý là vẫn còn gì đó anh muốn nói ra nhưng một lát sau đường dây đã tắt. Cẩn thận sau lưng... Một tiếng đồng hồ tiếp theo, bất chấp mưa gió, cô vẫn tìm kiếm khắp bãi biển, con đường và cả trảng cây bụi ở bên kia đường, như một đứa trẻ đi tìm vỏ sò. Cô kiểm tra chiếc bè còn lành lặn, bên trong tìm được một chiếc điện thoại di động, và chiếc bè đã bị xịt mà hai cảnh sát ESU đã kéo được lên bờ. Cuối cùng cô cũng tập hợp được các bằng chứng của mình, những chiếc vỏ đạn, mẫu máu, dấu vân tay và ảnh chụp Polaroid các dấu chân. Sau đó cô dừng lại và nhìn quanh. Cô bật điện đài lên và được nối với một dinh thự ấm cúng ở cách đó hàng năm ánh sáng. “Có chuyện nực cười lắm, Rhyme ạ.” “Chả có ích tí nào, Sachs. ‘Nực cười’ là sao? Ý cô là gì?”
“Mấy người vượt biên ấy... có khoảng trên dưới mười người, họ biến mất tăm rồi. Tôi không hiểu được. Họ bỏ chỗ trú ẩn bên bờ biển rồi băng qua đường và trốn trong mấy bụi cây. Tôi trông thấy dấu chân trên bùn ở bên đường đối diện. Rồi họ cứ thế biến mất. Tôi đoán họ đã vào đất liền để trốn nhưng không tìm được dấu vết gì cả. Cũng không có ai ở quanh đây xác nhận cho những người như thế đi nhờ cả, và cũng không ai trong thị trấn thấy có chiếc xe tải nào đang chờ sẵn để đưa họ đi. Ở đây còn không có cả vệt bánh xe luôn.” “Được rồi, Sachs, cô vừa mới lần theo chân Quỷ. Cô đã thấy hắn làm gì, cô biết hắn là ai, cô đã ở chỗ hắn vừa ở. Theo cô thì sao?” “Tôi...” “Giờ cô chính là Quỷ,” Rhyme nhắc lại bằng giọng dẫn dụ. “Cô là Kwan Ang, biệt danh là Quỷ. Cô là một triệu phú, một tay buôn người - một xà thủ. Một tên sát nhân. Cô vừa mới đánh đắm một con tàu và giết hàng chục người. Giờ đầu óc cô sẽ nghĩ gì?” “Tìm những người còn lại,” cô trả lời ngay lập tức. “Tìm và giết họ. Tôi không muốn đi vội. Chưa được. Tôi không chắc là tại sao nhưng tôi phải tìm họ.” Trong một khoảnh khắc hình ấy ấy bật trong đầu cô. Đúng là cô đã nhìn mình như một xà thủ, lòng tràn đầy ham muốn tìm kiếm những người nhập cư và giết họ. Cảm giác ấy thúc ép đau nhói. Cô thì thầm, “không gì có thể cản được tôi.” “Tốt lắm, Sachs,” Rhyme lặp lại nhẹ nhàng như thể anh sợ làm đứt mất sợi dây mong manh đang kết nối một phần tâm hồn cô với linh hồn gã xà thủ. “Giờ hãy nghĩ về những người nhập cư. Họ đang bị một kẻ như thế đuổi theo. Họ sẽ làm gì?”
Cô phải mất một lát mới chuyển mình từ một tên sát nhân máu lạnh và một xà thủ sang một trong số những con người nghèo khổ trên con tàu đó. Cô thất kinh vì kẻ đã nhận tiền tiết kiệm cả đời của cô lại phản bội cô theo cách ấy, lại giết những con người gần gũi với cô, có khi còn là người nhà. Giờ thì kẻ đó đang quyết tâm giết cô. “Tôi sẽ không trốn,” cô nói chắc nịch. “Tôi sẽ chạy khỏi nơi đây càng xa càng tốt. Bằng bất kì cách nào có thể, đi xa nhất có thể. Chúng tôi không thể quay lại đại dương. Chúng tôi cũng không thể đi bộ. Chúng tôi đi ô tô.” “Và làm sao để cô kiếm được một chiếc xe?” Anh hỏi. “Tôi không biết,” cô nói, cảm thấy bực tức vì đã ở gần câu trả lời đến thế mà nó vẫn lảng tránh mình. “Có nhà nào ở trên bờ không?” Anh hỏi. “Không.” “Có chiếc xe tải nào chỗ trạm xăng không?” “Có, nhưng kiểm lâm hỏi những người trông quầy rồi. Không có cái xe nào bị mất cả.” “Còn gì nữa không?” Sachs nhìn khắp phố. “Không có gì cả.” “Không thể nào không có gì được, Sachs ạ,” anh mắng. “Những người đó đang chạy bán sống bán chết. Họ đã trốn thoát bằng cách nào đó. Câu trả lời ở đó. Cô còn thấy gì nữa?” Cô thở dài và bắt đầu nhắc lại, “tôi thấy một chồng lốp vứt đi, tôi thấy một cái thuyền bị lật úp, tôi thấy một thùng các-tông ... vỏ lon bia Sam Adams. Ở trước mặt nhà thờ là một cái xe cút kít..
“Nhà thờ sao?” Rhyme lặp lại. “Lúc nãy cô đâu có nhắc đến nhà thờ.” “Hôm nay là sáng thứ Ba, Rhyme à. Nhà thờ đóng cửa và ESU đã kiểm tra chỗ đó rồi.” “Qua đó đi, Sachs. Ngay bây giờ!” Cô bắt đầu bước một cách cứng ngắc tới chỗ đó nhưng chẳng biết mình sẽ tìm được cái gì hữu ích hay không. Rhyme giải thích, “Cô không tham gia các lớp Kinh Thánh kỳ nghỉ hè bao giờ à Sachs? Bánh quy giòn Ritz, rượu Punch Hawaii và Chúa Jesus trong những buổi chiều hè? Không đi picnic góp món bao giờ ư? Không có lần đi trại thanh thiếu niên nào?” “Một hai lần. Nhưng tôi dành hầu hết các ngày Chủ nhật của tôi là để độ lại bộ chế hoà khí.” “Cô nghĩ nhà thờ dùng cái gì để chuyên chở đám thanh thiếu niên của họ đi và về các địa điểm vui chơi ấy? Xe tải nhỏ, Sachs à. Xe tải, đủ chỗ cho cả chục con người.” “Có thể,” cô nói thêm một cách nghi ngại. “Cũng có thể không,” Rhyme thừa nhận. “Nhưng những người vượt biên đâu có mọc cánh mà bay mất, đúng không nào? Vì vậy hãy kiểm tra các giải thuyết nghe khả dĩ hơn.” Quả nhiên, như nhiều lần khác, anh đã đúng. Cô đi vòng ra sau nhà thờ và kiểm tra lớp đất bùn ở đó: những dấu chân, những mảnh kính nhỏ từ chiếc cửa bị đập vỡ, đoạn ống dùng để đập cửa, vết bánh xe của một chiếc xe tải. “Thấy rồi, Rhyme. Một đống dấu chân còn mới nguyên. Quỷ thật, họ thông minh lắm... Bước đi trên đá, cỏ và cây dại. Tránh đi trên
bùn để không lưu lại dấu chân. Và nhìn có vẻ như họ đã lên xe tải và lái băng qua một cánh đồng trước khi quay trở lại đường cái. Để không ai trông thấy nó từ trên phố chính cả.” Rhyme ra lệnh, “Lấy mô tả chi tiết của cái xe chỗ ông mục sư đi.” Sachs bảo một kiểm lâm gọi điện cho ngài mục sư quản sự nhà thờ. Vài phút sau họ đã có chi tiết: nó là một chiếc Dodge màu trắng, năm năm tuổi, tên của nhà thờ được sơn ở một bên xe. Cô ghi lại biển số xe rồi đọc nó cho Rhyme, anh nói mình sẽ phát thông báo tìm một chiếc xe nữa trên đài cảnh sát, cộng với chiếc Honda lúc trước, và yêu cầu bên Cảng vụ chuyển lời tới các trạm thu phí ở cầu và đường hầm, theo hướng giả thuyết là những người nhập cư đang nhắm đến phố Tàu ở Manhattan. Cô kẻ ô vuông cẩn thận đằng sau nhà thờ nhưng không tìm được gì khác. “Tôi không nghĩ chúng ta còn gì để làm thêm ở đây đâu, Rhyme. Tôi sẽ thu các vật chứng và quay về.” Cô ngắt cuộc gọi. Quay lại nơi đậu xe của đội khám nghiệm, cô cất bộ quần áo Tyvek và ghi sổ những gì tìm được rồi gắn thẻ tiêu chuẩn cho từng vật chứng thu được ở hiện trường vụ án. Cô nói với các kĩ thuật viên phải mang tất cả mọi thứ tới nhà Rhyme ngay lập tức. Mặc dù có vẻ vô vọng nhưng cô vẫn muốn tìm kiếm người sống sót thêm một lần nữa. Hai bên đầu gối của cô đang bốc cháy, chứng viêm khớp di truyền từ đời ông nội cô. Căn bệnh vẫn thường hành hạ cô nhưng giờ khi đã ở một mình, cô cho phép bản thân được di chuyển chậm đi; bất kể khi nào ở cùng các đồng nghiệp khác cô luôn cố gắng không lộ vẻ đau đớn. Cô sợ nếu cấp trên mà nghe ngóng được tình trạng của cô họ sẽ ép cô ngồi bàn giấy.
Mặc dù vậy sau mười lăm phút không thể tìm thêm được dấu hiệu nào của người vượt biên, cô bắt đầu trở lại chỗ chiếc Camaro. Nó là chiếc xe cuối cùng vẫn còn đỗ lại tại bờ biển lúc này. Cô đi một mình; viên cảnh sát đội ESU lúc trước đi cùng cô đã quyết định chọn một phương tiện an toàn hơn để quay về thành phố. Màn sương giờ đã loãng ra. Cách đó khoảng tám trăm mét, ở phía bên kia thị trấn, Sachs đã có thể nhận ra hai chiếc xe tải cứu hộ của hạt Suffolk và một chiếc Ford không biển báo gì nằm cạnh đó. Cô tin là nó thuộc về INS. Sachs ngồi phịch xuống ghế trước của chiếc Camaro, tìm được một mẩu giấy và bắt đầu ghi chú trên đó những gì cô quan sát được tại hiện trường để báo lại với Rhyme và đội ở nhà. Gió vẫn xô đẩy chiếc xe quá nhẹ và mưa tiếp tục rơi không ngớt trên lớp vỏ sắt của nó. Sachs vô tình ngước lên đúng lúc để trông thấy một cột nước biển cao tới ba mét bắn tung lên không khí và đập trúng một tảng đá đen chìa ra. Cô nheo mắt và dùng ống tay áo lau bớt hơi nước bên trong cửa kính của mình. Cái gì vậy nhỉ? Một con vật nào chăng? Một mảnh vỡ từ tàu Fuzhou Dragon? Không, cô bỗng nhận ra đó là một con người. Anh ta đang tuyệt vọng bám lấy tảng đá. Sachs giật lấy chiếc Motorola của mình, bấm sang tần số của đội cảnh sát địa phương và nói, “Đây là đội khám nghiệm hiện trường NYPD, Năm Tám Tám Năm gọi Đội cứu hộ hạt Suffolk ở bờ biển Easton. Các anh nghe được không?” “Nghe rõ, Năm Tám Tám Năm. Nói đi.”
“Tôi ở phía đông thị trấn. Có một nạn nhân trên biển. Tôi cần giúp.” “Được,” là câu trả lời, “chúng tôi lên đường đây. Hết.” Sachs bước ra khỏi ô tô và chạy xuống bãi biển. Cô trông thấy một con sóng lớn đã đẩy người đàn ông khỏi tảng đá và ném anh ta xuống nước. Anh ta cố bơi nhưng đang bị thương, có máu trên áo sơ mi của anh ta, cố lắm anh ta cũng chỉ giữ được đầu ở trên mặt nước, nhưng chỉ suýt soát. Anh ta bị ngụp một lần và vật lộn để nổi lên. “Ôi, cha mẹ ơi,” Sachs lẩm bẩm và quay lại nhìn phía sau, vừa đúng lúc một chiếc xe cứu hộ màu vàng đang lao đến từ phía bãi cát đằng xa. Người vượt biên kia kêu lên tắc nghẹn rồi trượt xuống dưới những con sóng. Không còn thời gian chờ dân chuyên nghiệp đến rồi. Cô đã học được nguyên tắc cơ bản của việc cứu người từ trường cảnh sát: “Vươn, ném, chèo rồi mới đi.” Điều đó có nghĩa là bạn phải gắng cứu người đang chết đuối từ trên bờ hoặc từ một chiếc thuyền trước rồi mới đến lượt chính mình bơi xuống nước. Chậc, ba lựa chọn đầu tiên giờ đã chẳng có nữa rồi. Vậy là cô nghĩ: Đi thôi. Lờ đi cơn đau buốt nơi hai đầu gối, cô chạy băng băng ra biển, vừa đi vừa lột bỏ khẩu súng và băng đạn. Đến chỗ mép nước cô tháo dây buộc giày, đá văng chúng đi và trong lúc vẫn giữ tầm nhìn tập trung vào nạn nhân đang vật lộn kia, cô lao vào dòng nước lạnh hung dữ.
CHƯƠNG TÁM Sonny Lý bò ra khỏi đám cây để nhìn rõ hơn người đàn bà tóc đỏ lúc cô ta lột giày và lao vào dòng nước dữ dội, bơi xa khỏi bờ về phía kẻ nào đó đang quẫy đạp trong nước biển. Lý không thể nhận ra đó là ai, hoặc John Tống hoặc là người chồng trẻ trong cặp đôi đã ngồi cạnh gã trên bè, nhưng dù thế nào thì gã cũng lập tức kéo sự chú ý trở lại chỗ người đàn bà kia. Gã vẫn theo dõi cô ta từ chỗ trốn sau bụi cây suốt từ lúc cô ta mới đến bãi biển khoảng một giờ trước. Cô ta không phải tuýp con gái gã thích. Gã chẳng quan tâm đến đàn bà mũi lõ, ít nhất là những cô mà gã vẫn gặp quanh Phúc Châu. Họ chỉ xuất hiện trong mấy hoàn cảnh: hoặc đang nằm trong vòng tay của một gã doanh nhân giàu có nào đó (cao ráo, xinh đẹp và luôn có cái nhìn khinh miệt với những người đàn ông Trung Quốc ngắm nghía họ) hoặc là những khách du lịch đi cùng chồng con (ăn mặc bô nhếch, bắn cái nhìn khinh miệt vào những người đàn ông khạc nhổ trên vỉa hè hoặc những người đi xe đạp không bao giờ nhường họ qua đường). Mặc dù vậy người đàn bà này lại làm gã tò mò. Đầu tiên gã không thể hiểu được cô ta làm gì ở đây; cô ta đến trong chiếc xe ô tô màu vàng sáng, đi theo là một người lính vác súng tự động. Rồi cô ta xoay lưng lại và gã thoáng thấy chữ NYPD trên áo gió của cô
nàng. Vậy ra cô ta là một cảnh sát Liên bang cơ đấy. Từ chỗ trốn an toàn bên kia đường, gã theo dõi cô ta tìm kiếm người mất tích và các bằng chứng. Gã nghĩ cô ta thật khêu gợi, bất chấp cái sở thích thiên về những người đàn bà Trung Hoa lặng lẽ và cao sang của gã. Lại còn bộ tóc nữa! Màu đẹp làm sao! Nó làm gã muốn tặng cho cô ta cái biệt danh “Hồng” phát âm là hoankseh, có nghĩa là “đỏ” trong tiếng Trung Quốc. Nhìn lên đầu đường, Lý trông thấy một chiếc xe tải cứu thương màu vàng đang tăng tốc về phía họ. Ngay khi nó rẽ vào một chỗ đỗ xe chật và dừng hẳn, gã đã bò ra rìa đường cái. Tất nhiên vẫn có khả năng gã sẽ bị ai trông thấy, nhưng giờ gã buộc phải hành động trước khi cô ta trở lại. Gã chờ đến khi mấy nhân viên cứu thương mải tập trung vào Hồng rồi lồm cồm bò qua đường tới chỗ chiếc xe vàng. Nó là một chiếc xe đời cũ, kiểu mà bạn vẫn bắt gặp trên các chương trình truyền hình của Mỹ như Kojak và Hill Street Blues. Gã không định ăn cắp cái xe (hầu hết cảnh sát Liên bang và lính đã đi khỏi nhưng vẫn còn đủ người ở gần đó để đuổi theo và bắt gã - đặc biệt là khi gã lại ngồi sau tay lái của một chiếc xe nổi bần bật như lòng đỏ trứng gà). Không, ngay lúc này gã chỉ muốn một khẩu súng và ít tiền. Gã mở cửa ghế phụ của chiếc xe màu vàng, lẻn vào trong và bắt đầu lục lọi hộc để đồ. Không có súng. Gã bực tức nghĩ đến khẩu Tokarev đang nằm dưới đáy đại dương của mình. Cũng chẳng có thuốc lá. Quỷ tha ma bắt cô ta... Rồi gã lục ví cô ta và tìm được khoảng năm mươi đô-la xanh. Lý nhét túi chỗ tiền mặt và liếc qua một tờ giấy cô ta đang ghi chép dở. Tiếng Anh nghe nói của gã thì tốt nhờ vào những bộ phim Mỹ và chương trình Follow Me trên đài
Bắc Kinh nhưng kĩ năng đọc của gã thì dở tệ (một chuyện có vẻ không hề công bằng khi nghĩ đến việc tiếng Anh chỉ có 25 chữ cái còn tiếng Trung thì có cả bốn chục ngàn chữ). Sau khi vật lộn một hồi thì gã nhận ra cái tên thật của Quỷ, Kwan Ang, được viết bằng tiếng Anh và cũng nhận ra vài chữ khác nữa. Gã gập tờ giấy và nhét nó vào túi rồi vứt những tờ còn lại ra ngoài đất ở chỗ cửa tài xế đang hé mở, để nhìn có vẻ như chúng đã bị gió thổi bay. Một chiếc xe khác đang tới, một chiếc sedan màu đen mà Lý ngửi ngay ra mùi là xe của chính quyền. Gã cúi thấp và mò trở lại đường cái. Một lần nữa lại trốn trong bụi rậm, gã liếc ra ngoài biển động, quan sát Hồng có vẻ như đang vật lộn trong đại dương cuộn sóng chẳng khác gì chính kẻ sắp chìm kia. Gã cảm thấy tiêng tiếc là một người đàn bà đẹp như vậy lại đang gặp nguy hiểm. Nhưng đó chẳng phải là mối quan tâm thật sự của gã; việc tìm được Quỷ và sống sót mới là những ưu tiên hàng đầu lúc này. Nỗ lực bơi trong những con sóng dập dềnh để tới được chỗ người vượt biên đang chết đuối đã gần làm Amelia Sachs kiệt sức. Cô thấy mình phải đạp chân hết mức mới giữ được cho cả hai nổi lên mặt nước. Đầu gối và khớp hông của cô đang rên lên phản đối. Người vượt biên nọ càng chẳng giúp ích gì hết. Anh ta có khổ người trung bình và gày gò nên chẳng có mấy mỡ để mà nổi lên. Anh ta chỉ đạp chân yếu ớt và cánh tay trái đã vô dụng, đó là hệ quả của một phát đạn bắn vào ngực. Vừa hớp hơi vừa nhô chỗ nước biển mặn chát cứ cố len vào đầy miệng vào mũi cô, Sachs chiến đấu để bơi vào bờ. Nước làm mắt cô cay xè và cản tầm nhìn nhưng cô cũng thấy được ở bãi cát gần
cái bè hỏng là hai nhân viên y tế với một cái cáng và một bình ô-xy lớn màu xanh, họ đang ra sức ra hiệu cho cô bơi về phía họ. Cảm ơn nhé, các chàng trai... Tôi đang cố đây. Cô ráng rẽ về phía họ nhưng lực kéo quả thực rất mạnh. Cô liếc lại chỗ tảng đá mà người vượt biên này đã cố bám vào khi nãy và thấy rằng bất chấp những nỗ lực vượt bậc của cô, họ chỉ mới bơi được khoảng ba mét. Đạp chân nữa đi. Mạnh lên! Cô tự nhẩm lại trong đầu câu thần chú của mình: Khi ta chạy thì chúng không thể bắt được ta... Khoảng gần ba mét nữa. Nhưng cuối cùng Sachs cũng phải dừng lại để lấy hơi, cô buồn bã nhìn dòng nước dưới bề mặt đang kéo họ trở lại biển cả. Cố lên, ra khỏi đây đi... Người vượt biên vô danh lúc này đã gần mất ý thức, anh ta không ngừng kéo cô xuống. Sachs đạp mạnh hơn. Cô bị chuột rút ở bắp chân tới mức phải kêu lên và bị chìm rất nhanh. Dòng nước xám chứa bùn, tảo biển và cát nhanh chóng nuốt chửng cô. Một bàn tay vẫn nắm lấy áo của người vượt biên, tay kia cô dùng để đấm vào bắp chân mình hòng chấm dứt cơn co rút. Cô vật lộn để giữ nín thở lâu nhất có thể. Ôi Lincoln! Cô nghĩ. Chìm xuống... Chìm sâu hơn vào dòng nước xám lành lạnh. Rồi: Chúa ơi! Cái gì đấy? Một con cá nhồng, cá mập hay con lươn màu đen... bắn ra khỏi mặt nước mù sương và quấn quanh ngực cô. Theo bản năng cô vươn tay tìm con dao lưỡi gập vẫn giữ ở túi quần sau nhưng tay cô
đã bị con cá kinh khủng kia buộc chặt vào người. Nó kéo cô lên trên và chỉ vài giây sau cô đã nổi lên mặt nước, hít lấy hít để không khí ngọt ngào vào hai buồng phổi. Cô nhìn xuống. Con cá hóa ra là cánh tay của một người đàn ông mặc bộ áo bơi đen tuyền. Người thợ lặn của Đội giải cứu hạt Suffolk nhổ đầu ống thở của bình khí nén ra và nói. “Được rồi, quý cô, tôi đỡ được cô rồi. Không sao đâu.” Người thợ lặn thứ hai đang ôm nạn nhân kia, cố giữ cái đầu gật gù của anh ta lên trên mặt nước. “Chuột rút,” Sachs thở hổn hển. “Tôi không cử động chân được. Đau quá.” Anh ta thò một tay xuống nước, duỗi thẳng chân cô rồi ấn các đầu ngón chân cái vào người cô để duỗi những cơ bắp ở bắp chân. Một lát sau cơn đau biến đi. Cô gật đầu. “Đừng đạp chân nữa. Cứ thả lỏng. Tôi sẽ đưa cô vào.” Anh ta bắt đầu kéo theo cô và cô ngửa đầu ra sau, tập trung vào việc hít thở. Cặp chân đầy sức mạnh kết hợp với hai chân vịt của anh ta nhanh chóng đưa họ về phía bờ biển. Anh ta nói. “Lao ra ngoài như thế là cô dũng cảm lắm đấy. Hầu hết mọi người sẽ chỉ đứng nhìn anh ta chết thôi.” Họ bơi trong dòng nước lạnh một lúc lâu không tưởng. Cuối cùng Sachs cũng cảm nhận được lớp sỏi dưới chân. Cô lảo đảo bước lên bờ và nhận lấy tấm chăn từ một trong những nhân viên y tế. Sau khi lấy lại hơi thở cô đi đến chỗ người vượt biên kia. Anh ta đang nằm trên cáng, một chiếc mặt nạ thở úp lên mặt. Mắt anh ta vẫn hoang mang nhưng đã tỉnh lại. Áo sơ mi của anh ta mở toang
và bác sĩ đang lau rửa một vết thương còn rỉ máu bằng thuốc sát trùng và băng gạc. Sachs cố gắng phủi cát khỏi bàn chân và bắp chân hết mức có thể rồi đi giày lại và đeo thắt lưng súng lên người. “Anh ta thế nào rồi?” “Vết thương không tệ lắm. Xạ thủ bắn trúng ngực anh ta nhưng lại từ một góc nghiêng. Nhưng chúng ta sẽ phải đề phòng hiện tượng sưng phổi và kiệt sức.” “Tôi hỏi anh ta vài câu có được không?” “Giờ chỉ hỏi tối thiểu thôi nhé,” bác sĩ cấp cứu đầu tiên nói. “Anh ta cần ô-xy và cần được nghỉ ngơi.” “Tên anh là gì?” Sachs hỏi người vượt biên. Anh ta nhấc mặt nạ thở ra. “John Tống.” “Tôi là Amelia Sachs, sở cảnh sát Thành phố New York.” Cô cho anh ta thấy phù hiệu và thẻ nhân viên của mình, đúng như thủ tục. Cô hỏi. “Có chuyện gì vậy?” Người đàn ông nhấc mặt nạ lên và nói. “Tôi bị văng khỏi bè của chúng tôi. Xà thủ trên con tàu đó, chúng tôi gọi hắn là Quỷ, hắn trông thấy tôi và tới sát mép nước. Hắn bắn tôi nhưng trượt. Tôi lặn xuống nhưng phải trồi lên để thở. Hắn chờ tôi. Hắn bắn lần thứ hai và trúng vào tôi. Tôi giả vờ chết và khi nhìn lại thì thấy hắn chui vào một chiếc xe màu đỏ và biến đi. Tôi đã cố bơi vào bờ nhưng không thể được. Tôi đành bám vào mấy tảng đá kia và chờ.” Sachs quan sát người đàn ông. Anh ta đẹp trai và có vẻ khỏe mạnh. Gần đây cô mới xem một chương trình đặc biệt về Trung Quốc và đã biết rằng không giống người Mỹ - những người chỉ thi
thoảng mới tập thể dục, thường là chỉ để sống ảo - rất nhiều người Trung Quốc tập tành suốt cả đời. Người đàn ông hỏi, “Thế còn...” Anh ta lại ho. Cơn co rút trở nên mạnh hơn. Nhân viên y tế để Tống bật ho ra hết nước một lát. Khi Tống đã ngừng lại, anh ta quỳ xuống và đặt lại mặt nạ thở cho Tống. “Xin lỗi cô, nhưng anh ta thực sự cần hít thở ngay lúc này.” Nhưng Tống đã lại nhấc mặt nạ lên. “Thế còn những người khác? Họ có an toàn không?” Quy trình của NYPD không cho phép chia sẻ thông tin với nhân chứng nhưng khi trông thấy nỗi lo lắng trong mắt anh ta, cô đã nói, “Tôi rất tiếc. Đã có hai người chết.” Anh ta nhắm mắt và bàn tay phải đặt lên lá bùa hộ mạng bằng đá mà anh ta đeo bằng một sợi dây da buộc quanh cổ. “Còn bao nhiêu người trên bè?” Cô hỏi. Anh ta nghĩ ngợi một lát. “Tất cả là mười bốn người. Rồi anh ta hỏi. “Hắn có thoát được không? Quỷ ấy?” “Chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để tìm hắn.” Một lần nữa mặt Tống tràn đầy đau khổ và anh ta lại bóp chặt lá bùa. Nhân viên y tế đưa cho cô ví của người nhập cư này. Cô mở nó ra. Hầu hết nội dung bên trong đã bị mủn ra vì nước biển, hơn nữa chúng toàn bằng tiếng Trung Quốc. Chỉ có một tấm thẻ còn đọc được là có chữ tiếng Anh. Nó giới thiệu anh ta là Bác sĩ Tống Kai. “Kai? Đó là tên anh à?” Anh ta gật đầu. “Nhưng tôi chủ yếu dùng tên John.” “Anh là bác sĩ à?”
“Vâng.” “Bác sĩ y khoa?” Anh ta lại gật. Sachs nhìn vào bức ảnh hai đứa trẻ, một con trai và một con gái. Cô bỗng thấy kinh hoảng khi nghĩ đến chuyện chúng đã ở trên con tàu kia. “Còn con...” Giọng cô lạc đi. Tống hiểu ngay. “Con tôi ư? Chúng ở lại nhà ở Phúc Kiến. Chúng đang sống với bố mẹ tôi.” Nhân viên y tế vẫn đang đứng gần bệnh nhân của mình, anh ta không vui vì nạn nhân cứ nhấc mặt nạ thở lên. Nhưng Sachs cũng có việc cần làm. “Bác sĩ Tống, anh có biết tí gì về chỗ có thể Quỷ đang đến không? Hắn có nhà hay căn hộ nào ở nước tôi không? Một công ty? Hoặc bạn bè gì đó?” “Không. Hắn không bao giờ nói chuyện với chúng tôi. Hắn chẳng bao giờ chung đụng gì với chúng tôi hết. Hắn đối xử với chúng tôi như lũ súc vật.” “Thế còn những người vượt biên khác? Anh có biết họ có thể đi đâu không?” Tống lắc đầu. “Không, tôi rất tiếc. Chúng tôi đang đi đến những ngôi nhà ở đâu đó tại New York này nhưng chúng không bao giờ kể với chúng tôi là ở đâu.” Mắt anh ta lang thang về phía biển. “Chúng tôi đã tưởng là đội Tuần tra duyên hải dùng đại bác bắn chúng tôi. Nhưng rồi chúng tôi nhận ra chính hắn đã đánh đắm tàu.” Giọng anh tỏ ra kinh ngạc. “Hắn khóa kín căn hầm của chúng tôi rồi cho tàu nổ tung. Với tất cả mọi người còn trên đó.”
Một người đàn ông mặc vest, đó là một đặc vụ INS mà Sachs nhớ là đã gặp ở Cảng Jefferson, bước ra từ một chiếc ô tô đen vừa mới tới chỗ xe cứu thương trên bãi cát. Ông ta khoác chiếc áo gió vào và tiến về phía họ. Sachs đưa cho ông ta chiếc ví của Tống. Ông ta đọc một lượt và cúi xuống. “Bác sĩ Tống, tôi là người của Sở nhập cư và di trú Hoa Kỳ. Anh có hộ chiếu và thị thực nhập cảnh còn hiệu lực không?” Sachs nghĩ câu hỏi này thật ngớ ngẩn, nếu không muốn nói là trêu ngươi, nhưng cô cho đó là thủ tục bắt buộc và cần phải được thực thi. “Không, thưa ông.” “Vậy tôi e rằng chúng tôi sẽ phải bắt anh vì đã xâm nhập lãnh thổ Hoa Kỳ bất hợp pháp.” “Tôi sẽ xin tị nạn.” “Cũng được,” đặc vụ nói một cách mệt mỏi. “Nhưng chúng tôi sẽ vẫn phải bắt giam anh cho đến khi diễn ra phiên điều trần.” “Tôi hiểu,” Tống nói. Đặc vụ hỏi nhân viên y tế, “Anh ta thế nào?” “Sẽ ổn. Nhưng chúng tôi cần đưa anh ta vào một trung tâm điều trị chấn thương. Anh ta sẽ bị thụ lý ở đâu?” Sachs chen ngang để hỏi đặc vụ INS. “Anh ta có thể tới trại giam ở Manhattan của các ông không? Anh ta là một nhân chứng trong vụ án này và chúng tôi có một lực lượng đặc nhiệm đang làm việc ở đó.” Đặc vụ INS nhún vai. “Với tôi không thành vấn đề. Tôi sẽ làm các thủ tục giấy tờ.”
Sachs đổi chân nọ với chân kia và nhăn nhó vì một cơn đau buốt xuyên từ đầu gối lên đến hông cô. Vẫn đang lơ đãng nắm chặt lá bùa quanh cổ, Tống quan sát cô và nói bằng giọng đầy cảm kích, “Cám ơn cô, thưa cô.” “Vì cái gì?” “Cô đã cứu mạng tôi.” Cô gật đầu và nhìn vào cặp mắt đen của anh ta một lát. Rồi nhân viên y tế đặt lại mặt nạ thở cho anh ta. Một loáng màu trắng ở gần đó bắt mắt cô và Amelia Sachs nhìn lên để thấy là mình đã để cửa xe Camaro mở toang. Gió đã thổi bay đám giấy ghi chép của cô về hiện trường vụ án ra ngoài biển. Cô nhăn nhó đi bộ trở lại chỗ ô tô.
II MỸ QUỐC Thứ Ba, giờ Dần, 8 giờ sáng đến giờ Dậu, 6 giờ 30 chiều. Người chơi nào tính trước được xa hơn - chính là người có thể thấu suốt những nước cờ của đối thủ, đoán được kế hoạch của họ và phản đòn, cũng chính là người đã đoán trước mọi cách phòng vệ trước khi tấn công đối thủ - sẽ thắng cả ván cờ. MÔN CỜ VÂY