Thám Tử Galileo Ra Mắt

CHƯƠNG 2

CHƯƠNG 2

CHƯƠNG 2 HIỆN ẢNH 1 Vì giữ nguyên một tư thế quá lâu, vừa quay đầu sang hai bên, cổ cậu đã kêu lục cục. Fujimoto Takao nhìn chiếc phao bất động trên mặt nước thêm một lúc rồi trừng mắt với Yamabe Akihiko đang vươn vai bên cạnh. “Này, Yamabe, đúng là cậu bị lừa rồi. Chỗ này làm gì có cá chép.” Yamabe nhìn mặt nước không hề thay đổi từ nãy đến giờ, nghiêng đầu khó hiểu. “Lạ thật. Rõ ràng tớ đã thấy con cá chép được câu ở đây trong bể nhà Saito mà.” “Thì nó được câu ở chỗ khác. Cậu bị Saito lừa rồi.”

“Thế à?” Yamabe vẫn nghiêng đầu. Hai đứa là bạn cùng lớp cấp hai, nhà lại gần nhau nên từ nhỏ đã chơi chung. Hơn nữa, cả hai đều chịu ảnh hưởng từ cha mình nên câu cá trở thành sở thích chung. Yamabe nghe Saito Koji, một bạn cùng khối, nói rằng ở công viên tự nhiên cách thị trấn chừng hai mươi phút đạp xe có một cái hồ tên Hồ Bầu, nơi có thể câu được cá chép. “Bịa. Chỗ đó làm gì có cá chép.” Đó là phản ứng đầu tiên của Fujimoto Takao. “Saito bảo trước kia có người nuôi cá chép ở đó. Có thể là cá còn sót lại hoặc con cháu của chúng, nói chung số lượng không ít. Bình thường khó thấy, nhưng đến mùa thu cá chép cần tích trữ năng lượng nên sẽ ăn rất khỏe. Chỉ cần chọn đúng chỗ là câu được.” Yamabe đã giải thích như vậy. Dù khó tin, chuyện ấy cũng không hoàn toàn vô lý. Hơn nữa, đã lâu hai đứa không đi câu, nên chúng hẹn nhau chủ nhật tới Hồ Bầu. Nhưng đúng như Fujimoto Takao dự đoán, đừng nói cá chép, ngay cả một con cá nhỏ cũng chẳng có. Ở một cái hồ thế này, dĩ nhiên chẳng thể câu được gì. Takao nhìn khung cảnh hoang phế xung quanh mà thở dài. Hồ rộng xấp xỉ bể bơi của trường, hơi dài, phần giữa thắt lại

giống quả bầu nên được gọi là Hồ Bầu. Cỏ dại mọc um tùm quanh hồ, nơi này lại không nằm trên tuyến đi bộ của công viên tự nhiên. Bởi vậy, ngay cả nhiều người dân địa phương cũng không biết đến cái hồ này. Nghe nói trước kia ở đây có bọ nước và bọ cánh cứng, nhưng nhìn quang cảnh hiện giờ thì khó mà tưởng tượng nổi. Đập vào mắt trước tiên là vô số rác như xốp, hộp nhựa nổi lềnh bềnh trên mặt nước, dường như được phủ bởi một lớp màng dầu xám. Ven hồ còn chất đầy phế liệu xây dựng và linh kiện máy móc bằng kim loại bị vứt bỏ. Với khách qua đường, đây chỉ là một bãi rác khổng lồ, đồng thời là nơi lý tưởng để những kẻ vô ý thức lén đổ đồ cồng kềnh. Fujimoto thu dây rồi xếp cần câu. “Ở đây chẳng câu được gì đâu. Về thôi.” “Quả thật không được à?” Yamabe có vẻ vẫn chưa cam lòng. “Có cá đâu mà câu. Đừng phí thời gian nữa. Thà về nhà chơi điện tử còn hơn ngồi đây câu mãi mà chẳng được con nào.” “Cũng phải.” “Đúng rồi, đi thôi.” Fujimoto thu dọn đồ câu rồi đứng dậy.

“Vậy tớ thật sự bị lừa sao?” “Chứ còn gì nữa.” Dù vậy, Yamabe vẫn lẩm bẩm nhìn mặt hồ. “Đồ ngốc!” Fujimoto mắng. Đúng lúc ấy— “Lạ thật,” Yamabe bỗng kêu lên. “Cái kia là gì?” “Gì cơ?” “Cái đó! Nhìn đi, thứ đang phát sáng trên mặt nước bên phải ấy.” Fujimoto nhìn theo hướng Yamabe chỉ. Một vật phẳng rộng khoảng ba mươi xentimét đang nổi trên mặt hồ, phản chiếu ánh nắng. “Chắc là cái nồi.” Fujimoto nói. “Loại nồi dùng nấu mì bán ở cửa hàng tiện lợi ấy. Chẳng có gì đâu.” “Thế à? Tớ thấy nó hơi kỳ lạ.” Yamabe đứng lên, phủi bùn dính ở mông quần bò rồi cầm cần câu đi dọc bờ hồ. Fujimoto miễn cưỡng theo sau. Cậu đoán Yamabe áy náy vì chính mình bị lừa mà còn kéo bạn đi cùng, nên mới cố ý nói ra một chuyện kỳ quặc. Yamabe dừng ở chỗ gần vật lạ nhất. Nó nổi cạnh một hộp sữa, cách bờ chừng hai mét. Yamabe dùng cần câu kéo nó lại gần. Đến khi có thể với tay chạm vào, Fujimoto cũng nhìn rõ.

“Cái gì thế này…” “Không giống cái nồi ở cửa hàng tiện lợi.” Yamabe vừa nói vừa nhặt vật lạ lên. 2 Nhìn bốn cô bé đang chuẩn bị biểu diễn trên sân khấu, Kusanagi bất giác mở to mắt. Nhìn thế nào cũng khó tin họ mới chỉ mười ba, mười bốn tuổi. Không phải đơn thuần tô son trát phấn đậm, mỗi người đều biết trang điểm sao cho phù hợp với đặc điểm của mình, tạo vẻ trưởng thành và nữ tính nhất. Quần áo cũng táo bạo, mà vóc dáng của các cô bé đã phát triển đủ để mặc kiểu hở hang ấy. Là cảnh sát, Kusanagi thầm nghĩ nếu bắt gặp họ giữa khu phố sầm uất, có lẽ anh cũng tưởng họ đã trưởng thành. Nhạc tiết tấu mạnh vang lên, các cô bé bắt đầu nhảy. Kusanagi lại sửng sốt trước động tác của họ, nhất thời quên mất đây là nhà thể chất của một trường cấp hai. “Bọn trẻ này đến trường để làm gì vậy?” Kusanagi hạ giọng hỏi chị gái Morishita Yuri ngồi bên cạnh. “Mức này chưa là gì đâu.” Chị anh vẫn nhìn sân khấu, không quay đầu. “Nghe nói còn có đứa quá hơn nhiều.”

Kusanagi không thể bình thản phụ họa “tệ thật”, chỉ biết liên tục lắc đầu. Tối qua, chị anh rủ em trai đến xem con gái biểu diễn trong lễ hội trường. Thật ra, chị muốn quay phim tiết mục của con nhưng không biết dùng máy quay, nên mới gọi Kusanagi đến giúp. Hôm nay là thứ bảy, nhưng anh rể của Kusanagi bất ngờ phải đi công tác. Vì thế Kusanagi mang máy quay cùng chị đến trường. Vừa bước vào nhà thể chất, trông thấy tấm biển ghi “Cuộc thi khiêu vũ”, anh đã giật mình. Nghe nói có biểu diễn trên sân khấu, anh cứ tưởng đó là kịch. “Này, đến lượt Misa rồi.” Yuri vỗ đầu gối em trai nhắc nhở. Kusanagi vội chĩa máy quay lên sân khấu. Sau lời giới thiệu của người dẫn chương trình, năm cô bé xuất hiện. Nhìn qua ống kính, Kusanagi lại há hốc miệng. Cả năm đều mặc sườn xám đỏ rực, đường xẻ cao đến tận đùi. Tiếng huýt sáo nổi lên khắp hội trường. “Con gái bây giờ đều như thế cả.” Yuri nói sau khi ra khỏi nhà thể chất. “Em hình dung được anh rể khổ sở thế nào rồi.” “Có vẻ ông ấy đã quen rồi. Trước kia hai cha con ngày nào cũng cãi nhau.”

“Em thật sự thông cảm với anh ấy.” Yuri cười khúc khích, dường như chẳng mấy bận tâm đến những phiền toái khi con gái bước vào tuổi mới lớn. “Chị đi tìm Misa. Ăn trưa cùng nhau nhé? Coi như cảm ơn em đã quay phim, chị mời. Nhưng chị chỉ đủ tiền mời quán gia đình gần đây thôi.” “Nghe được đấy.” “Vậy chờ ở đây nhé.” Kusanagi nhìn chị quay lại nhà thể chất. Anh chợt thấy trên võ đường kiếm đạo bên cạnh treo tấm biển “Bảo tàng Kỳ lạ”. Nghĩ vừa hay có thể giết thời gian, anh bước về phía lối vào. Đi ngang qua người trực quầy với vẻ mặt chán ngắt, Kusanagi vào trong và thấy đúng là toàn những thứ quái lạ. Một viên gạch mang nhãn “nung từ đất sân Koshien” có mấy lỗ tròn, lời thuyết minh ghi: “Nước mắt tiếc nuối của các đội thua trận thấm xuyên qua đất, tạo thành những lỗ này.” Bên cạnh là một tấm chăn rách không biết nhặt ở đâu, chú thích: “Thảm bay thần kỳ— đã nghỉ hưu vì vượt quá niên hạn bay.”

Kusanagi đang nghĩ “đúng là phí thời gian” thì dừng trước một món trưng bày treo trên tường. Đó là một khuôn mặt bằng thạch cao, bên dưới ghi “Mặt nạ tử thần của xác sống”. Khuôn mặt đàn ông nhắm mắt, giữa trán có một khối lồi giống nốt ruồi lớn. Không thể đoán chính xác tuổi, nhưng chắc chắn không phải gương mặt học sinh cấp hai. Chiếc mặt nạ quá chân thực. Kusanagi đoán nó không được tạc bằng tay mà được lấy khuôn mặt bằng cao su hoặc vật liệu tương tự, sau đó đổ thạch cao. Gần đây trên thị trường đã có loại cao su đông cứng chỉ trong vài phút. Nhưng dù vậy— Khi nhìn chiếc mặt nạ, trong lòng Kusanagi vẫn dâng lên một cảm giác khác thường. Sự bất an đó đến từ đâu? Anh suy nghĩ một lúc rồi lập tức hiểu ra. Anh là cảnh sát hình sự, lại làm tại Phòng Điều tra số 1 chuyên xử lý án mạng, nên đã nhìn thấy không ít thi thể. Người chết có một biểu cảm rất riêng, hoàn toàn khác với vẻ mặt của người sống khi nhắm mắt. Đó là kinh nghiệm Kusanagi rút ra từ công việc. Sự khác biệt không chỉ nằm ở sắc da hay độ bóng của da, mà là cảm giác tổng thể—như thể hai gương mặt thuộc về hai thế giới khác nhau.

Chiếc mặt nạ này tỏa ra hơi thở của thế giới người chết, Kusanagi nghĩ. Nhưng rồi anh lại thấy điều đó không thể xảy ra. Học sinh cấp hai không thể dùng một thi thể thật để làm ra chiếc mặt nạ thạch cao rợn người như vậy. Anh cố tự thuyết phục rằng tác phẩm chỉ tình cờ tạo được cảm giác ấy. Nếu không nghĩ vậy, anh không thể khiến mình bình tĩnh. Kusanagi lơ đãng xem nốt những món khác rồi đi về phía cửa ra, nhưng trong lòng vẫn không gạt được chiếc mặt nạ tử thần. Đúng lúc đó, hai phụ nữ khoảng ba mươi tuổi vượt qua anh, bước nhanh vào khu trưng bày. Dù có háo hức xem những món đồ mang gu kỳ quặc của học sinh cấp hai đến đâu, họ cũng quá vội vã. Kusanagi dừng lại quan sát. Hai người đi thẳng đến chiếc mặt nạ tử thần. Người mặc bộ vest nói: “Chính là cái này.” Người mặc váy liền không trả lời ngay, chỉ đứng bất động trước chiếc mặt nạ. Nhưng thần sắc của cô có gì đó không ổn. Có thể nhận ra điều đó qua gương mặt đang dần tái đi của người bạn chăm chú nhìn cô. Rồi

Kusanagi thấy đôi vai mảnh khảnh của người mặc váy khẽ run. “Đúng là anh ấy sao?” người mặc vest hỏi. Người mặc váy gập người xuống, khó nhọc bật thành tiếng: “Là anh tôi… không thể nhầm được.” Người phụ nữ mặc váy tên Kakimoto Ryoko, làm việc cho một công ty bảo hiểm ở Tokyo. Người mặc vest là Onoda Hiromi, giáo viên âm nhạc của trường, đồng thời là bạn Ryoko từ thời sinh viên. “Ban đầu cô Onoda nhìn thấy chiếc mặt nạ và cảm thấy nó giống ông Kakimoto Shinichi, đúng không?” Kusanagi kiểm tra ghi chép trong sổ. “Vâng.” Onoda Hiromi ngồi thẳng lưng, gật đầu. “Chồng tôi quen anh Kakimoto, từng chơi golf với nhau nhiều lần. Nghe nói gần đây anh ấy mất tích, tôi rất lo…” “Khi nhìn thấy mặt nạ, cô hẳn đã rất sốc.” Kusanagi dùng bút bi chỉ vào chiếc mặt nạ thạch cao trên bàn. “Vâng.” Onoda nuốt nước bọt. “Lúc đầu tôi nghĩ không thể nào. Nhưng nó giống quá, ngay cả vị trí nốt ruồi cũng y hệt. Tôi không còn cách nào khác ngoài báo cho cô ấy.” Cô nhìn Kakimoto Ryoko đang đau đớn bên cạnh.

“Cô thật sự cho rằng đây là anh trai mình?” Kusanagi hỏi Ryoko. “Vâng.” Cô đáp khẽ, hai mắt vẫn sưng đỏ. Kusanagi khoanh tay, nhìn chằm chằm chiếc mặt nạ rồi bất giác trầm ngâm. Họ đang ở một phòng tiếp khách trong trường. Kusanagi nhận thấy phản ứng của hai người trước chiếc mặt nạ có gì đó bất thường nên tiến lại hỏi. Khi nhận ra có điều kỳ lạ, anh đưa họ tới đây để tìm hiểu. Theo lời hai người, chiếc mặt nạ tử thần rất giống Kakimoto Shinichi, anh trai Ryoko đã mất tích vào mùa hè năm nay. Ngồi trên chiếc ghế sắt cách họ một đoạn là một người đàn ông trung niên nhỏ thó. Ông tên Hayashida, giáo viên hướng dẫn câu lạc bộ khoa học tự nhiên, đơn vị tổ chức “Bảo tàng Kỳ lạ”. “Thầy có nghe học sinh kể gì về chiếc mặt nạ này không?” Kusanagi chỉ vào mặt nạ. Thầy Hayashida lập tức ngồi thẳng người. “À, chuyện đó… tôi chưa từng nghe các em nói. Nội dung trưng bày tôi giao hoàn toàn cho học sinh, để tôn trọng tính tự chủ của các em.” Giọng ông nghe như đang thoái thác, có lẽ sợ bị liên lụy.

Có tiếng gõ cửa. Hayashida đứng dậy mở. “Đợi các em lâu rồi. Vào đi.” Ông thúc hai nam sinh bước vào. Con trai ở tuổi này

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 8

Đang tải bình luận...
CHƯƠNG 2 - Thám Tử Galileo Ra Mắt | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip