Thợ Săn Bóng Tối

phần mình, giới

phần mình, giới

phần mình, giới chức trách Ý đã cho bên Đức thấy sự hiệu quả trong công tác điều tra. Phó cảnh sát trưởng Moro đã nhận được rất nhiều lời tán thưởng và danh tiếng của anh ta nổi lên nhanh chóng. Tất cả đều mãn nguyện. Cho tới lúc này. Khi sự thật ngỡ ngàng được phơi bày, Sandra cởi bộ đồ bảo hộ và cất đồ nghề vào xe. Cách cô ít bước chân, phó cảnh sát trưởng Moro đang ngượng ngùng

đưa ra thông báo đầu tiên cho những tờ báo chính trong nước và quốc tế. Dưới ánh đèn phản chiếu khuôn mặt của anh ta trông còn tiều tụy hơn. Sau lưng anh ta là khu rừng nơi tìm thấy những cái xác. Trước mặt anh ta là một rừng micro. “Bernhard Jäger và Anabel Meyer.” Anh ta u sầu đọc thật chậm hai cái tên cho cánh nhà báo. “Hai mươi ba và mười chín tuổi.” “Họ chết thế nào?” Một phóng viên hỏi. Moro tìm kiếm khuôn mặt đó ở giữa đám đông nhưng vì bị ánh đèn flash làm chói mắt nên đành từ bỏ. “Có thể coi đây là cặp đôi nạn nhân thứ ba của con quái vật. Nhưng xét thấy họ mất tích đã được hai năm và thi thể họ đang trong tình trạng phân hủy cao, chúng tôi cho rằng họ là những nạn nhân đầu tiên.” Trong hai năm, tên sát nhân đã sống ung dung và giờ hắn đã trở thành con quái vật. Linh mục ân giải đã nói rằng ai đó đang bảo vệ hắn, Sandra nhớ lại. Đó là ai và tại sao hắn lại làm một việc như thế? Có lẽ ý nghĩ về việc có kẻ yêu quý tên sát nhân hơn cả hai thanh niên vô tội làm cô thấy tức giận nhiều nhất. Astolfi cũng tham gia vào cuộc bảo vệ vô lý đó, và cô đã lật mặt ông ta. Thanh tra Crespi đã đảm bảo với cô rằng ông ta không liên quan và đó chỉ là một hành động điên rồ. Nhưng Marcus đã loại bỏ khả năng đó. Vì vậy giờ Sandra chỉ tin vào mình anh. Cô muốn nhìn thẳng vào mặt những kẻ tòng phạm khác dù cho chúng là ai. Cô muốn chúng biết rằng có người biết âm mưu của chúng. Vì cảnh sát không có ý định điều tra về ông bác sĩ pháp y cũng như tìm hiểu lý do

ông ta tự tử, Sandra vẫn muốn đưa ra tín hiệu. Cô chắc chắn linh mục ân giải sẽ tán thành. Ý tưởng chợt nảy sinh khi cô quan sát thanh tra Crespi đi ra khỏi khu rừng. Vì là người mộ đạo, ông ta đã làm dấu thánh. Cuộc sống chỉ là một chuỗi dài những lần đầu tiên, Sandra tự nhủ. Và sau một thời gian quá dài trốn tránh sau hàng rào bảo vệ của chiếc máy ảnh, có lẽ đã đến thời điểm cô phải mạo hiểm. Vậy là, tranh thủ những chiếc máy quay đang tập trung vào phó cảnh sát trưởng Moro, cô giơ bàn tay phải, và như đã từng thấy Astolfi trong rừng thông ở Ostia, cô làm dấu thánh ngược.

PHẦN BA Kẻ thái nhân cách bác học

Bài huấn luyện thứ tư của linh mục ân giải diễn ra trong nhà thờ lớn nhất thế giới. Nhà thờ Thánh Pietro không có đối thủ. Vương cung thánh đường này được Bramante xây dựng sau khi nhà thờ trước kia bị phá hủy. Nếu tính cả hàng cổng vòm, nó dài 211 mét. Mái vòm, tính đến đỉnh của cây thánh giá dựng phía trên, cao tới 132 mét. Ở bên trong, mỗi tác phẩm, công trình hay cột trụ, hình điêu khắc hay hốc tường đều có sự tích. Lần đầu tiên khi Clemente dẫn Marcus tới nhà thờ rộng mênh mông đó, những tín đồ đang hòa cùng dòng khách du lịch trong một ngày thứ Năm oi ả của tháng Sáu. Nhưng thật khó để phân biệt ai ở đó để cầu nguyện, ai chỉ đơn giản viếng thăm. Khác với những địa điểm thờ cúng, ở đó không toát lên vẻ thần bí. Trên thực tế, biểu tượng quan trọng nhất của Ki tô giáo tôn vinh trên hết quyền lực thế tục của những giáo hoàng mà theo dòng thời gian, đại diện cho tông đồ Pietro, lấy cớ thống trị những thứ thuộc về tâm linh, nhưng thật ra lại chạy theo vật chất như bất cứ vương triều nào khác. Thời đại của những vị vua giáo hoàng giờ đã qua, nhưng lăng tẩm

của những giáo hoàng hậu duệ vẫn còn minh chứng cho điều đó. Dường như họ cạnh tranh lẫn nhau cốt để lại một dấu ấn huy hoàng cho giai đoạn của chính mình, với sự hậu thuẫn của những nghệ sĩ vĩ đại. Chính vì lý do ấy, dù tất cả không mấy liên quan đến Chúa Trời, Marcus cũng không thấy cần phải kết tội sự hợm hĩnh của những con người đó. Trong lòng đất của Roma ẩn chứa nhiều điều thú vị. Bên cạnh những tàn tích của Thành phố Vĩnh hằng đã từng thống trị thế giới bằng nền văn minh của mình, cũng có rất nhiều hâm mộ, một vài trong số đó là những lăng mộ vào thời Cơ Đốc giáo. Phía trên một lăng mộ người ta đã xây dựng một vương cung thánh đường, chính là nơi họ đang đứng. Theo truyền thuyết, đó là lăng mộ chứa thi hài vị tông đồ yêu quý của Chúa. Nhưng chỉ đến năm 1939, Giáo hoàng Pio XII mới ra lệnh đào xới để xác minh xem dưới đó liệu có đúng là thi hài của Thánh Pietro. Và thế là, khá sâu trong lòng đất, người ta phát hiện ra một bức tường đỏ với một gian thờ nhỏ bên trên có khắc ký tự bằng tiếng Hy Lạp cổ. ΠΕΤΡ (ΟΣ) ΕΝΙ “Pietro ở đây.” Nhưng hầm mộ dưới gian thờ đó lại trống rỗng. Phải nhiều năm sau phát hiện đó, mới có người nhớ ra rằng những thứ được tình cờ tìm thấy gần chỗ khai quật đang được cất giữ trong một phòng chứa đồ. Chúng được đặt trong một hộp đựng giày rất đỗi bình thường.

Bên trong hộp là xương người và xương thú, những mẩu vải, đất, thạch cao đỏ và tiền xu thời Trung cổ. Giới chuyên gia đã xác định được rằng các mẩu xương đó là của một người đàn ông khá to cao, vạm vỡ, khoảng sáu mươi, bảy mươi tuổi. Những mẩu vải là của một mảnh vải màu tía được dệt bằng chỉ vàng. Miếng thạch cao là của bức tường màu đỏ nơi có gian thờ và đất thì đúng là của nơi chôn cất. Những đồng tiền thời Trung cổ thì có vẻ do lũ chuột tha tới, xương của chúng được tìm thấy cùng xương của người chết. “Nghe cứ như truyện trinh thám vậy.” Clemente khẳng định sau khi kể cho Marcus nghe câu chuyện. “Nhưng chúng ta không bao giờ biết liệu người đàn ông đó có thực sự là Pietro Tông đồ hay không. Ông ta có thể là một gã Pietro bất kỳ nào đó, thậm chí là một kẻ bất lương hay trác táng.” Cậu ta nhìn ra xung quanh. “Và mỗi năm có hàng ngàn người quỳ gối trên hầm mộ của ông ấy và cầu nguyện. Cầu xin ông ấy.” Nhưng Marcus biết rằng có một ý nghĩa thực tế ẩn chứa trong câu chuyện của cậu bạn. “Nhưng vấn đề lại nằm ở chỗ khác: Con người như thế nào? Vì không thể biết một người thực sự là ai, chúng ta thường đánh giá anh ta qua những gì anh ta làm. Cái tốt và cái ác là tiêu chuẩn so sánh của chúng ta. Nhưng liệu đã đủ chưa?” Rồi Clemente đột nhiên trở nên nghiêm nghị. “Đã đến lúc anh được biết kho dữ liệu tội phạm lớn nhất trong lịch sử.” Thiên Chúa giáo là tôn giáo duy nhất thực hiện nghi lễ xưng tội: giáo dân

kể lại những tội lỗi của mình cho thầy tu để nhận lại sự tha thứ. Nhưng đôi khi tội lỗi trầm trọng đến mức người này không thể giải tội. Đó là trường hợp của những tội trọng, nghĩa là liên quan đến một việc nghiêm trọng và được thực hiện với nhận thức đầy đủ và chủ tâm đồng ý. Tội trọng có thể là tội giết người hoặc thậm chí là tội phản bội lại Giáo hội và đức tin. Trong những trường hợp đó, thầy tu sẽ chép lại lời xưng tội và chuyển nó lên những vị chức sắc cao hơn: một hội đồng giám mục cấp cao sẽ được triệu họp ở Roma để phán xử những tội lỗi này. Tòa án Linh hồn. Nó được thành lập vào thế kỷ 12, mang tên Tòa Ân Giải Tối Cao. Chuyện xảy ra khi có một lượng người hành hương đột biến tới Thành phố Vĩnh hằng. Rất nhiều người trong số họ tìm kiếm ơn xá giải tội lỗi cho mình. Vào thời đó, có những kiểm duyệt dành riêng cho Đức Giáo hoàng cũng như những miễn trừ và ân huệ mà chỉ có người lãnh đạo tối cao của Giáo hội mới có thể ban tặng. Nhưng với Giáo hoàng, đó là một nhiệm vụ quá lớn. Vì thế ngài bắt đầu ủy thác cho một vài hồng y, những người này sau đó đã lập nên giáo đoàn ân giải. Về nguyên tắc, một khi tòa án ra phán quyết, những bản ghi lời xưng tội sẽ bị thiêu hủy. Nhưng chỉ vài năm sau, các linh mục ân giải quyết định xây dựng một kho dữ liệu bí mật… “Và công trình của họ không bao giờ ngưng nghỉ.” Clemente kết luận. “Gần một nghìn năm nay, nơi đó lưu trữ những tội lỗi tồi tệ nhất của nhân loại. Đôi lúc đó là những tội ác mà chưa ai từng được biết. Nó

không chỉ là một kho dữ liệu đơn thuần như của cảnh sát, mà là kho lưu trữ lớn nhất và cập nhật nhất hiện có về tội ác”. Nhưng Marcus vẫn chưa hiểu điều này thì liên quan gì đến anh. “Anh sẽ nghiên cứu Kho dữ liệu Tội ác. Tôi sẽ cung cấp cho anh những vụ án cần điều tra và anh sẽ thực hiện công việc đó. Cuối cùng anh sẽ trở thành một profiler hay nhà tội phạm học. Như anh đã từng thế, trước khi mất trí nhớ.” “Tại sao?” “Vì ngay sau đó anh sẽ áp dụng những kiến thức của mình vào thế giới thực tại.” Đó chính là điểm then chốt của việc huấn luyện. “Cái ác có thể là bất cứ thứ gì, nhưng thường chúng ta không thể nhìn ra nó.” Clemente bổ sung. “Những điều bất thường là dấu hiệu về sự tồn tại của nó mà khó có thể nhận thấy. Khác so với người thường, anh có thể nhận ra chúng. Marcus, hãy nhớ rằng: Cái ác không phải là một ý niệm trừu tượng. Cái ác là một không gian.”

1 Phòng bệnh chìm đắm trong một không gian tranh tối tranh sáng màu xanh lá. Thứ ánh sáng đó được tạo ra bởi những chiếc đèn nhỏ của các thiết bị y tế. Trong không gian, người ta có thể nghe thấy tiếng piston của máy thở tự động nối với khí quản của cô gái đang nằm trên giường bệnh. Diana Delgaudio. Miệng há to, một dòng nước miếng đang chảy xuống cằm. Tóc chải lệch, trông cô như thể một đứa bé lớn trước tuổi. Đôi mắt mở to với cái nhìn vô hồn. Có tiếng của hai nữ y tá ở ngoài hành lang đang tiến lại gần. Họ nói chuyện với nhau, một trong hai người có vấn đề với bạn trai. “Tôi đã nói với anh ta là tôi không quan tâm đến việc trước khi quen biết tôi anh ta thường đi chơi với bạn bè vào tối thứ Sáu. Nhưng giờ có tôi rồi, tôi phải được ưu tiên hàng đầu.” “Thế anh ta phản ứng thế nào?” cô gái kia hỏi, xem chừng có vẻ hứng thú. “Thoạt tiên anh ta gây sự một chút, nhưng rồi cũng nhượng bộ.” Họ

bước vào phòng với một xe chứa ga giường, ống thông dò để thực hiện quy trình vệ sinh bệnh nhân như thường lệ. Một người trong số họ bật đèn. “Cô ấy đã tỉnh,” người kia nói, khi chợt nhận ra cô gái đã mở mắt. Nhưng tỉnh không phải là từ thích hợp để miêu tả Diana, vì cô đang ở trạng thái thực vật. Truyền thông không nói về việc này vì tôn trọng gia đình, nhưng cũng vì họ không muốn gây thất vọng cho những người tin rằng việc cô gái sống sót là một điều kỳ diệu. Đó là lời bình luận duy nhất về cô ấy của hai nữ y tá, rồi họ lại quay sang nói chuyện của mình. “Vì thế, như tôi nói, tôi hiểu rằng với anh ta tôi phải luôn giữ thái độ này nếu tôi muốn có được thứ gì đó.” Cùng lúc đó, họ thay quần áo cho người bệnh, lau người cho cô ấy và thay một ống thông mới cho máy thở, đồng thời ghi lại mọi việc họ làm vào một tập hồ sơ. Để thay ga trải giường, họ tạm thời chuyển Diana sang một chiếc xe lăn. Một trong hai nữ y tá đặt vào người có ấy tập hồ sơ và cây bút, vì không biết xếp chúng ở đâu. Khi công việc hoàn tất, cô gái lại được đặt nằm thẳng. Hai y tá nhanh chóng rời phòng cùng chiếc xe đẩy, tiếp tục nói chuyện riêng. “Khoan đã,” một cô nói. “Tôi để quên tập hồ sơ.” Cô ta quay gót và lấy nó từ chiếc xe lăn. Thoạt tiên cô ta lơ đễnh ngó qua nó, nhưng rồi buộc phải nhìn nó kỹ hơn. Bất giác cô ta câm lặng vì bàng hoàng. Cô y tá quay lại nhìn cô gái nằm duỗi dài trên giường bệnh, bất động và vô hồn như mọi khi. Và rồi nhìn lại tờ giấy trước mặt đầy

hoài nghi. Trên trang giấy có một chữ viết với nét chữ trẻ con, mơ hồ. Một từ duy nhất. HỌ

2 Tivi trong quán ăn nhanh phát một kênh tin tức tổng hợp và giờ đã là lần thứ ba anh ta xem cùng một bản tin. Trong lúc dùng bữa anh ta đâu cần người bạn đồng hành đó, nhưng không thể làm gì khác. Dù cố ngó sang chỗ khác nhưng ngay khi cặp mắt vừa mới lơ đãng chúng lại tự động quay trở lại chỗ màn hình, dù không có tiếng. Leopoldo Strini nghĩ rằng đó là hệ quả của sự phụ thuộc vào công nghệ. Giờ đây con người không còn biết cách ở một mình. Và đó là suy nghĩ sâu sắc nhất của anh ta trong ngày. Cả những người khách khác trong quán cũng dán mắt vào màn hình – gia đình với con cái và nhân viên nghỉ trưa sớm. Những vụ án do con quái vật gây ra đã thu hút sự chú ý của tất cả cư dân trong thành phố. Và truyền thông thì đổ dồn vào đó. Chẳng hạn bây giờ, họ đang phát lại những hình ảnh của vụ tìm thấy hai bộ xương trong rừng. Và người dân vẫn không hề chán xem. Cho dù ai đó đổi kênh thì chương trình vẫn vậy. Giờ nó đã trở thành một nỗi ám ảnh tập thể. Như thể nhìn vào một bể cá. Phải rồi, một bể cá của nỗi kinh hoàng. Leopoldo Strini ngồi ở chỗ bàn quen thuộc phía cuối phòng. Kỹ thuật

viên của LAT đã nghiên cứu những bằng chứng mới cả đêm hôm qua nhưng vẫn chưa thể tìm ra một kết quả có ích. Anh ta đang mệt muốn xỉu và sau nửa thời gian làm việc buổi sáng, anh ta tự cho mình giải lao để ăn nhanh thứ gì đó trước khi lại bắt tay vào công việc. Một cái bánh mỳ kẹp thịt bê tẩm bột rán và rau củ ngâm dấm, một phần khoai tây chiên và một lon Sprite. Đúng lúc Strini đang định ngoạm một trong những miếng sandwich cuối cùng thì một người đàn ông ngồi vào bàn, ngay trước mặt anh ta, che luôn tầm nhìn cái tivi. “Chào cậu.” Ông ta mỉm cười thân thiện. Strini dừng lại phân vân trong giây lát. Anh ta chưa bao giờ gặp người đàn ông đó, cũng bởi vì anh ta không có bạn bè người châu Á. “Tôi có thể làm phiền cậu một lát được không?” “Tôi không mua gì đâu.” Strini nói với vẻ gay gắt. “À, không, tôi không ở đây để bán gì cho cậu”. Battista Erriaga trấn an anh ta. “Tôi muốn tặng cậu một món quà.” “Nghe này, tôi không quan tâm. Tôi chỉ muốn ăn cho xong thôi.” Erriaga bỏ mũ và phẩy phẩy tay trên đó như thể phủi bụi vô hình. Hắn ta muốn nói với tên ngốc kia rằng hắn ghét ở đó, vì hắn ghét những quán ăn nhanh nơi người ta ăn những đồ béo có hại cho bệnh cao huyết áp và cholesterol của hắn. Và hắn căm ghét cả bọn trẻ con hay những gia đình nhỏ thường ghé thăm những địa điểm đó – hắn không thể chịu nổi tiếng om sòm, những bàn tay đầy mỡ và sự hạnh phúc nực cười của những kẻ có con. Nhưng sau những gì xảy ra tối hôm trước, sau khi người ta tìm thấy

thi thể của hai thanh niên người Đức đi du lịch quá giang, hắn phải đưa ra một số quyết định dứt khoát vì kế hoạch của hắn đang trên bờ phá sản. Hắn phải tiết lộ điều này với tên đần độn ở trước mặt, thế nhưng hắn chỉ nói mỗi câu: “Leopoldo, hãy nghe tôi…” Nghe thấy ông ta gọi tên mình, Strini khựng lại với cái bánh lơ lửng trong không trung. “Chúng ta quen nhau sao?” “Tôi biết cậu.” Strini có một linh cảm: Anh không thích tình huống đó. “Ông muốn cái quái gì ở tôi?” Erriaga đặt mũ xuống bàn và khoanh tay. “Cậu là người phụ trách đội LAT, phòng thí nghiệm phân tích công nghệ của sở cảnh sát.” “Nghe này, nếu ông là phóng viên thì ông không may rồi. Tôi không thể tiết lộ bất cứ thông tin gì đâu.” “Dĩ nhiên,” Erriaga nói ngay, giả bộ thấu hiểu sự cứng rắn của anh ta. “Tôi biết các cậu có những nguyên tắc cực kỳ nghiêm ngặt, và tôi cũng biết là cậu sẽ không bao giờ vi phạm. Dù thế nào, tôi không phải là nhà báo và cậu sẽ nói cho tôi tất cả những điều cậu biết chỉ bởi vì cậu muốn thế.” Strini nhìn kẻ lạ mặt

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 41

Đang tải bình luận...