phần việc của hắn, hắn chấp nhận nó. Đó cũng là một sự khổ luyện. Và xét cho cùng mọi chuyện với hắn còn tốt đẹp hơn Giovanni và Astolfi. Tự thiêu sống hay tự nhảy từ cửa sổ là những cách tồi tệ nhất để kết thúc mọi thứ. “Cô sẽ nói với giáo sư là tôi đã làm rất tốt, phải không?” “Tôi sẽ nói với ông ấy.” Olga hứa. “Ngay cả khi tôi xin cô làm giúp tôi?” Olga lại gần và cầm lấy khẩu súng. “Tôi sẽ nói với Kropp là anh rất dũng cảm.” Fernando mỉm cười có vẻ mãn nguyện. Rồi cả hai cùng làm dấu thánh ngược, và Olga lùi lại sau vài bước.
Moro đã để lại xe trước đó khoảng một trăm mét và giờ đang trèo lên đồi. Anh đã lên gần tới đỉnh, trước một cái nhà xưởng bỏ hoang và nhìn thấy ánh sáng hé ra từ một ô cửa sổ bị vỡ. Anh lại gần và rút súng. Phía bên trong xưởng được chiếu sáng bởi đèn pin và đèn pha của chiếc station wagon. Anh đếm thấy có ba người. Một người trong số họ đang bị trói và nằm trong cốp xe. Chết tiệt, anh rủa thầm. Anh đã đoán đúng. Hai tên đó – gã cụt tay và ả tóc đỏ – đang làm chuyện gì đó. Trong khi cố nghe lỏm cuộc đối thoại của chúng nhưng bất thành, anh nhìn thấy cô ả cầm một khẩu súng trong tay và sau khi lùi lại vài bước, cô ta chĩa nó về phía gã đàn ông cụt tay. Anh không thể đợi được nữa. Huých khuỷu tay phá tung cửa sổ, ngay lập tức anh chĩa vũ khí về phía ả. “Dừng lại!” Ba người trong xưởng cùng đồng loạt quay mặt về phía Moro. “Quẳng súng đi!” Phó cảnh sát trưởng ra lệnh. Người phụ nữ lưỡng lự. “Quẳng đi, tôi nói rồi!” Tới lúc đó, cô ả mới tuân lệnh. Rồi cô ta giơ hai tay và Fernando làm theo ả với cánh tay duy nhất. “Cảnh sát đây. Chuyện gì đang diễn ra ở đây vậy?” “Ơn trời.” Fernando thốt lên. “Con khốn này đã bắt tôi trói anh bạn,” hắn chỉ vào Marcus. “Rồi cô ta bảo tôi lái tới đây. Cô ta muốn giết cả hai chúng tôi.” Linh mục ân giải chăm chú nhìn người đàn ông đang cầm súng. Đó là
phó cảnh sát trưởng Moro, anh đã nhận ra anh ta. Nhưng anh không thích nét hoài nghi trên gương mặt của anh ta khi nghe lời nói xạo của Fernando. Anh ta không có ý định tin hắn đấy chứ? “Anh đang lừa tôi.” Moro khẳng định. Gã giả cụt tay nhận ra câu chuyện của mình không có hiệu quả. Hắn phải giở trò khác. “Có một tên tòng phạm đang quanh quẩn ở đây. Hắn có thể quay lại vào bất cứ lúc nào.” Marcus hiểu trò bịp của hắn. Fernando muốn Moro bảo hắn cầm lấy khẩu súng của Olga và trông chừng ở trong lúc anh ta đi tìm tên tòng phạm. Nhưng thật may, anh cảnh sát không ngây thơ như thế. “Tôi không để anh cầm khẩu súng đó đâu,” anh ta nói. “Và cũng chẳng có tên tòng phạm nào khác. Tôi đã thấy các người tới đây và ngoại trừ người nằm trong cốp xe thì chỉ hai người mà thôi.” Nhưng Fernando không dễ bỏ cuộc. “Anh nói mình là cảnh sát, vậy anh sẽ phải mang theo còng tay. Tôi có một cái khác ở túi quần sau. Ả có thể còng tay tôi vào ô tô và tôi có thể làm việc tương tự với ả.” Vì bị đánh thuốc mê, Marcus không đủ tỉnh táo để hình dung ra Fernando nghĩ gì trong đầu. Nhưng anh vẫn cố đạp chân trong cốp xe. “Bạn anh làm sao vậy?” Moro hỏi. “Ả khốn đó đã đánh thuốc mê anh ấy.” Hắn chỉ vào cái hộp da màu đen đang ló ra một cái ống tiêm. “Cả lúc trước anh ấy cũng phản ứng như vậy, chỉ để buộc chúng tôi phải tấp vào lề đường. Tôi nghĩ đó là chứng co giật, anh ấy cần bác sĩ.” Marcus hy vọng Moro không rơi vào cái bẫy và tiếp tục vùng vẫy, đạp
chân mạnh nhất có thể. “Thôi được rồi. Cho tôi xem còng tay của anh.” Phó cảnh sát trưởng nói. Fernando từ từ quay lại. Và hắn ta cũng chậm rãi kéo áo khoác lên để lộ ra thứ nằm ở túi quần sau. “Được rồi, giờ lấy nó ra. Nhưng anh phải tự còng tay mình lại, tôi không muốn cô ta lại gần anh.” Gã cụt tay rút nó ra, rồi hắn tới ngồi ở gần bộ phận hãm xung của chiếc station wagon. Hắn khóa một đầu còng tay vào cái móc kéo của xe. Rồi gắng sức, dùng cả đến đầu gối để khóa cổ tay phải của mình. Ôi không, Marcus nhủ thầm. Đừng để hắn làm vậy! Trong lúc đó, từ cửa sổ, Moro ném chiếc còng tay của mình về phía người phụ nữ tóc đỏ. “Giờ đến lượt cô.” Cô ta nhặt nó và lại gần một cánh cửa xe để khóa nó vào tay cầm. Trong khi phó cảnh sát trưởng theo dõi xem ả có thực hiện như những gì đã ra lệnh không, Marcus thấy cánh tay trái của Fernando thò ra khỏi tay áo và tóm lấy khẩu súng ở dưới đất. Chỉ trong tích tắc. Phó cảnh sát trưởng nhận ra chuyển động đó vừa kịp lúc và anh nổ súng bắn trúng cổ họng của hắn ta. Nhưng phát súng không giết hắn ngay vì trong lúc ngã về phía sau, Fernando còn kịp bắn hai phát. Một trong hai viên đạn đã trúng vào mạng sườn của Moro làm anh lộn nhào. Ả tóc đỏ vẫn còn rảnh tay vội chạy xung quanh chiếc xe và trốn sau thân xe. Cô ta trèo được lên ghế lái và khởi động xe. Dù bị thương, Moro
vẫn bắn về phía ả nhưng không chặn được cô ta. Chiếc xe tông vào cánh cổng bằng thiếc và làm Marcus nảy ra ngoài từ cái cốp sau đang mở. Cú va chạm với nền đất làm anh đau tới mức bất tỉnh trong giây lát. Khi dần hồi phục, anh thấy Fernando nằm ngửa trên mặt đất trong một vũng máu tối màu – hắn đã chết. Moro thì vẫn còn sống, anh ta đang ngồi, một tay giữ súng còn tay kia cầm điện thoại. Anh ta ấn số. Nhưng anh ta đang ôm cánh tay với khẩu súng sát ngực và linh mục ân giải nhìn thấy máu đang chảy ồ ạt dọc theo mạng sườn. Viên đạn đã xuyên trúng động mạch dưới đòn, anh tự nhủ. Chỉ lát nữa thôi anh ấy sẽ chết. Moro đã gọi được số cấp cứu và đưa điện thoại lên tai. “Số hiệu 2724,” anh ta nói. “Phó cảnh sát trưởng Moro đây. Có một vụ nổ súng, có người bị thương. Hãy truy theo dấu cuộc gọi.” Chưa kịp kết thúc câu, anh ta bỗng đổ sập xuống, đánh rớt điện thoại. Cả linh mục ân giải và người cảnh sát nằm duỗi dài một bên, cách nhau ít mét. Và họ nhìn nhau chăm chăm. Dù có được cởi trói, Marcus cũng không thể làm gì được nữa cho anh ấy. Và cứ như vậy, họ ở đó nhìn nhau rất lâu, trong khi sự tĩnh mịch của thôn quê đang bao trùm còn ánh trăng chứng kiến như một khán giả thầm lặng. Moro hấp hối và linh mục ân giải cố truyền cho anh ấy sự can đảm qua ánh mắt. Họ không quen biết nhau, họ cũng chưa bao giờ nói chuyện với nhau nhưng họ là hai con người, và thế là đủ. Marcus đã chứng kiến khoảnh khắc tia sáng của sự sống rời bỏ ánh mắt đó. Mười lăm phút sau, tiếng còi hiệu cảnh sát vang khắp khu đồi. Người phụ nữ tóc đỏ đã tẩu thoát. Và tâm trí của linh mục ân giải giờ
hướng về Sandra và về việc có lẽ cô đang gặp nguy hiểm.
9 Trăng tròn đã xuống thấp ở phía chân trời, chỉ lát nữa nó sẽ đậu vào lòng của Colosseo. Vào lúc 4 giờ sáng, Sandra đi bộ băng qua phố Fori Imperiali, tới thẳng công trình được cả thế giới xem như biểu tượng của Roma. Nếu cô nhớ đúng những gì đã được học trước đây ở trường, thì Colosseo được khánh thành vào năm 80 sau Công nguyên, dài 188 mét, rộng 156 mét và cao 48 mét, với một khán đài có diện tích 86 × 54 mét. Có cả một bài đồng dao để giúp ghi nhớ những kích thước này, nhưng điều vẫn còn làm Sandra ấn tượng là nó có sức chứa tới 70.000 khán giả. Colosseo trên thực tế chỉ là biệt hiệu của nó. Tên thật của đấu trường này là Anfiteatro Flavio, nhưng nó được biết tới với cái tên hiện tại vì xưa kia ở ngay trước đấu trường có dựng một bức tượng khổng lồ bằng đồng của Hoàng đế Nerone. Ở bên trong đấu trường, vô số người và động vật đã bỏ mạng. Những người đầu tiên là gladiatori⦾ – bắt nguồn từ tên gọi của chính thanh kiếm gladio mà họ sử dụng để chiến đấu – họ giết lẫn nhau hoặc chiến đấu với những con mãnh thú được đưa tới Roma từ những nơi xa xôi nhất của Đế chế. Công chúng thích bạo lực và một vài gladiatori đã được tôn vinh như
những nhà vô địch thể thao thời hiện đại. Dĩ nhiên là cho đến khi họ vẫn còn sống. Theo thời gian, Colosseo trở thành một biểu tượng của những tín đồ theo đạo Thiên Chúa. Nó bắt nguồn từ một câu chuyện không có căn cứ lịch sử: những kẻ ngoại đạo đã dùng người Công giáo làm mồi cho sư tử. Truyền thuyết này có lẽ được dùng để làm họ ghi nhớ sâu sắc hơn những khổ đau thực tế mà họ đã gánh chịu nhằm bảo vệ đức tin của mình. Hằng năm, cứ vào đêm giữa thứ Năm và thứ Sáu trước ngày lễ Phục sinh, Đàng Thánh giá do Giáo hoàng dẫn đầu lại khởi hành từ Colosseo để tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Jesus. Nhưng Sandra cũng không thể không nghĩ tới truyền thuyết về dấu thánh ngược mà Max đã kể lại trước khi rời đi. “Colis Eum?” đó là câu hỏi. “Tôi sùng bái ác quỷ.” là câu trả lời. Người đã gửi cho cô những tin nhắn nặc danh để triệu cô tới đúng chỗ đó, vào giờ này buổi sáng, nếu không phải có khiếu hài hước thì hẳn vô cùng nghiêm túc. Và sau khi nhìn thấy Astolfi làm dấu thánh ngược trong rừng thông Ostia, Sandra nghiêng về giả thuyết thứ hai. Bến đỗ của tàu điện ngầm ở ngay đối diện công trình vẫn còn đóng và quảng trường nhỏ trước lối vào không một bóng người. Không có du khách xếp hàng cũng chẳng có những người cải trang thành centurini⦾ La Mã để kiếm tiền từ việc chụp ảnh cùng du khách. Chỉ có một vài đội công nhân vệ sinh môi trường ở đằng xa đang dọn dẹp khu vực để chuẩn bị đón một đoàn khách du lịch mới. Trong quang cảnh hoang vắng đó, Sandra chắc chắn sẽ nhận ra ngay người nào đã mời cô tới đây. Nhưng để cẩn thận, cô mang theo mình khẩu
súng công vụ mà cô chỉ sử dụng ở trường bắn của cảnh sát mỗi tháng một lần để duy trì thói quen bắn súng. Cô đợi gần hai mươi phút nhưng không thấy ai xuất hiện. Trong lúc đang băn khoăn không biết liệu mình có phải là nạn nhân của một trò đùa và liệu có nên bỏ đi không, cô quay lại và để ý thấy có một lối vào ở cánh cổng sắt bao quanh đấu trường. Hàng rào đã bị di chuyển. Để cho cô vào ư? Không thể nào, cô tự nhủ. Mình sẽ không bao giờ vào bên trong đó. Giá mà Marcus ở đó cùng cô. Sự hiện diện của anh giúp cô thêm can đảm. Cô không tới tận đây để quay lưng và bỏ đi, vậy nên phải tiến lên thôi. Sandra rút súng và giữ nó bên sườn, bước qua ngưỡng cửa. Cô bước vào hành lang nằm trong lộ trình tham quan. Cô đi theo những biển chỉ dẫn hướng đi. Cô cố gắng cảm nhận một âm thanh, một tiếng động hay thứ gì đó cho cô biết cô không ở một mình. Khi đang định bước lên một bậc thang bằng đá travertine dẫn thẳng tới cavea – xưa kia là khán đài – cô bỗng nghe thấy một giọng đàn ông. “Đừng sợ, sĩ quan Vega.” Nó phát ra từ tầng thấp hơn, ở chỗ những đường hầm đan xen nhau bên dưới, xung quanh khán đài. Sandra lưỡng lự. Cô không tự tin đi ra đó. Nhưng giọng nói nài nỉ: “Hãy suy nghĩ đi. Nếu tôi muốn giăng bẫy cô, chắc chắn tôi sẽ không chọn chỗ này.”
Sandra nghĩ ngợi. Không phải không có lý. “Vậy thì tại sao lại ở đây?” Cô hỏi người kia trong lúc vẫn nán lại trên đỉnh cầu thang. “Cô không hiểu sao? Đó là một thử thách.” Sandra bắt đầu chậm rãi bước xuống. Cô đang là một cái bia hoàn hảo, nhưng không còn lựa chọn nào khác. Cô cố tập cho mắt quen với nhá nhem và khi xuống tận cuối, cô nhìn xung quanh. “Cô cứ ở đó.” Giọng nói bảo. Sandra quay về một điểm xác định và nhìn thấy một cái bóng. Người đàn ông ngồi trên phần đầu của một cái cột trụ không biết đã bị đổ từ bao thế kỷ trước. Cô không nhìn ra khuôn mặt của ông ta nhưng cô thấy ông ta đang đội mũ. “Vậy là tôi đã vượt qua thử thách?” “Tôi còn chưa biết nữa… Tôi thấy cô trên tivi khi đang làm dấu thánh ngược. Giờ nói cho tôi biết. Cô có phải là một người trong số họ không?” Vẫn cái từ đó: họ. Sự trùng hợp với điều mà Dian Delgaudio đã viết trên giấy làm cô chợt rùng mình. “Họ là ai?” “Cô đã giải được bí ẩn những tin nhắn của tôi. Cô đã làm thế nào?” “Bạn trai tôi dạy lịch sử, là công của anh ấy.” Battista Erriaga biết là cô nói thật. Hắn đã hỏi thông tin về cô cảnh sát trong lúc tìm số điện thoại của cô. “Họ là những người tôn sùng ác quỷ?” “Cô có tin vào quỷ không, sĩ quan Vega?” “Không tin lắm. Tôi có nên không?”
Erriaga không trả lời. “Cô biết gì về câu chuyện này?” “Tôi biết có kẻ đang bảo vệ con quái vật Roma, cho dù tôi không rõ lý do.” “Cô đã nói điều này với những ông sếp của cô chưa? Họ nói sao?” “Họ không tin. Bác sĩ pháp y của chúng tôi, ông Astolfi, đã phá hoại cuộc điều tra trước khi ông ta tự vẫn, nhưng với họ đó chỉ đơn giản là một hành động điên rồ.” Erriaga phá lên cười trong giây lát. “Tôi e là cấp trên của cô đã giấu cô chuyện gì đó.” Từ lâu Sandra đã nghi ngờ điều ấy, nhưng khi nghe nó được phát ngôn rõ ràng cô thấy phát điên. “Thế là sao? Ông đang nói về chuyện gì?” “Về hình người đầu sói… Tôi chắc là cô chưa bao giờ nghe nhắc tới chuyện đó. Nó là một biểu tượng xuất hiện ở nhiều dạng nhưng luôn gắn với những vụ án mạng. Từ hơn hai mươi năm nay cảnh sát thu thập những vụ việc này một cách bí mật. Cho đến nay họ đã đếm được hai mươi ba vụ, nhưng tôi đảm bảo với cô là còn nhiều hơn thế. Vấn đề là những vụ án này chẳng có gì liên quan đến nhau ngoại trừ chi tiết hình người đầu sói. Ít hôm trước, nó được tìm thấy ở nhà của Astolfi.” “Tại sao lại phải bảo mật đến thế? Tôi không hiểu.” “Cảnh sát chưa tìm ra ai hay thứ gì đứng đằng sau hành động huyền bí này. Tuy nhiên, chỉ riêng ý tưởng đang phải đối đầu với thứ gì nằm ngoài lĩnh vực nhận thức đơn thuần cũng khiến cảnh sát phải giữ bí mật và không dám phổ biến nó.” “Nhưng ông biết lý do, phải không?”
“Sandra thân mến, cô là một cảnh sát, cô hiển nhiên cho rằng mọi người đều đứng về cái thiện và cô sẽ ngạc nhiên khi biết rằng thậm chí có cả những kẻ tôn vinh cái ác. Tôi không muốn thay đổi suy nghĩ của cô nhưng một vài kẻ cho rằng để bảo toàn giống loài của chúng ta, cần phải bảo vệ phần độc ác trong bản chất con người.” “Tôi thề là tôi vẫn không hiểu.” “Cô hãy nhìn ra xung quanh, hãy quan sát nơi này. Colosseo là một địa điểm chết chóc. Con người đáng lẽ phải chạy trốn một màn trình diễn như thế, đằng này họ lại tham gia vào nó như dự một bữa tiệc. Những vị tiền bối của chúng ta phải chăng cũng là những con quái vật? Và cô nghĩ xem bản chất con người có thay đổi gì trong ngần ấy thế kỷ không? Giờ người ta theo dõi trên truyền hình vụ con quái vật Roma với cùng một sự tò mò bệnh hoạn đó, như thể nó là một màn trình diễn trong rạp xiếc vậy.” Sandra phải công nhận sự so sánh đó không phải hoàn toàn sai lầm. “Giulio Cesare là một kẻ chinh phục khát máu, không kém gì Hitler. Nhưng ngày nay khách du lịch mua những chiếc áo phông in hình ông ấy. Một ngày, sau vài thiên niên kỷ nữa, họ cũng sẽ làm điều tương tự với tên độc tài Đức Quốc xã đó chứ? Sự thật là chúng ta nhìn lại những tội lỗi quá khứ với thái độ khoan dung và những gia đình nhỏ vẫn đến Colosseo để chụp hình tươi cười ở nơi chỉ toàn cái chết và sự tàn ác.” “Tôi đồng ý là về bản chất, loài người thờ ơ và thích nhìn người khác đau khổ, nhưng tại sao lại bảo vệ cái ác?” “Vì chiến tranh từ lâu luôn là phương thức cho sự phát triển: phá hủy để xây dựng lại đẹp đẽ hơn. Và người ta cố hoàn thiện mình ở tất cả các lĩnh vực để vượt lên trên người khác, để thống trị họ. Và để không bị đàn
áp.” “Thế quỷ thì có liên quan gì?” “Không phải quỷ, mà là tôn giáo. Mỗi tôn giáo trên thế giới đều cho rằng mình sở hữu sự thật hoàn hảo, cho dù nó thường mâu thuẫn với sự thật của những đức tin khác. Chẳng ai bận tâm đi tìm một sự thật cho tất cả, mỗi người đều tin chắc vào đức tin của chính mình. Cô không thấy vô lý khi Chúa Trời chỉ có một hay sao? Thế tại sao với những kẻ theo Satan giáo lại phải khác: Chúng không nghĩ mình sai lầm, chúng không mảy may cho rằng có gì đó sai trái trong những việc chúng làm. Chúng biện hộ những cái chết bất đắc kỳ tử y như bất cứ ai gây chiến vì đức tin. Cả người Công giáo cũng từng tiến hành các cuộc Thập tự chinh và người Hồi giáo vẫn còn ca tụng cuộc Thánh chiến.” “Những tín đồ của Satan giáo… Là họ phải không?” Erriaga đã hé lộ tầng thứ hai của bí mật. Không cần phải nói thêm gì nữa. Những kẻ nhận ra mình trong hình người đầu sói là những tín đồ của Satan giáo. Nhưng ý nghĩa của sự biểu hiện đó quá rộng và phức tạp để một người phụ nữ bình thường mặc quân phục có thể hiểu được. Đó là tầng thứ ba của bí mật và nó phải được giấu kín. Nhưng Battista Erriaga chiều lòng cô: “Phải, chúng thuộc Satan giáo.” hắn nói. Sandra thấy thất vọng. Cô thất vọng về việc phó cảnh sát trưởng Moro và có khi cả thanh tra Crespi đã giấu cô phần thông tin đó của vụ án, hạ thấp vai trò của Astolfi và phát hiện của cô về tay bác sĩ pháp y. Nhưng cô còn thất vọng hơn khi cuối cùng những kẻ bảo vệ con quái vật lại là những kẻ tôn sùng ác quỷ tầm thường. Nếu không phải vì các nạn nhân thì cô đã
cười nhạo một sự vô lý như thế. “Ông muốn gì ở tôi? Tại sao ông lại bắt tôi tới đây?” Họ đã đi tới điểm mấu chốt. Battista Erriaga có một nhiệm vụ cho cô, một việc cực kỳ nhạy cảm. Hắn hy vọng là cô sẽ không thất bại. “Tôi muốn giúp cô ngăn chặn đứa trẻ muối.”
PHẦN BỐN Cô bé ánh sáng
1 Anh đã uống vài chén vodka và thấy buồn ngủ, nhưng không muốn về nhà. Quán khá đông khách, nhưng anh là người duy nhất ngồi một mình một bàn. Anh vẫn tần ngần với cái chìa khóa ngôi biệt thự ở biển. Người bạn đã đưa cho anh mà không hề hỏi một câu. Anh chỉ cần mượn nhà anh ấy vài ngày cho đến khi tìm được nơi ở mới. Vả lại, lý do của lời đề nghị đó hiện quá rõ trên nét mặt của anh. Max chắc chắn là giữa anh và Sandra đã kết thúc. Trong túi anh vẫn còn hộp nhẫn đã bị cô từ chối. Thậm chí, cô ấy còn không thèm mở ra để xem bên trong. “Chó chết,” anh nói trước khi nốc cạn